Để đẩy lùi đại dịch, cácquốc gia trên thế giới đã có các biện pháp, chính sách, chiến lược khác nhau nhưngtất cả đều chung một mục tiêu: giảm tác động của dịch bệnh, vượt qua khó khănthá
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI ĐẠI HỌC KINH TẾ
-BÀI TẬP LỚN MÔN: KINH TẾ CHÍNH TRỊ QUỐC TẾ
Đề tài: COVID-19 DƯỚI GÓC NHÌN KINH TẾ CHÍNH TRỊ QUỐC TẾ
HÀ NỘI - 2020
Giảng viên: TS Nguyễn Thùy Anh
Th.s Hoàng Ngọc Quang Sinh viên : Khổng Thị Thu Hà
Mã sinh viên: 18050038
Mã lớp học phần: PEC3008 2
Trang 2MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 1
DANH MỤC BẢNG BIỂU 2
I ĐẶT VẤN ĐỀ 3
II PHẦN NỘI DUNG 3
1 Tổng quan về đại dịch COVID-19 3
2 Tác động của đại dịch COVID-19 đến nền kinh tế toàn cầu 4
2.1 Đối với tăng trưởng kinh tế toàn cầu 4
2.2 Khủng hoảng hàng không 5
2.3 Du lịch - Lữ hành 6
2.4 Cú sốc việc làm 7
2.5 Sụt giảm thương mại toàn cầu 9
2.6 Sản lượng sản xuất toàn cầu suy giảm 10
2.7 Gián đoạn chuỗi cung ứng toàn cầu 11
3 Cuộc chiến chống COVID-19 dưới góc nhìn kinh tế chính trị 12
3.1 Về trách nhiệm chính trị của lãnh đạo các quốc gia 12
3.2 Về xây dựng thể chế toàn cầu đối phó dịch bệnh 14
3.3 Về chủ nghĩa đa phương và hợp tác giữa các nước 15
3.4 Về xây dựng hình ảnh, vị thế quốc gia trên trường quốc tế 16
4 Bài học kinh nghiệm 17
III KẾT LUẬN 19
TÀI LIỆU THAM KHẢO 20
Trang 3DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
do virus corona 2019
Price Index
Chỉ số giá cả hàng hóa trênthị trường tự do
on Trade and Development
Diễn đàn Thương mại và Pháttriển Liên Hiệp quốc
Trang 4DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1 Bản đồ tình hình COVID-19 toàn cầu (tính đến ngày 21/05/2021) 3
Bảng 2 10 nước có số ca dương tính với COVID-19 nhiều nhất trên thế giới (tính đến ngày 21/05/2021) 4
Bảng 3 Nhu cầu của hành khách (tính theo % tăng trưởng) 5
Bảng 4 Doanh thu hành khách (theo khu vực) 5
Bảng 5 Lượng hàng hóa vận chuyển bằng đường hàng không trong tháng 3/2020 (nghìn tấn) 6
Bảng 6 Dự báo lượng khách du lịch quốc tế năm 2020 (triệu người) 7
Bảng 7 Ước tính sự suy giảm về số giờ làm việc tổng hợp (theo %) 8
Bảng 8 Tỷ lệ thất nghiệp ở Mỹ giai đoạn 2017 - 2021 8
Bảng 9 Giá trị thương mại hàng hóa toàn cầu (theo tỷ lệ tăng trưởng so với quý trước) 9
Bảng 10 Sản lượng sản xuất của các khu vực từ tháng 1/2019 đến tháng 2/2020
10
Bảng 11 Tốc độ tăng trưởng sản lượng sản xuất hàng tháng của các khu vực trên thế giới 10
Trang 5I ĐẶT VẤN ĐỀ
Bắt nguồn từ Vũ Hán (Trung Quốc) vào khoảng cuối năm 2019, đến nay, đạidịch COVID-19 đã lây lan nhanh chóng tới hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ trêntoàn thế giới Đại dịch này vẫn đang càn quét khốc liệt, gây ra nhiều hậu quả tiêucực chưa từng có tiền lệ, làm thay đổi toàn diện đời sống xã hội toàn cầu và “đảongược tiến độ phát triển của thế giới tới hàng chục năm” Để đẩy lùi đại dịch, cácquốc gia trên thế giới đã có các biện pháp, chính sách, chiến lược khác nhau nhưngtất cả đều chung một mục tiêu: giảm tác động của dịch bệnh, vượt qua khó khănthách thức, tận dụng thời cơ để sớm phục hồi, đẩy mạnh sản xuất kinh doanh vàphát triển kinh tế - xã hội Tuy nhiên, cuộc chiến của các nước chống đại dịchCOVID-19 diễn ra trong suốt hơn một năm qua cũng đặt ra nhiều vấn đề đối với đờisống cá nhân, cộng đồng, quốc gia, quốc tế trên các phương diện kinh tế, xã hội,chính trị và quan hệ quốc tế
II PHẦN NỘI DUNG
1 Tổng quan về đại dịch COVID-19
Đại dịch COVID-19, còn được gọi là đại dịch coronavirus, là một đại dịch bệnhtruyền nhiễm với tác nhân là virus SARS-CoV-2, đang diễn ra trên phạm vi toàncầu Khởi nguồn vào cuối tháng 12 năm 2019 với tâm dịch đầu tiên được ghi nhậntại thành phố Vũ Hán thuộc miền Trung Trung Quốc
Ngày 11 tháng 3 năm 2020, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ra tuyên bố gọi
"COVID-19" là "Đại dịch toàn cầu"
Tính đến ngày 21/05/2021, thế giới ghi nhận hơn 167 triệu ca mắc COVID-19với hơn 147 triệu người khỏi bệnh và hơn 3,4 triệu trường hợp tử vong ở hơn 220quốc gia và vùng lãnh thổ
Bảng 1 Bản đồ tình hình COVID-19 toàn cầu (tính đến ngày 21/05/2021)
Nguồn: Bách khoa toàn thư mở Wikipedia [2]
Trang 6Bảng 2 10 nước có số ca dương tính với COVID-19 nhiều nhất trên thế giới(tính đến ngày 21/05/2021)
Nguồn: Bách khoa toàn thư mở Wikipedia [2]
2 Tác động của đại dịch COVID-19 đến nền kinh tế toàn cầu
2.1.Đối với tăng trưởng kinh tế toàn cầu
Đầu năm 2020, giới chuyên gia từng lạc quan đưa ra dự báo về triển vọng kinh
tế thế giới Tuy nhiên, tất cả đã thay đổi khi đại dịch COVID-19 xuất hiện Sức tànphá ghê gớm của dịch COVID -19 là đòn giáng “chí mạng” vào nền kinh tế thế giới.Đại dịch trở thành “sát thủ vô hình” đẩy nền kinh tế toàn cầu vốn đang trong giaiđoạn phục hồi sa lầy vào đợt suy thoái tồi tệ nhất kể từ Chiến tranh Thế giới thứ hai.Chưa bao giờ mọi hoạt động kinh tế - xã hội từ công nghiệp, giao thông vận tải đếncác lĩnh vực dịch vụ, vui chơi giải trí kéo theo lực lượng lao động ước tính hơn 3
tỷ người đồng loạt bị ảnh hưởng Kinh tế thế giới bỗng chốc “bốc hơi” hàng nghìn
tỷ USD, kéo theo không ít thành quả gây dựng trong nhiều năm qua bị tiêu tan
Cụ thể, mức sụt giảm GDP của nền kinh tế số một thế giới - Mỹ trong quýII/2020 là 32,9% Trước đó, kinh tế Mỹ đã giảm 5% trong 3 tháng đầu năm 2020 vàchính thức rơi vào suy thoái do đại dịch COVID-19, chấm dứt chuỗi tăng trưởngkéo dài liên tục hơn 10 năm - giai đoạn tăng trưởng dài nhất trong lịch sử Mỹ
Tại châu Âu, tình hình cũng không kém phần ảm đạm khi trong quý II/2020,kinh tế Khu vực đồng tiền chung châu Âu (Eurozone) đã bị tác động mạnh bởi cuộckhủng hoảng COVID-19 với GDP giảm 12,1%, mức giảm mạnh nhất kể từ năm
1995, sau khi giảm 3,8% trong quý I/2020 do hoạt động kinh doanh đình trệ khi cácdoanh nghiệp phải đóng cửa nhằm ngăn chặn sự lây lan của dịch COVID-19
Trang 7Tại Trung Quốc, dịch bệnh đã được kiểm soát trong quý II/2020 song tác độngnghiêm trọng về kinh tế đã lộ rõ, dù nền kinh tế này được gọi là một ngoại lệ “maymắn” với dự báo tốc độ tăng trưởng đang từ 6,9% trong năm 2019 rơi xuống còn1% GDP của Trung Quốc được dự báo sẽ chỉ tăng 1,3% trong quý II/2020, sau khighi nhận mức giảm 6,8% trong quý I/2020, lần suy giảm tăng trưởng lần đầu tiên kể
từ năm 1992
2.2.Khủng hoảng hàng không
Ngành hàng không gánh chịu hậu quả nặng nề của đại dịch COVID-19 hơn cácngành công nghiệp khác bởi tính chất của nó là vận chuyển người và hàng hóa trêntoàn cầu cho mục đích du lịch, kinh doanh, thương mại
Bảng 3 Nhu cầu của hành khách (tính theo % tăng trưởng)
Nguồn: https://data.unicef.org/ [16]
Bảng 4 Doanh thu hành khách (theo khu vực)
Nguồn: https://data.unicef.org/ [16]
Trang 8Ngành hàng không trên toàn thế giới đã chuyển biến theo chiều hướng xấu điđáng kể với sự sụt giảm nhanh chóng và mạnh mẽ trong nhu cầu đi lại do các quyđịnh về xuất nhập cảnh cũng như các hạn chế đi lại nghiêm ngặt Khoảng 90% độingũ phi công, tiếp viên hàng không được tiếp đất và nhu cầu đi lại gần như bằngkhông đã đánh dấu mức giảm tồi tệ nhất trong lịch sử, vượt xa so với đại dịchSARS năm 2002 Bên cạnh nhu cầu đi lại thì lượng hàng hóa vận chuyển bằngđường hàng không cũng giảm mạnh.
Bảng 5 Lượng hàng hóa vận chuyển bằng đường hàng không trong tháng3/2020 (nghìn tấn)
Nguồn: https://data.unicef.org/ [16]
Ước tính trong tháng 3 năm 2020, lượng hàng hóa vận chuyển bằng đường hàngkhông của thế giới sụt giảm 792 nghìn tấn, trong đó khu vực châu Á - Thái BìnhDương chịu ảnh hưởng nặng nề nhất khi sụt giảm 523 nghìn tấn Tình trạng này gây
ra áp lực tài chính nặng nề lên tất cả các lĩnh vực liên quan đến hàng không Chỉtrong tháng 3/2020, các hãng hàng không ước tính lỗ 28 tỷ USD doanh thu, cáccảng hàng không, sân bay ước tính lỗ khoảng 8 tỷ USD và các doanh nghiệp cungcấp GPS vận tải lỗ khoảng 824 triệu USD
Trang 9Bảng 6 Dự báo lượng khách du lịch quốc tế năm 2020 (triệu người)
Nguồn: https://data.unicef.org/ [16]
Sau khi trải qua quá trình tăng trưởng ấn tượng từ năm 2000, đại dịchCOVID-19 đã “giáng đòn mạnh” lên hoạt động du lịch thế giới - vốn đóng góp tới3,2% GDP toàn cầu trong năm 2018 Nếu tính cả các ngành công nghiệp thứ cấpliên quan, con số đó có thể lên tới 10,4% GDP toàn cầu vào cùng giai đoạn Chỉriêng ngành du lịch của Liên minh châu Âu (EU) đã ước tính sẽ mất khoảng 1 tỷeuro (1,1 tỷ USD) doanh thu mỗi tháng do dịch COVID-19
2.4.Cú sốc việc làm
Việc các doanh nghiệp ngừng hoạt động do ảnh hưởng của đại dịch COVID-19
có tác động ngay lập tức và sâu rộng tới việc làm
Để đối phó với tình trạng gia tăng nhanh chóng về các ca dương tính vớiCOVID-19, nhiều quốc gia trên thế giới đã thực hiện phong tỏa, hạn chế đi lại, giãncách xã hội, tạm thời đóng cửa các doanh nghiệp, trường học Các biện pháp này làcần thiết nhằm ngăn chặn sự lây lan của dịch bệnh nhưng nó cũng có tác động độtngột và mạnh mẽ đến người lao động và các doanh nghiệp
Trang 10Bảng 7 Ước tính sự suy giảm về số giờ làm việc tổng hợp (theo %)
Nguồn: https://data.unicef.org/ [16]
Trong quý 2 năm 2020, tổng số giờ làm việc của người lao động trên khắp thếgiới giảm 10,5%, tương đương với 305 triệu công nhân làm việc toàn thời gian,trung bình làm việc 48 giờ/1 tuần Đây là cuộc khủng hoảng việc làm tồi tệ nhấttrong lịch sử kể từ khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc Con số này cũng vượt
xa so với cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 - 2009 Hậu quả của tìnhtrạng này là hàng triệu người lao động sẽ phải rơi vào tình trạng thất nghiệp, thiếuviệc làm, giảm giờ làm, tiền lương, và rớt xuống dưới chuẩn nghèo
Ở Mỹ, thất nghiệp đang trở thành vấn đề được quan tâm bậc nhất
Bảng 8 Tỷ lệ thất nghiệp ở Mỹ giai đoạn 2017 - 2021 (%)
Nguồn: Cục Thống kê Lao động Hoa Kỳ [13]
Theo số liệu thu thập của Cục Thống kê Lao động Hoa Kỳ, tỷ lệ thất nghiệp củaHoa Kỳ từ năm 2017 đến quý I năm 2020 luôn dao động trong khoảng 3,5 - 4,7%.Tuy nhiên, sang quý II năm 2020, do chịu ảnh hưởng tiêu cực của đại dịch
Trang 11COVID-19, tỷ lệ thất nghiệp của Hoa Kỳ tăng vọt lên tới 14,8% - cao nhất kể từcuộc Đại suy thoái Đến tháng 4 năm 2021, mặc dù tỷ lệ thất nghiệp đã thấp hơnđáng kể, nhưng vẫn còn xa mức trước đại dịch.
2.5.Sụt giảm thương mại toàn cầu
Các dự báo thương mại của UNCTAD và chỉ số giá cả hàng hóa trên thị trường
tự do cho thấy giá trị thương mại toàn cầu và giá cả đã bị ảnh hưởng tiêu cực kể từquý đầu tiên của năm 2020 bởi sự bùng phát COVID-19
Bảng 9 Giá trị thương mại hàng hóa toàn cầu (theo tỷ lệ tăng trưởng so với quýtrước)
Nguồn: https://data.unicef.org/ [16]
Giá trị thương mại toàn cầu có dấu hiệu suy giảm từ cuối năm 2019 khi nềnkinh tế toàn cầu bắt đầu chịu ảnh hưởng bởi đại dịch COVID-19 UNCTAD dự báogiá trị thương mại toàn cầu giảm 3% trong quý I/2020 Nhưng đến quý II/2020, khi
mà đại dịch bùng phát mạnh mẽ hơn trước, mức giảm theo quý của giá trị thươngmại ước tính đạt mốc 26,9% Điều này phản ánh xu hướng ngày càng xấu đi của giátrị thương mại toàn cầu nói riêng cũng như nền kinh tế trên toàn thế giới nói chung
Về chỉ số giá cả hàng hóa trên thị trường tự do (FMCPI) đã giảm 1,2% trongtháng 1/2020, 8,5% trong tháng 2 và 20,4% trong tháng 3 Nhiên liệu là nguyênnhân chính gây ra sự suy giảm này khi ghi nhận mức giảm 33,2% trong tháng 3,trong khi đó khoáng sản, thực phẩm, nông sản giảm chưa đến 4% Trong lịch sử củaFMCPI, chưa có một tháng nào mức giảm vượt quá 20%, kể cả trong cuộc khủnghoảng tài chính toàn cầu năm 2008, mức giảm tối đa hàng tháng chỉ đạt 18,6%
Trang 122.6.Sản lượng sản xuất toàn cầu suy giảm
Tăng trưởng sản xuất toàn cầu vốn đã giảm tốc vào năm 2019 do căng thẳngcủa cuộc chiến tranh thương mại Mỹ - Trung dự kiến sẽ tiếp tục suy giảm do nhữnggián đoạn kinh tế gây ra bởi COVID-19
Bảng 10 Sản lượng sản xuất của các khu vực từ tháng 1/2019 đến tháng 2/2020
Nguồn: https://data.unicef.org/ [16]
Bảng 11 Tốc độ tăng trưởng sản lượng sản xuất hàng tháng của các khu vựctrên thế giới (%)
Nguồn: https://data.unicef.org/ [16]
Trang 13Trong suốt năm 2019, ngành sản xuất thế giới đã trải qua sự sụt giảm liên tụctrong tăng trưởng sản xuất, đặc biệt là các nước có nền công nghiệp phát triển.Trong hai tháng đầu năm 2020, Trung Quốc cho thấy tăng trưởng sản lượng giảmmạnh, khoảng 21%/1 tháng Nguyên nhân được cho là do việc bắt đầu phong tỏa
Vũ Hán và các khu vực khác để kiểm soát dịch bệnh Tổng sản lượng sản xuất củathế giới cũng cho thấy sự sụt giảm mạnh gây ra chủ yếu do thị phần lớn của TrungQuốc trong sản xuất toàn cầu Đối với các khu vực phát triển khác như Bắc Mỹ,châu Âu, Đông Á, sản lượng sản xuất chưa bị tác động nhiều bởi hầu hết các quốcgia này bắt đầu hạn chế các hoạt động kinh tế từ tháng 3
Đặc biệt, ngành sản xuất ô tô có thể xem là ngành hứng chịu hậu quả nặng nề vềsản lượng sản xuất Hàng loạt các nhà máy phải tạm ngừng hoạt động để hạn chếnguy cơ lây lan dịch bệnh Theo ước tính của công ty nghiên cứu thị trường IHSMarkit, chỉ riêng tại châu Âu các nhà máy ô tô tạm thời đóng cửa bình quân khoảng
13 ngày sẽ khiến sản lượng sản xuất ô tô ở “lục địa già” giảm hơn 880.000 xe TạiBắc Mỹ, sản lượng sản xuất dự kiến giảm 478.000 xe khi các nhà máy tạm ngừnghoạt động trong khoảng 6 ngày Trong khi đó, với thông tin đóng cửa lên đến nửatháng của các nhà máy xe ô tô ở Brazil và Argentina, sản lượng xe ô tô tại hai quốcgia Nam Mỹ này sẽ giảm khoảng 80.000 xe Trước đó, tại Trung Quốc - một trong
số “công xưởng” sản xuất, tiêu thụ xe ô tô lớn nhất thế giới, việc dịch bệnhCOVID-19 bùng phát đã khiến một loạt các nhà máy sản xuất ô tô tạm dừng hoạtđộng ít nhất từ 7 - 15 ngày sẽ khiến sản lượng sản xuất ô tô tại Trung Quốc giảm350.000 xe trong quý I/2020 Dựa trên những ảnh hưởng của đại dịch COVID-19đang hoành hành và ảnh hưởng đến ngành ô tô, công ty nghiên cứu thị trường IHSMarkit dự báo, sản lượng ô tô toàn cầu năm 2020 sẽ giảm khoảng 1,44 triệu xe
2.7.Gián đoạn chuỗi cung ứng toàn cầu
Đại dịch COVID-19 đã gây ra sự gián đoạn chưa từng có của chuỗi cung ứngtoàn cầu Mạng lưới sản xuất toàn cầu đang bị đứt gãy trên quy mô lớn nhất từ trướctới nay Một mặt, việc giảm đột ngột sự dịch chuyển vốn, hàng hóa, nhân lực vàdịch vụ đều góp phần vào làm đứt gãy các chuỗi giá trị toàn cầu (GVC) Mặt khác,Trung Quốc, cùng với Nhật Bản, Hoa Kỳ và Liên minh Châu Âu - trung tâm cốt lõicủa mạng lưới sản xuất toàn cầu - đều bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi đại dịch, đặcbiệt là Trung Quốc Bản đồ chuỗi cung ứng cho thấy 1.000 công ty hay nhà cungứng lớn nhất trên thế giới sở hữu hơn 12.000 cơ sở (nhà máy, nhà kho và các hoạtđộng khác) tại các khu vực phải cách ly do COVID-19, hầu hết ở Trung Quốc Mức
Trang 14tập trung cao về chuỗi cung ứng này giải thích cho mức độ nghiêm trọng của sự đứtgãy của chuỗi cung ứng toàn cầu.
Tình trạng thiếu nguyên vật liệu, thành phẩm tại các khu vực bị ảnh hưởngkhiến thiếu hụt nguồn cung, gián đoạn chuỗi cung ứng nặng nề Cụ thể, ngành côngnghiệp ô tô đã chịu thiệt hại nặng nề do thiếu phụ tùng, do nhiều bộ phận được sảnxuất tại Vũ Hán, một trong những trung tâm sản xuất phụ tùng ô tô lớn của thế giới.Nhiều nhà sản xuất ô tô trên thế giới đang có nhà máy sản xuất đặt ở Trung Quốchiện đang phải rơi vào cảnh lao đao như Ford, Tesla, PSA Group, Honda, Nissan,
do tạm ngừng sản xuất
Tổng thống Mỹ Joe Biden cũng có những phát biểu về tình trạng thiếu hụtnguồn cung chip bán dẫn ở Mỹ: “Gần đây chúng ta đã chứng kiến tình trạng thiếuhụt chip máy tính Tình trạng này dẫn đến sự chậm trễ trong ngành sản xuất xe ô tô,hậu quả là công nhân Mỹ bị giảm giờ làm việc” Phát ngôn của ông Joe Biden chothấy tình trạng ùn tắc nguồn cung bộ vi xử lý gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến côngnghiệp Mỹ Các doanh nghiệp, nhà máy đang đối mặt với tình trạng thiếu hụt chấtbán dẫn trầm trọng gây ra trì hoãn trong sản xuất, vận chuyển hàng hóa và đe dọanguy cơ tăng giá cho các mặt hàng Các nhà sản xuất ô tô đã phải cắt giảm số lượngđơn đặt hàng trong khi các công ty công nghệ gần như tê liệt do không có chip.Ford Motor gần đây cho biết tình trạng thiếu hụt bộ vi xử lý có thể làm giảm 20%hoạt động sản xuất của công ty trong quý đầu năm Trong khi đó General Motorsthông báo buộc phải cắt giảm sản lượng ở các nhà máy tại Mỹ, Canada và Mexico
và sẽ đánh giá lại kế hoạch sản xuất vào giữa tháng 3/2021
3 Cuộc chiến chống COVID-19 dưới góc nhìn kinh tế chính trị
3.1.Về trách nhiệm chính trị của lãnh đạo các quốc gia
Có một thực tế đáng lo ngại là khi đại dịch COVID-19 bùng phát thì phần lớncác nước rơi vào tình trạng bị động, lúng túng Từ đó đặt ra câu hỏi lớn về tráchnhiệm chính trị của lãnh đạo các quốc gia Tổng Giám đốc Tổ chức Y tế Thế giới(WHO) nhận xét: “Các quốc gia không có sự chuẩn bị trong ứng phó dịch bệnh”.Hay ông Arnaud Dajean - nhà lập pháp châu Âu cũng cho rằng: “Chúng ta khôngđược vũ trang đầy đủ để chống lại dịch COVID-19”
Nguyên nhân của tình trạng bị động trên được cho là xuất phát từ các lý dochính sau:
Sự chủ quan của lãnh đạo nhiều quốc gia Ví dụ như Cựu Tổng thống MỹDonald Trump đã có nhiều phát ngôn sai lầm liên quan đến dịch bệnh, điển hình