1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Nhận thức của sinh viên đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh về vấn đề môi trường

152 2,1K 16
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nhận thức của sinh viên đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh về vấn đề môi trường
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế TP.HCM
Chuyên ngành Khoa Học Kinh Tế
Thể loại Công trình dự thi
Năm xuất bản 2011
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 152
Dung lượng 3,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vấn đề xem xét những nhân tố chính tác động tới nhận thức của con người cũng như câu hỏi sinh viên nhìn nhận như thế nào về các vấn đề môi trường hiện nay đã được một số nhà nghiên cứu t

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

-

CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN

Trang 2

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1

1.1 Lý do chọn đề tài 1

1.1.1 Mối quan hệ giữa môi trường và phát triển kinh tế 1

1.1.2 Tầm quan trọng của sinh viên và nhận thức của sinh viên đối với phát triển bền vững 5

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 6

1.3 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 7

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

1.5 Phương pháp nghiên cứu 8

1.6 Kết cấu của nghiên cứu 8

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 10

2.1 Môi trường và các vấn đề môi trường trên thế giới và ở Việt Nam 10

2.1.1 Môi trường 10

2.1.2 Các vấn đề môi trường hiện nay 11

2.1.2.1 Trên thế giới 11

2.1.2.2 Ở Việt Nam 15

2.1.2.2.1 Môi trường đất 15

2.1.2.2.2 Môi trường nước 16

2.1.2.2.3 Môi trường không khí 17

2.1.2.2.4 Chất thải rắn 17

2.1.2.2.5 Đa dạng sinh học 18

2.2 Nhận thức về vấn đề môi trường 19

2.2.1 Nhận thức 19

2.2.2 Vì sao cần đo lường nhận thức về các vấn đề môi trường 20

2.2.3 Sự gia tăng nhận thức về môi trường trên thế giới 21

2.3 Các nhân tố tác động tới nhận thức về vấn đề môi trường 24

Trang 3

2.3.1 Các nghiên cứu trước đây 24

2.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới nhận thức của sinh viên TP.HCM về vấn đề môi trường 25

2.3.2.1 Tổng quan TP.HCM 26

2.3.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới nhận thức của sinh viên TP.HCM về vấn đề môi trường 27

2.3.2.2.1 Các nhân tố tác động tới nhận thức của sinh viên 27

2.3.2.2.2 Các vấn đề môi trường được xem xét 28

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 29

CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 30

3.1 Thiết kế nghiên cứu 30

3.1.1 Nghiên cứu định tính 30

3.1.2 Nghiên cứu định lượng 33

3.1.2.1 Mẫu nghiên cứu 33

3.1.2.2 Phương pháp phân tích dữ liệu 34

3.2 Thiết kế bảng câu hỏi và xây dựng thang đo 34

3.2.1 Thiết kế bảng câu hỏi 34

3.2.2 Xây dựng các thang đo 35

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 39

CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 40

4.1 Mô tả mẫu nghiên cứu 40

4.2 Kết quả đo lường nhận thức của sinh viên theo từng vấn đề môi trường và các yếu tố tác động đến nhận thức sinh viên 43

4.3 Phân tích nhân tố khám phá (EFA) 55

4.3.1 Mô tả thang đo lường và số biến quan sát 55

4.3.2 Kết quả phân tích nhân tố khám phá (EFA) 56

4.3.3 Điều chỉnh các giả thiết 58

Trang 4

4.3.4 Phân tích hồi quy 58

4.4 Kiểm định ANOVA, T-test với các thang đo lý thuyết 59

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN 62

5.1 Kết quả chính và đóng góp của đề tài nghiên cứu 63

5.2 Những hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 64 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 1: BẢNG CÂU HỎI NGHIÊN CỨU CHÍNH THỨC

PHỤ LỤC 2: XÂY DỰNG CÁC THANG ĐO

PHỤ LỤC 3: KẾT QUẢ THỐNG KÊ MÔ TẢ

- Bảng Thống kê mô tả

- Bảng Tần suất

PHỤ LỤC 4: KẾT QUẢ KIỂM ĐỊNH CỦA CÁC NHÂN TỐ

- Bảng 1: Kiểm định ANOVA với yếu tố trường

- Bảng 2: Kiểm định T-Test với yếu tố giới tính

- Bảng 3: Kiểm định ANOVA với yếu tố năm học của sinh viên

- Bảng 4: Kiểm định ANOVA với yếu tố nơi ở

- Bảng 5: Kiểm định ANOVA với yếu tố quê quán

- Bảng 6: Kiểm định ANOVA với yếu tố chi tiêu

- Bảng 7: Kiểm định T-Test với yếu tố vùng miền

PHỤ LỤC 5: KẾT QUẢ PHÂN TÍCH NHÂN TỐ KHÁM PHÁ EFA

PHỤ LỤC 6: KẾT QUẢ PHÂN TÍCH HỒI QUY

- Bảng 1: Kết quả phân tích biến phụ thuộc là nhận thức về môi trường chung

- Bảng 2: Kết quả phân tích biến phụ thuộc là nhận thức về không khí

- Bảng 3: Kết quả phân tích biến phụ thuộc là nhận thức về tiếng ồn

- Bảng 4: Kết quả phân tích biến phụ thuộc là nhận thức về rác thải

Trang 5

- Bảng 5: Kết quả phân tích biến phụ thuộc là nhận thức về nước

- Bảng 6: Kết quả phân tích biến phụ thuộc là nhận thức về rừng

- Bảng 7: Kết quả phân tích biến phụ thuộc là nhận thức về đất đai

Trang 6

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

Đây là chương đầu tiên của đề tài nghiên cứu: Giới thiệu tổng quát về lĩnh vực nghiên cứu và lý do chọn đề tài, sau đó sẽ xác định mục tiêu, phạm vi và phương pháp nghiên cứu để thực hiện đề tài nghiên cứu, cuối cùng là ý nghĩa của việc nghiên cứu và kết cấu của đề tài nghiên cứu này

1.1 Lý do chọn đề tài

1.1.1 Mối quan hệ giữa môi trường và phát triển kinh tế

Môi trường tự nhiên có vai trò cực kỳ quan trọng: Môi trường tự nhiên vừa là không gian sống cho con người, cung cấp cho ta cảnh đẹp để giải trí, làm cho cuộc sống con người thêm phong phú , vừa cung cấp cho con người các loại tài nguyên khoáng sản cần cho quá trình sản xuất, tiêu dùng và là nơi chứa đựng, hấp thụ các chất thải từ nền kinh tế (Giáo trình Kinh Tế Phát Triển, chủ biên: Nguyễn Trọng Hoài) Mối quan hệ giữa môi trường và phát triển kinh tế là mối quan hệ cộng sinh, cùng tồn tại và phát triển, được thể hiện qua sơ đồ sau:

Nền kinh tế Môi trường

(1) Dòng chất thải

(2) Dòng tài nguyên thiên nhiên

Nếu dòng (1) và dòng (2) quá nhỏ, con người không tận dụng được các nguồn lực

mà môi trường mang lại, tăng trưởng kinh tế sẽ không đạt được đến mức tiềm năng

Ngược lại, nếu dòng (1) và dòng (2) quá lớn, nhu cầu của con người vượt quá khả năng cung cấp và hấp thụ của môi trường sẽ gây ra hiện tượng ô nhiễm môi trường

và cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên

*Liên hệ trên thế giới: Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đã mang lại những tiến

bộ vượt bậc, những thành tựu kỳ diệu và những thay đổi to lớn trong cuộc sống

(1) (2)

Trang 7

con người: năng suất lao động tăng cao, mức sống và chất lượng cuộc sống của con người ngày càng được nâng cao Tuy nhiên, nó cũng gây áp lực không nhỏ tới môi trường:

+ Những nguồn năng lượng mới, đặc biệt là năng lượng hạt nhân đã mang đến những lợi ích to lớn nhưng cũng tiểm ẩn rất nhiều nguy cơ về chiến tranh hạt nhân hay thảm họa hạt nhân Trong lịch sử, nhân loại đã chứng kiến sức mạnh hủy diệt của bom hạt nhân cũng như hậu quả của các thảm họa hạt nhân (thảm hoạ hạt nhân Chernobyl năm 1986 tại Liên Xô cũ và mới đây là thảm họa hạt nhân Fukushima năm 2011 tại Nhật Bản)

+ Hiện tượng trái đất nóng dần lên, biến đổi khí hậu toàn cầu, sự suy giảm tính đa dạng sinh học trên thế giới và sự suy giảm tầng Ozôn Tần suất thiên tai ngày càng tăng: động đất, sóng thần, hạn hán, cháy rừng, lũ lụt ngày càng tăng

cả về số lượng lẫn mức độ thiệt hại

+ Xã hội ngày càng phát triển, y học ngày càng có thêm nhiều những thành tựu vượt bậc Tuy nhiên, những bệnh tật phát sinh không giảm mà ngày càng xuất hiện thêm, đặc biệt là những căn bệnh mới, nguy hiểm và phức tạp như cúm gia cầm H5N1, cúm H1N1, bệnh SARS, dịch E coli Các bệnh ung thư, các bệnh về

da, đường hô hấp xuất hiện ngày càng nhiều cùng với việc suy giảm chất lượng môi trường sống

Bên cạnh đó, cùng với việc gia tăng dân số quá nhanh, từ 2 tỷ năm 1950 tăng lến đến 7 tỷ năm 2011 (dự báo của Cơ Quan Dân Số của Liên Hiệp Quốc) đã gây sức ép rất lớn lên môi trường tự nhiên do khai thác quá mức các nguồn tài nguyên để phục vụ cho các nhu cầu về nhà ở, sản xuất lương thực, thực phẩm, sản xuất công nghiệp và tạo ra các nguồn chất thải vượt quá khả năng hấp thụ của môi trường tự nhiên trong các khu vực đô thị, khu sản xuất nông nghiệp, công nghiệp Sự gia tăng dân số đô thị và sự hình thành các thành phố lớn - siêu đô thị làm cho môi trường khu vực đô thị có nguy cơ bị suy thoái nghiêm trọng Nguồn

Trang 8

cung cấp nước sạch, nhà ở, cây xanh không đáp ứng kịp cho sự phát triển dân cư

Ô nhiễm môi trường không khí, nước, đất tăng lên

Ngoài ra, ở một số quốc gia vì lợi ích của quốc gia hoặc vì mục tiêu phát triển kinh tế ở các nước đang bắt đầu quá trình tăng trưởng mà xem nhẹ hoặc phải chấp nhận suy thoái môi trường trong một giai đoạn nhất định (đường cong Kuznet thể hiện mối quan hệ giữa môi trường và phát triển kinh tế trong dài hạn, Ngân Hàng Thế Giới World Bank, năm 1992) Khai hoang đất bằng cách chặt bỏ

và đốt rừng để phát triển nông nghiệp hoặc cho các mục đích phát triển khác là một hành động mà nhiều quốc gia đang phát triển đã áp dụng Nghiên cứu của Ngân Hàng Thế giới (WB) năm 2010 về rừng Amazon ở Nam Mỹ đã cảnh báo rằng khu rừng nhiệt đới được coi là lá phổi của hành tinh này hiện đã mất 17-18% diện tích và có thể mất 2/3 diện tích trong vòng 65 năm nữa nếu tốc độ tàn phá rừng tiếp tục như hiện nay Sự hình thành các con đập thủy điện lớn trong những năm gần đây (đập Tam Hiệp trên sông Dương Tử, đập Itaipu ở biên giới Brazil và Paraguay, đập thủy điện Monte Belo trên sông Amazon đang được xây dựng) không những làm giảm diện tích rừng, dịch chuyển dân cư mà còn làm suy giảm nghiêm trọng môi trường sinh thái Một số doanh nghiệp vì mục tiêu lợi nhuận, một số cá nhân vì lợi ích cá nhân mà có những hành động ảnh hưởng không tốt đến môi trường

Phát triển kinh tế, nâng cao phúc lợi xã hội cho người dân là quyền hợp pháp của một quốc gia có chủ quyền Tuy nhiên, phát triển kinh tế có thể đem đến những tác động tiêu cực sâu rộng đến môi trường tự nhiên và con người nếu những biện pháp bảo vệ thích hợp không được thực hiện Điều này áp dụng cho cả các quốc gia phát triển và đang phát triển Hệ quả của họat động kinh tế không xem xét đến vấn đề bảo vệ môi trường có thể dẫn đến những khoản chi phí khổng

lồ cho môi trường và xã hội, tình trạng ô nhiễm môi trường và cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên mà các thế hệ sau phải gánh chịu

Trang 9

*Liên hệ ở Việt Nam: Ở nước ta, sau 25 năm đổi mới, chúng ta đã thu được

những thành quả hết sức to lớn: từ một nước thu nhập thấp, Việt Nam đã trở thành một nước có thu nhập trung bình (2010), tốc độ tăng trưởng kinh tế luôn ở mức cao (7-8%), mức sống của người dân được nâng cao Sự tăng trưởng nhanh chóng này cùng với quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa cũng như đầu tư rất lớn từ khu vực công vào phát triển cơ sở hạ tầng tạo nên áp lực rất lớn đối với tính bền vững và phát triển kinh tế của Việt Nam Theo một nghiên cứu của Đại Học Yale (Thụy Sỹ, 2006) nhằm xếp hạng môi trường, Việt Nam nằm ở vị trí thấp nhất trong khu vực Đông Nam Á với 8 quốc gia được xem xét

Đặc biệt, các đô thị lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM),

đã gặp phải nhiều vấn đề môi trường ngày càng nghiêm trọng, do các hoạt động sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải và sinh hoạt gây ra Hà Nội

và TP.HCM nằm trong danh sách 6 thành phố ô nhiễm không khí nhất thế giới (Bảng Tổng Kết Môi Trường Toàn Cầu do Liên Hiệp Quốc công bố năm 2007) Hơn 77% dân số Việt Nam sống trong phạm vi 100 km từ bờ biển (Báo cáo của Ngân Hàng Phát Triển Châu Á năm 2009) Do đó, Việt Nam là một trong những quốc gia bị ảnh hưởng nhiều nhất trên toàn cầu khi mực nước biển dâng cao do tác động của biến đổi khí hậu Trên 12% bờ biển của Việt Nam sẽ bị ngập sâu dưới mực nước biển 1 mét Đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng là những vùng trũng nên bị ảnh hưởng nhiều nhất khi xảy ra ngập lụt, xâm nhập mặn

và các hiện tượng thời tiết xấu (Báo cáo về thay đổi khí hậu của Ngân hàng Thế giới năm 2007) Báo cáo mới nhất về các rủi ro về khí hậu và các biện pháp thích ứng tại các siêu đô thị ven biển của Châu Á đến năm 2050 (Diễn đàn Châu Á Thái Bình Dương về biến đổi khí hậu năm 2010) cũng chỉ ra rằng TP.HCM, Bangkok,

và Manila đều là những siêu đô thị phải đối mặt với những rủi ro liên quan đến khí hậu như mực nước biển dâng cao, dự đoán có đến 60% cư dân TP.HCM sẽ chịu ảnh hưởng từ việc mực nước biển dâng cao vào năm 2050

Trang 10

TP.HCM là đô thị phát triển nhất của Việt Nam, là trung tâm kinh tế, văn hoá, giáo dục, khoa học kỹ thuật và là đầu mối giao thông quan trọng nhất của Việt Nam Tốc độ tăng trưởng GDP của thành phố luôn ở mức cao (10-12%/năm), mức thu nhập bình quân đầu người cũng gia tăng nhanh (GDP bình quân đầu người năm 2010 ước 2.800 USD) (Đại hội Đại biểu Đảng bộ TP.HCM lần thứ IX, nhiệm kỳ 2010-2015) Là một trong hai trung tâm giáo dục lớn nhất Việt Nam, thành phố là nơi tập trung sinh viên từ mọi miền đất nước từ Bắc vào Nam Số lượng sinh viên đaị học và cao đẳng năm 2009 khoảng 430.000 sinh viên, đứng thứ 2 cả nước sau Thành phố Hà Nội

Với tốc độ gia tăng dân số quá nhanh, cơ sở hạ tầng chưa kịp quy hoạch nâng cấp tổng thể, ý thức một số người dân lại quá kém trong nhận thức và bảo vệ môi trường chung Ngoài ra, TP.HCM còn chịu tác động mạnh của hiện tượng biến đổi khí hậu Do đó, TP.HCM hiện nay đang phải đối mặt với vấn đề ô nhiễm môi trường rất lớn, đặc biệt là các vấn đề ô nhiễm không khí, nguồn nước, tiếng ồn

vệ môi trường và phát triển bền vững: các hội nghị về biến đổi khí hậu của Liên Hiệp Quốc như Copenhagen, Đan Mạch hay Cancun, Mexico ;các nỗ lực của

Trang 11

chính phủ các nước thông qua các chính sách, luật pháp về bảo vệ môi trường và

sử dụng các nguồn năng lượng sạch như NewZealand, Costarica, Iceland, Áo, Thụy Điển, Đan Mạch, Hà Lan, Singapore…cho thấy sự quan tâm của chính phủ

và người dân các nước về các vấn đề môi trường hiện nay Ở nhiều nước, các chương trình giáo dục đều có giảng dạy các môn học về môi trường và tầm quan trọng của môi trường Đồng thời, giáo dục về ý thức bảo vệ môi trường cho thế hệ trẻ, đặc biệt là học sinh - sinh viên cũng được gia đình và xã hội quan tâm rất nhiều

Sinh viên Đại học (ĐH) là tầng lớp trí thức cao, được giáo dục tốt, là thế hệ dẫn đầu để tiếp thu trình độ khoa học kỹ thuật tiên tiến để thực hiên mục tiêu công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước Có thể nói tầng lớp trí thức nói chung, hay sinh viên ĐH nói riêng chính là thế hệ tương lai của đất nước, những người sẽ lãnh đạo đất nước Do đó, nhận thức và hành động của sinh viên, đặc biệt là nhận thức và hành động về môi trường của sinh viên là điều đặc biệt quan trọng đối với việc phát triển kinh tế bền vững của đất nước Vấn đề đặt ra là sinh viên ĐH TP.HCM

có nhận thức như thế nào về những vấn đề môi trường hiện nay và những nhân tố chính nào ảnh hưởng tới nhận thức của sinh viên về vấn đề môi trường Vấn đề xem xét những nhân tố chính tác động tới nhận thức của con người cũng như câu hỏi sinh viên nhìn nhận như thế nào về các vấn đề môi trường hiện nay đã được một số nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm và tập trung nghiên cứu trong những năm gần đây Tuy nhiên, đối với vấn đề xem xét những nhân tố chính ảnh hưởng tới nhận thức của sinh viên ĐH, thế hệ tương lai của đất nước thì chưa có nghiên cứu nào, đặc biệt là ở Việt Nam

Chính vì lý do đó, chúng tôi đã chọn đề tài nghiên cứu khoa học “Nhận thức của sinh viên ĐH TP.HCM về vấn đề môi trường”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu được thực hiện để hoàn thành hai mục tiêu sau:

Trang 12

+ Đo lường được nhận thức của sinh viên ĐH TP.HCM

+ Nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng tới nhận thức của sinh viên ĐH TP.HCM

1.3 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Như đã đề cập trên đây, nhận thức của sinh viên ĐH TP.HCM về các vấn

đề môi trường và những nhân tố chính ảnh hưởng tới nhận thức của sinh viên về vấn đề môi trường trong bối cảnh thực tiễn ở Việt Nam sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về nhận thức của sinh viên ĐH, từ đó giúp những nhà nghiên cứu sau tiếp tục thực hiện những nghiên cứu về hành động của sinh viên trong hoạt động bảo vệ môi trường cũng như giúp các nhà hoạch định chính sách về giáo dục hiểu rõ về vấn đề nhận thức và có những chương trình giáo dục nhằm nâng cao nhận thức của học sinh – sinh viên

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: những nhân tố chính tác động đến nhận thức của

sinh viên ĐH TP.HCM: nhóm ngành học, năm học của sinh viên, giới tính, quê quán, vùng miền, nơi ở hiện tại, chi tiêu trong tháng; và nhận thức của sinh viên về các vấn đề môi trường hiện nay: môi trường chung, không khí, nguồn nước, rác thải, tiếng ồn, đất đai, rừng và biến đổi khí hậu

Phạm vi: TP.HCM là thành phố có số lượng sinh viên đứng thứ 2 cả nước

(khoảng 430.000 sinh viên ĐH và Cao đẳng, Cục thống kê TP.HCM 2009) sau Thành phố Hà Nội (gần 540.000 sinh viên ĐH và Cao đẳng, Thành phố Hà Nội 2009) Sinh viên TP.HCM tập trung từ tất cả các vùng miền trên đất nước, có kiến thức tốt và năng động Phạm vi trong bài nghiên cứu bao gồm sinh viên của 9 trường ĐH trong khu vực TP.HCM bao gồm các nhóm ngành kinh tế, kỹ thuật, sư phạm, văn hóa-nghệ thuật, nông lâm, chính trị, y dược và khoa học xã hội: ĐH Kinh tế TP.HCM, ĐH Ngoại Thương cơ sở TP.HCM, ĐH Bách Khoa TP.HCM,

ĐH Sư Phạm TP.HCM, ĐH Kiến Trúc TP.HCM, ĐH Nông Lâm TP.HCM, Học

Trang 13

Viện Hành Chính Quốc gia, ĐH Khoa Học Tự Nhiên TP.HCM , ĐH Y Dược TP.HCM

1.5 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành thông qua hai bước chính: (1) nghiên cứu định tính và (2) nghiên cứu định lượng

Nghiên cứu định tính dựa trên các thông tin thứ cấp từ các nghiên cứu có liên quan, các tài liệu chuyên ngành, sách báo, internet và dùng phương pháp chuyên gia để xác định các biến quan sát dùng để đo lường các khái niệm nghiên cứu, từ đó xây dựng bảng câu hỏi

Nghiên cứu định lượng thông qua sử dụng công cụ SPSS, thực hiện phân tích dữ liệu thông qua các công cụ như thống kê mô tả, bảng tần số, đồ thị, kiểm định bằng T-test, ANOVA, phân tích nhân tố khám phá EFA

1.6 Kết cấu của nghiên cứu

Phần tóm tắt đề tài nghiên cứu:

Chương 1: Giới thiệu tổng quát về lĩnh vực nghiên cứu và lý do chọn đề tài, sau đó sẽ xác định mục tiêu, phạm vi và phương pháp nghiên cứu để thực hiện đề tài nghiên cứu, cuối cùng là ý nghĩa của việc nghiên cứu và kết cấu của đề tài nghiên cứu

Chương 2: Trình bày những khái niệm cơ bản về các đối tượng nghiên cứu của đề tài và giới thiệu các mô hình cùng với các kết quả của những bài nghiên cứu trước đây trên thế giới từ đó đưa ra những giả thiết ban đầu để xây dựng mô hình đo lường nhận thức của sinh viên ĐH TP.HCM về vấn đề môi trường

Chương 3: Trình bày chi tiết hơn về phương pháp nghiên cứu, quy trình nghiên cứu, và các thang đo để đo lường các khái niệm nhằm kiểm định mô hình nghiên cứu Chương 3 gồm 2 phần chính: (1) thiết kế nghiên cứu, (2) phương pháp

xử lý số liệu

Trang 14

Chương 4: Trình bày kết quả đo lường nhận thức và kiểm định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến nhận thức của sinh viên về vấn đề môi trường Nội dung của chương gồm 3 phần chính: Một là, mô tả tổng quát mẫu nghiên cứu Hai

là, thống kê mô tả nhận thức của sinh viên về môi trường và kết quả kiểm định mối quan hệ giữa các biến nhân tố với mức độ nhận thức về môi trường của sinh viên, nhận xét và phân tích dựa trên kết quả kiểm định trên Cuối cùng là kết quả kiểm định các thang đo nhận thức và rút ra kết luận

Chương 5: Trình bày kết quả chính và đóng góp của nghiên cứu này, những hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo

Trang 15

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

Chương 1 đã giới thiệu tổng quan về ý nghĩa, lý do chọn đề tài, mục tiêu, đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu Chương 2 sẽ trình bày những khái niệm cơ bản về các đối tượng nghiên cứu của đề tài và giới thiệu các mô hình cùng với các kết quả của những bài nghiên cứu trước đây trên thế giới về vấn đề này Dựa vào đó, phân tích so sánh đặc trưng kinh tế - xã hội Việt Nam, đưa ra những giả thiết ban đầu để xây dựng mô hình đo lường nhận thức của sinh viên TP.HCM về vấn đề môi trường, và xác định các nhân tố có thể tác động đến nhận thức của sinh viên, xây dựng cơ sở lý luận của thang đo nhận thức

2.1 Môi trường và các vấn đề môi trường trên thế giới và ở Việt Nam

2.1.1 Môi trường

Theo Điều 1, Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam: Môi trường tự nhiên bao gồm

các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hoá học, sinh học, tồn tại ngoài ý muốn của con

người, nhưng cũng ít nhiều chịu tác động của con người Đó là ánh sáng mặt trời, núi sông, biển cả, không khí, động, thực vật, đất, nước Môi trường tự nhiên cho ta không khí để thở, đất để xây dựng nhà cửa, trồng cấy, chăn nuôi, cung cấp cho con người các loại tài nguyên khoáng sản cần cho sản xuất, tiêu thụ và là nơi chứa đựng, đồng hoá các chất thải, cung cấp cho ta cảnh đẹp để giải trí, làm cho cuộc sống con người thêm phong phú

Theo định nghĩa của UNESCO (1981): Trong sinh vật học, môi trường chính là tổ

hợp của các yếu tố khí hậu, sinh thái học, xã hội và thổ nhưỡng tác động lên cơ thể sống

và xác định các hình thức sinh tồn của chúng Vì thế, môi trường bao gồm tất cả mọi thứ

mà có thể có ảnh hưởng trực tiếp đến sự trao đổi chất hay các hành vi của các cơ thể sống hay các loài, bao gồm ánh sáng, không khí, nước, đất và các cơ thể sống khác

Theo nhóm nghiên cứu: Môi trường là không gian sống của tất cả các sinh vật, trong

đó có con người Trong quá trình tồn tại và phát triển con người có các nhu cầu thiết yếu

về không khí, nước, nhà ở cũng như các hoạt động vui chơi giải trí, các tài nguyên thiên

Trang 16

nhiên như đất đá, tre nứa, nguyên nhiên liệu, sinh vật… phục vụ cho những hoạt động sống của con người, tất cả đều được cung cấp một các gián tiếp hoặc trực tiếp từ môi trường

2.1.2 Các vấn đề môi trường hiện nay

2.1.2.1 Trên thế giới

Con người thường nhận được rất nhiều lợi ích từ môi trường để cung cấp những nhu cầu cần thiết và môi trường thường được sử dụng để mở rộng môi trường sống và phát triển chất lượng cuộc sống Một rắc rối con người đang phải đối mặt là thế giới đang chứng kiến sự suy thoái của môi trường bởi chính sự gia tăng dân số và hoạt động của con người, có thể gây ra những thảm họa mà thế hệ tương lai phải gánh chịu

Hiện tượng trái đất nóng dần lên, hiện tượng băng tan và biến đổi khí hậu toàn cầu là những thách thức lớn nhất mà loài người phải đương đầu trong những năm gần đây Cùng với đó là sự suy giảm tính đa dạng sinh học trên thế giới và sự suy giảm tầng Ozôn Tần suất thiên tai ngày càng tăng: động đất, sóng thần, hạn hán, cháy rừng, lũ lụt ngày càng tăng cả về số lượng lẫn mức độ thiệt hại:

+ Thảm họa động đất, sóng thần xảy ra tại đông bắc Nhật Bản ngày 11.3 vừa qua khiến cho nước này thiệt hại ước tính lên đến 235 tỉ USD, tương đương 4% GDP (Báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB) ngày 21/02/2011), và theo ước tính của lực lượng cảnh sát Nhật Bản, số người thiệt mạng trong thảm hoạ lên đến 18.000 người

+ Năm 2010 đã khẳng định biến đổi khí hậu đi kèm với hàng loạt các thiên tai, thảm họa tự nhiên không còn là tương lai trừu tượng mà đang xảy ra ở từng quốc gia và từng khu vực Những tháng đầu năm, hạn hán nghiêm trọng đã khiến mực nước sông Mê Kông giảm xuống mức thấp nhất trong gần 20 năm qua, làm đình trệ các hoạt động giao thông trên tuyến đường thủy quan trọng của Châu Á, ảnh hưởng nghiêm trọng đến kế mưu sinh của 65 triệu người ở 6 quốc gia nơi dòng sông này chạy qua Sang đến mùa hè, tình trạng nắng nóng và khô hạn kéo dài ở mức kỷ lục đã khiến nước Nga phải trải qua một đợt cháy rừng trên diện rộng Từ cuối tháng 6/2010, nhiệt độ tại nhiều vùng của Nga

Trang 17

đã lên đến mức 38-400

C Kỷ lục tại vùng Nga - Châu Á vượt hơn 420C vào ngày 25/6; vào ngày 11/7, một kỷ lục được ghi nhận tại khu vực nước Nga - Châu Âu là trên 440C Thiệt hại được cho biết lên đến chừng 15 tỷ USD

+ Hiện nay, bề mặt băng Bắc Cực đạt đến mức cực tiểu vào mùa hè, với diện tích 4,6 triệu km2 Diện tích băng Bắc cực đạt đến mức nhỏ nhất vào tháng 9 năm 2007, với khoảng 4,2 triệu km2 Nếu so sánh diện tích băng năm nay với diện tích băng trung bình

từ năm 1979 đến năm 2000, đã có khoảng 2 triệu km2 bị mất, tương đương với diện tích nước Pháp Theo nhà nghiên cứu thuộc ĐH Louvain, các mô hình dự đoán hiện nay cho thấy, băng Bắc cực sẽ biến mất vào khoảng giữa năm 2030 và 2100

Thế giới càng phát triển, mức sống của người dân càng được nâng cao thì nhu cầu về các nguồn năng lượng càng lớn Trong những năm gần đây, các hoạt động thăm dò và khai thác diễn ra ngày càng mạnh mẽ và mở rộng ra các vùng khó khai thác trước đây (dưới đáy biển, ở các vùng cực…) làm cho các vấn đề môi trường ngày càng nghiêm trọng Tuy nhiên, các nguồn dự trữ tài nguyên của trái đất không phải là vô tận (dự báo đến hết thế kỉ 21, với tình trạng khai thác năng lượng quá mức như hiện nay sẽ làm cạn kiệt lượng dự trữ nguồn năng lượng trên trái đất)

Khai hoang đất bằng cách chặt bỏ và đốt rừng để phát triển nông nghiệp hoặc cho các mục đích phát triển khác là một hành động mà nhiều quốc gia đang phát triển đã áp dụng Các khu rừng nguyên sinh trên thế giới đã suy giảm mạnh trong những năm gần đây: trên đảo Boneo, diện tích rừng nguyên sinh được dự báo sẽ hoàn toàn biến mất trong vòng vài năm tới với tốc độ phá rừng như hiện nay Nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới (WB) năm 2010 về rừng Amazon ở Nam Mỹ đã cảnh báo rằng khu rừng nhiệt đới được coi là lá phổi của hành tinh này hiện đã mất 17-18% diện tích và có thể mất 2/3 diện tích trong vòng 65 năm nữa nếu tốc độ tàn phá rừng tiếp tục như hiện nay Sự hình thành các con đập thủy điện lớn trong những năm gần đây (đập Tam Hiệp trên sông Dương Tử, đập Itaipu ở biên giới Brazil và Paraguay, đập thủy điện Monte Belo trên sông Amazon đang được xây dựng) không những làm giảm diện tích rừng, dịch chuyển dân cư mà còn làm suy giảm nghiêm trọng môi trường sinh thái

Trang 18

Đồng thời, sự gia tăng dân số đô thị và sự hình thành các thành phố lớn - siêu đô thị làm cho môi trường khu vực đô thị có nguy cơ bị suy thoái nghiêm trọng trong vòng 60 năm qua, cùng với sự phát triển vượt bậc của xã hội loài người, hơn 2 tỉ người đã di chuyển ra các thành phố (phim Home, đạo diễn Yann Arthus-Bertrand, 2006) Nguồn cung cấp nước sạch, nhà ở, cây xanh không đáp ứng kịp cho sự phát triển dân cư Mật độ dân cư quá đông và sự phát triển của các khu công nghiệp tạo ra một lượng chất thải rắn, các loại hóa chất độc hại, gây ra tình trạng ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm không khí nặng nề ở các thành phố lớn

Phát triển nông nghiệp với các công nghệ mới (máy móc thay thế con người, thuốc trừ sâu, phân bón…) để phục vụ cho các nhu cầu về lương thực, thực phẩm, sản xuất công nghiệp đã làm năng suất lao động trong nông nghiệp tăng cao nhưng cũng gây ra những tác động không tốt tới môi trường: Ô nhiễm và cạn kiệt nguồn nước, ô nhiễm môi trường đất tăng lên… từ đó ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe của người dân

Bên cạnh đó, cũng có một bộ phận không nhỏ người trong xã hội có nhận thức, hành động chưa tốt Họ sử dụng lãng phí các nguồn tài nguyên và xem những gì đang xảy ra là điều bình thường, phù hợp với quy luật tự nhiên; họ không xem trách nhiệm bảo vệ môi trường là của tất cả mọi người (vì chính mỗi người sống trên thế giới đều có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới môi trường) Một số doanh nghiệp vì mục tiêu lợi nhuận, một số cá nhân vì lợi ích cá nhân mà gây ô nhiễm môi trường Đã hơn một năm kể từ vụ nổ tràn khoan dầu Deepwater Horizon, ngoài khơi Louisiana ngày 20 tháng 4 năm 2010 gây ra

vụ tràn dầu được xem là thảm họa môi trường tồi tệ nhất trong lịch sử nước Mỹ mà

nguyên nhân đã được xác định là do BP (British Petroleum) và các đối tác của BP không

thực hiện nghiêm túc các biện pháp nhằm đảm bảo an toàn và phòng ngừa rủi ro hợp lý

Vụ tràn dầu đã gây ra thiệt hại nặng nề về mặt kinh tế và gây ra hậu quả kinh hoàng về môi trường sinh thái: đe dọa đến sự sống của hơn 400 loài động vật, 6.104 con chim, 609 rùa biển, khoảng 100 động vật có vú trong đó có cá heo và 25 triệu chim bay qua khu vực tràn dầu mỗi ngày

Trang 19

Mặc dù các nước giàu, các nước phát triển là thủ phạm chính gây ra ô nhiễm môi trường (Trung Quốc xếp thứ nhất, Mỹ xếp thứ 2, Nhật xếp thứ 5 trong số các nước thải nhiều CO2 nhiều nhất thế giới) nhưng chịu ảnh hưởng nặng nề nhất từ ô nhiễm môi trường lại là các nước nghèo và người nghèo trên thế giới, những người có sinh kế phụ thuộc vào nông nghiệp Theo cảnh báo đưa ra với tất cả các nước trên thế giới tại Hội nghị Bali (Indonexia) năm 2007, thiệt hại do ô nhiễm môi trường gây ra là rất lớn đối với các nước phát triển và các nước đang phát triển Đặc biệt là ở các nước nghèo, tình trạng

ô nhiễm môi trường còn cao hơn gấp nhiều lần do nhiều nguyên nhân như sử dụng công nghệ tiêu hao nhiều năng lượng và gây ô nhiễm, dân số quá đông, đang trong quá trình công nghiệp hóa… và một phần chịu ảnh hưởng từ các nước phát triển, thủ phạm chính gây ra ô nhiễm

Các nước giàu cũng là những nước tiêu thụ năng lượng, các nguồn tài nguyên lớn nhất nhưng chủ yếu lại là đi khai thác ở nước khác hoặc mua từ các nước nghèo Hoa Kỳ

là một trong những nước có trữ lượng tài nguyên thiên nhiên lớn nhất thế giới, đặc biệt là đất hiếm , dầu mỏ và các loại khoáng sản nhưng Hoa Kỳ rất hạn chế khai thác mà chủ yếu nhập khẩu dầu mỏ và tài nguyên từ các nước khác Nhật Bản là một nước nghèo về tài nguyên thiên nhiên nhưng biết tận dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên của các nước khác để phục vụ cho phát triển kinh tế của mình Ngược lại, rất nhiều quốc gia có lợi thế về tài nguyên thiên nhiên nhưng chưa bao giờ là những nước giàu: Iraq có trữ lượng rất lớn về dầu mỏ, các nước Châu Phi nổi tiếng về vàng, kim cương, cao su tự nhiên và nhiều tài nguyên thiên nhiên khác; Indonesia có núi đồi hùng vĩ đầy gỗ và

muông thú; biển đầy dầu hoả và sản vật với mấy chục nghìn hòn đảo nhưng họ không giàu có bằng Singapore – một đất nước nhỏ bé và chẳng có tài nguyên; Nigeria là nước xuất khẩu dầu mỏ lớn nhất Châu Phi nhưng có đến 70% dân số sống dưới mức nghèo đói Ngoài ra, ở một số quốc gia vì lợi ích của quốc gia hoặc vì mục tiêu phát triển kinh tế

ở các nước đang bắt đầu quá trình tăng trưởng mà xem nhẹ hoặc phải chấp nhận suy thoái môi trường trong một giai đoạn nhất định (đường cong Kuznet thể hiện mối quan hệ giữa môi trường và phát triển kinh tế trong dài hạn, Ngân Hàng Thế Giới World Bank, năm

Trang 20

1992) Đồng thời, do mức sống của người dân ở các nước nghèo, nước đang phát triển còn thấp nên họ thường có những ưu tiên quan trọng khác cho cuộc sống hàng ngày và họ xem môi trường là nơi có thể cung cấp các nhu cầu cơ bản cho con người Như Haiti, một trong những nước nghèo nhất thế giới mà cuộc sống của người nghèo vẫn còn phụ thuộc vào than củi thì phá rừng chính là một biện pháp để tồn tại

“Những nước dễ bị tổn thương nhất là những nước ít có khả năng tự bảo vệ mình nhất Họ cũng đóng góp ít nhất vào việc phát thải khí nhà kính toàn cầu Nếu không hành động họ sẽ phải trả một giá rất cao vì hành động của người khác” (Kofi Atta Annan, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc từ 1997-2006) Do đó, mọi người dân trên thế giới, đặc biệt là chính phủ và người dân ở các nước đang phát triển cần thiết phải thực hiện một con đường rõ ràng để bảo vệ môi trường

2.1.2.2 Ở Việt Nam

Ở Việt Nam trong thời gian qua tăng trưởng kinh tế chủ yếu là theo chiều rộng, nghĩa

là chủ yếu dựa vào tăng các nguồn lực đầu vào (vốn, nguyên vật liệu, năng lượng, ), tăng trưởng chủ yếu dựa vào yếu tố vốn, lao động và tài nguyên kéo theo sự gia tăng về lượng chất thải, chất ô nhiễm ít được xử lý ra môi trường quá trình phát triển nhanh, mạnh của nền kinh tế, đặc biệt là quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa đã gây sức ép không nhỏ tới môi trường và tài nguyên, làm cho môi trường bị ô nhiễm hơn và tài

nguyên bị suy thoái nhiếu hơn

2.1.2.2.1 Môi trường đất

- Diện tích đất nông nghiệp suy giảm mạnh: với xu hướng dân số tăng nhanh, quá trình

công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và việc quy hoạch sử dụng đất còn hạn chế và bất hợp lý của nhiều đại phương làm cho diện tích đất nông nghiệp suy giảm mạnh Nghiên cứu ở vùng đồng bằng sông Hồng, nơi có tốc độ đô thị hóa diễn ra sôi động nhất cả nước thì trung bình mỗi năm quỹ đất nông nghiệp bị mất khoảng 0.43% (Báo cáo quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 và định hướng quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 vùng đồng bằng sông Hồng)

Trang 21

- Ô nhiễm đất do các chất ô nhiễm từ hoạt động công nghiệp, xây dựng và sinh hoạt của

con người, việc sử dụng không hợp lý phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật trong nông nghiệp

- Xói mòn đất: nạn phá rừng, khai thác gỗ để lấy đất canh tác dẫn đến rửa trôi và xói mòn

đất diễn ra ở nhiều nơi, trong đó có 4 vùng chịu ảnh hưởng mạnh nhất là vùng trung du miền núi Phía Bắc, Tây Nguyên, Bắc Trung Bộ Và Nam Trung Bộ

- Hoang mạc hóa: nước ta không có quá trình sa mạc hóa mà chỉ có quá trình hoang mạc

hóa Thống kê của cục Lâm nghiệp (2008), Việt Nam vẫn còn khoảng 9,3 triệu ha đất liên quan tới hoang mạc hóa (chiếm khoảng 28% tổng diện tích đất tự nhiên)

2.1.2.2.2 Môi trường nước

- Hiện trạng suy giảm nguồn nước trong hệ thống sông, hồ chứa trên cả nước ngày càng

nghiêm trọng do khai thác quá mức tài nguyên nước và ảnh hưởng của biến đổi khí hậu Bên cạnh đó, do Việt Nam nằm ở hạ nguồn nên hơn 60% lưu lượng nước phụ thuộc vào thượng nguồn nằm ngoài biên giới Việt Nam Những năm gần đây, do các nước vùng thượng nguồn xây dựng các công trình khai thác, phát triển nguồn năng lượng thủy điện với quy mô lớn khiến nguồn nước chảy vào Việt Nam ngày càng cạn kiệt: Tháng 11-

2009, mực nước sông Hồng tại Hà Nội còn 0,7m; đây là mực nước cạn kỷ lục của sông Hồng trong vòng 107 năm qua Đến cuối tháng 12-2009, mực nước rút xuống 0,66m và đến đầu tháng 1-2010 mực nước chỉ còn 0,5m

- Ô nhiễm nước ngày một trầm trọng do tốc độ đô thị hoá, công nghiệp hoá, hiện đại hoá

ngày một tăng nhanh trong khi nước thải, rác thải chưa được kiểm soát chặt chẽ Đó là chưa kể ô nhiễm do sử dụng hoá chất bảo vệ thực vật, phân bón hoá học ngày một tăng khó kiểm soát, ô nhiễm nước do nước thải, chất thải của các ao nuôi thuỷ sản xả trực tiếp không qua xử lý vào nguồn nước Ở Việt Nam, ở một số vùng núi, hoạt động khai thác vàng trái phép diễn ra vài năm nay mà chủ yếu bằng phương pháp thủ công, được xem là nguyên nhân đứng đầu gây ô nhiễm môi trường (Tổ chức bảo vệ môi trường Green Cross Thụy Sỹ và Viện Blacksmith của Mỹ).Với các phương tiện đơn giản nhất như: quặng

Trang 22

vàng hỗn hống với thủy ngân sau đó hỗn hợp này sẽ được nung chảy, thủy ngân bốc hơi, chất còn lại là vàng Người khai thác hít khí độc đầu tiên, chất thải thủy ngân gây ô nhiễm môi trường, tích tụ trong cây cối, động vật và từ đó lan sang chuỗi thực phẩm ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe con người

2.1.2.2.3 Môi trường không khí

- Ô nhiễm từ hoạt động giao thông vận tải: ở các đô thị, giao thông vận tải là nguồn gây ô nhiễm lớn nhất đối với không khí, đặc biệt là sự phát thải các khí CO, VOC và NO2 Lượng thải các khí này tăng theo từng năm cùng với sự phát triển về số lượng của các phương tiện giao thông đường bộ Mới đây, Hà Nội và TP.HCM nằm trong danh sách 6 thành phố ô nhiễm không khí nhất thế giới (Bảng Tổng Kết Môi Trường Toàn Cầu do Liên Hiệp Quốc công bố năm 2007)

- Ô nhiễm từ hoạt động công nghiệp: các ngành gây ô nhiễm nhiều nhất là các ngành sử dụng nhiên liệu hóa thạch như xi măng, luyện kim, nhiệt điện và các ngành sản xuất thực phẩm và đồ uống

- Ngoài ra còn có ô nhiễm không khí do các chất ô nhiễm từ hoạt động nông nghiệp và sinh hoạt của dân cư

2.1.2.2.4 Chất thải rắn

- Quá trình phát sinh chất thải rắn gắn liền với quá trình sản xuấ và sinh hoạt của con người Công trình khảo sát chất thải toàn cầu (Tổ chức Hàng hải Quốc tế) đã thống kê, cứ tạo ra tổng sản phẩm quốc nội (GDP) khoảng 1 tỉ USD sẽ làm phát sinh khoảng 4.500 tấn chất thải công nghiệp, 20% trong đó là chất thải nguy hại

- Cùng với sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng trong những năm gần đây và sự phát triển mạnh của các đô thị lớn, lượng chất thải rắn cũng gia tăng nhanh chóng Thống kê trên phạm vi toàn quốc từ năm 2003 đến năm 2008, lượng chất thải rắn phát sinh trung bình tăng từ 150-200% Chất thải sinh hoạt đô thị tăng trên 200%, chất thải rắn công nghiệp tăng 181%, và còn tiếp tục tăng trong thời gian tới (Trung tâm Nghiên cứu và quy hoạch Môi trường Đô thị - Nông thôn, Bộ Xây Dựng, 2010)

Trang 23

- Lượng chất thải rắn phát sinh không ngừng tăng lên trong khi công tác thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn đô thị, chất thải rắn công nghiệp, chất thải rắn y tế vẫn chưa đáp ứng nhu cầu Đây là nguyên nhân quan trọng gây ô nhiễm môi trường nước, không khí, đất, cảnh quan đô thị và tác động xấu tới sức khỏe cộng đồng

2.1.2.2.5 Đa dạng sinh học

Việt Nam với sự khác biệt lớn về khí hậu giữa các vùng gần xích đạo tới giáp cận nhiệt đới, cùng với sự đa dạng về địa hình đã tạo nên sự phong phú về cảnh quan và tính đa dạng sinh học cao, tạo môi trường sống cho khoảng 10% tổng số loài chim và thú hoang

dã trên thế giới Tuy nhiên, do việc khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách thiếu cơ sở khoa học, khai thác quá mức và sử dụng không bền vững tài nguyên sinh vật; cháy rừng

và nạn phá rừng trái phép do bất cập trong quản lý đa dạng sinh học đã làm cho đa dạng sinh học ở Việt Nam ngày càng giảm, số lượng các loài sinh vật được xếp ở mức độ đe dọa tuyệt chủng và các mức nguy cấp trong Sách đỏ Việt Nam và Danh sách đỏ của Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) ngày càng tăng

Ngoài ra, Việt Nam còn bị ảnh hưởng mạnh bởi tình trạng biến đổi khí hậu toàn cầu: theo “Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng cao cho Việt Nam”, nước biển dâng cao 1m sẽ có 78 sinh cảnh tự nhiên quan trọng (27%), 46 khu bảo tồn (33%), 9 khu vực

có đa dạng sinh học quan trọng (23%), 23 khu có đa dạng sinh học quan trọng khác của Việt Nam bị tác động nghiêm trọng

- Hệ sinh thái trên cạn: độ che phủ rừng tăng nhưng chất lượng rừng suy giảm

Những năm gần đây, tổng diện tích rừng tăng lên nhưng phần lớn diện tích tăng thêm là rừng trồng Diện tích rừng cây công nghiệp (cao su, cà phê, điều, ) tăng nhanh, làm cho

độ che phủ rừng liên tục tăng lên, từ 27,8% ở năm 1990 đến 39,1% vào năm 2009 Tuy nhiên, diện tích rừng nguyên sinh giảm sút trầm trọng, chỉ còn khoảng 0,57 triệu ha phân

bổ rải rác, chiếm 8% tổng diện tích rừng (các nước trong khu vực là 50%) Phần lớn rừng

tự nhiên hiện nay thuộc loại rừng nghèo, rừng non mới được phục hồi có tính đa dạng sinh học thấp

Trang 24

- Hệ sinh thái rừng ngập mặn:

Rừng ngập mặn là hệ sinh thái có giá trị về sinh thái, môi trường nhưng hiện nay đang bị suy giảm diện tích, chất lượng môi trường và đa dạng sinh học Theo thống kê của bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2007), diện tích rừng ngập mặn của cả nước khoảng 160.070 ha, giảm hơn 50% so vớ năm 1943 Thời gian gần đây tuy đã có các chương trình trồng, phục hồi rừng ngập mặn được triển khai nhưng diện tích rừng ngập mặn vẫn chưa được phục hồi đáng kể Cho đến nay, rừng ngập mặn nguyên sinh không còn nhiều, đa số la rừng trồng (chiếm 62%), còn lại là rừng tái sinh nghèo hoặc rừng mới tái sinh trên bãi bồi

- Hệ sinh thái biển:

Cũng như các quốc gia trong khu vực, Việt Nam đang phải đương đầu với tình trạng suy thoái đa dạng sinh học biển và nguồn lợi hải sản Đây là vấn đề môi trường rất được quan tâm, nhất là với quốc gia có tính đa dạng sinh vật biển cao và đường bở biển, lãnh hải rộng lớn, tiềm năng to lớn về phát triển kinh tế biển như Việt Nam

+ Hệ sinh thái rạn san hô đặc trưng cho vùng ven bờ của biển nhiệt đới, có giá trị kinh tế

và đa dạng sinh học cao chủ yếu đang ở tình trạng xấu và bị suy giảm mạnh theo thời gian: các kết quả điều tra từ năm 2004 đến năm 2007 tại 7 vùng rạn san hô trọng điểm của Việt Nam cho thấy chỉ có 2,9% diện tích rạn san hô được đánh giá là trong điều kiện phát triển rất tốt, 11,6% ở trong tình trạng tốt, 44,9% ở trong tình trạng xấu và rất xấu + Tương tự đối với rạn san hô, các thảm cỏ biển, nguồn cung cấp thức ăn cho các loại hải sản cũng đang bị mất dần diện tích do hiện tượng biến đổi khí hậu toàn cầu, lấn biển để xây dựng các ao nuôi thủy sản và các công trình ven biển Theo thống kê chung của cả nước thì hiện nay diện tích các thảm cỏ biển của Việt Nam đã bị giảm 40-60%

2.2.1 Nhận thức

Nhận thức là quá trình biện chứng của sự phản ánh thế giới khách quan trong ý thức con người, nhờ đó con người tư duy và không ngừng tiến đến gần khách thể (Từ điển

Trang 25

Bách khoa Việt Nam) Theo quan điểm triết học Mác-Lênin, nhận thức được định nghĩa

là quá trình phản ánh biện chứng hiện thực khách quan vào trong bộ óc của con người, có tính tích cực, năng động, sáng tạo, trên cơ sở thực tiễn Hoạt động nhận thức của con người đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn Con đường nhận thức đó được thực hiện qua các giai đoạn từ đơn giản đến phức tạp,

từ thấp đến cao, từ cụ thể đến trừu tượng, từ hình thức bên ngoài đến bản chất bên trong Nhận thức và tri thức của một con người có động cơ, có sự lĩnh hội và tích lũy kiến thức

từ những trải nghiệm trước đó, và sẽ hành động như thế nào trong thực tế để có những kết quả tốt hơn cho hiện tại và tương lai Nhận thức được hình thành từ sự quan tâm có chọn lọc, sự bóp méo có chọn lọc hoặc sự ghi nhớ có chọn lọc Việc đo lường nhận thức là một vấn đề phức tạp và dường như không thể, bởi lẽ nhận thức là một khái niệm trừu tượng không thể cân đong đo đếm chính xác được Ta chỉ có thể xác định chúng ở mức độ cao hay thấp một cách tương đối

Thuật ngữ ''nhận thức'' được sử dụng để nói về một mức độ kiến thức đạt được bằng thực nghiệm thông qua khả năng tiếp thu kiến thức của một người, nhưng nó cũng có thể được coi là đồng nghĩa với “nhận biết”, đó là sự công nhận một cái gì đó đã được nhận biết (AnfH.Ziadat, 2007)

* Nhận thức về các vấn đề môi trường

Nhận thức về các vấn đề môi trường là sự chú ý, mối quan tâm (quan tâm hoặc để ý)

và độ nhạy cảm của người trả lời về các vấn đề môi trường (Mchenry (1992), Soukhanov (1992), trích bởi Sigit Sudarmadi et al (2001)) Ví dụ: “tôi nghĩ rằng ô nhiễm nước là một vấn đề nghiêm trọng”

2.2.2 Vì sao cần đo lường nhận thức về các vấn đề môi trường?

Nhận thức về các vấn đề môi trường rất quan trọng Mặc dù người ta không luôn luôn làm theo những gì họ nói nhưng nhận thức của họ là bước quan trọng để hướng tới hành động, và hành vi là một yếu tố quan trọng để tiến tới có dự định thực hiện (Koon-Kwai Wong, 2003)

Trang 26

Đánh giá về nhận thức môi trường là bước đầu tiên trong quá trình hiểu về mức độ kiến thức của những nhóm người khác biệt có quan tâm tới mức độ nghiêm trọng của vấn

đề môi trường và cách họ phản ứng hay tương tác với môi trường của họ (AnfH.Ziadat, 2007) theo quy trình 3 bước chính được miêu tả bởi Cheremisinoff and Bendavid-val (2001) về tương tác với môi trường: nhận thức những gì nên được thực hiện, kiến thức và huấn luyện để giải quyết những mối quan tâm về môi trường, khuyến khích với những phần thưởng cho những hành động đúng đắn vì môi trường Hans Kessel, 1982 cũng chỉ

ra hai chiến lược hành động để giải quyết vấn đề môi trường: phát triển các công nghệ tốt hơn và tạo ra những thay đổi căn bản trong xã hội, bao gồm việc thay đổi nhận thức của người dân Trong đó, việc hiểu được thực trạng, nguyên nhân của các vấn đề môi trường hiện nay; sự khác biệt của các vấn đề môi trường và các tình thế phức tạp cùng với việc thực hiện các công nghệ mới; hiểu biết về tác động phụ của phát triển công nghiệp (ô nhiễm nước và ô nhiễm không khí, sự lắng đọng bụi, chất thải rắn, tiếng ồn…) tới sức khỏe cộng đồng, cây xanh, nguồn nước, và các khía cạnh kinh tế xã hội khác của cuộc sống là rất quan trọng cho cả cá nhân và cộng đồng

Ngoài ra, môi trường quốc gia còn thể hiện bộ mặt của đất nước (Anf H Ziadat, 2007) Nhận thức về môi trường đóng một vai trò quan trọng để tăng cường phát triển bền vững của bất kỳ quốc gia nào (Young (2000); Harvey (1995), trích bởi Anf H Ziadat, 2007) Jianguo cũng nói rằng “nhận thức môi trường và chất lượng môi trường là những chỉ báo quan trọng để đánh giá sự văn minh của một quốc gia hay một dân tộc” (trích bởi Anf H Ziadat, 2007)

2.2.3 Sự gia tăng nhận thức về môi trường trên thế giới những năm gần đây

Trong hơn 20 năm qua đã có sự gia tăng nhận thức về các vấn đề môi trường trên toàn thế giới ở các nước phát triển và cũng đạt được tại một số nước đang phát triển Kinh nghiệm về các vấn đề môi trường và các bằng chứng khoa học đã cung cấp cho công chúng những sự thật về mối đe dọa của môi trường nếu như các quốc gia và toàn thế giới không có biện pháp phòng ngừa và giảm thiểu các tác động của con người tới môi trường (Takala, 1991 trích bởi Anf H Ziadat, 2007) Ngoài ra, con người có thể tự nhận ra các

Trang 27

vấn đề môi trường thông qua kinh nghiệm bản thân về sự cần thiết của một chương trình giáo dục về bảo vệ môi trường trong đó tạo điều kiện cho con người tăng cường khả năng

ra quyết định, lựa chọn hành động và thái độ phát triển để tăng cường cách sống thân thiện với môi trường trong bất kỳ xã hội nào trên thế giới (Takala, 1991 trích bởi Anf H Ziadat, 2007)

Một nghiên cứu so sánh về nhận thức môi trường của nhóm dân số chung và nhóm có

vị trí đặc biệt (các chuyên gia về môi trường, những nhà quản lý công nghiệp, các nhà chính trị) của 3 nước phát triển: CHLB Đức, Anh và Mỹ (Hans Kessel, 1982) và nghiên cứu nhận thức sinh viên Bắc Kinh (Koon-Kwai Wong, 2003) cũng chỉ ra rằng người dân

có nhận thức ngày càng cao Họ nhận thấy xã hội công nghiệp mang lại mức sống cao hơn và họ cũng nhận thức được sự khẩn cấp của các vấn đề môi trường, đặc biệt là khu vực đô thị và đồng ý rằng con người nên sống hòa hợp với thiên nhiên

Tuy nhiên, họ có sự bi quan hơn về môi trường tương lai: vấn đề môi trường sẽ ngày càng nghiêm trong hơn và họ không có một phân giới ưu tiên rõ ràng giữa bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế (Koon-Kwai Wong, 2003; Hans Kessel, 1982), trong khi phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường đều không thể thiếu trong sự phát triển bền vững của một quốc gia

Năm 1987, Ủy ban môi trường và phát triển quốc tế (WCED) lần đầu tiên đã đưa ra

phân tích sâu sắc về phát triển bền vững trong báo cáo Brundtland “Tương lai chung của chúng ta” Báo cáo đã chỉ ra mối quan hệ giữa môi trường và phát triển kinh tế, xác định đặc điểm cơ bản của các vấn đề môi trường chính đồng thời liên kết mối quan tâm chung của các quốc gia để theo đuổi những chiến lược và chính sách nhằm hướng tới sự phát triển bền vững Báo cáo đã chỉ ra rằng chính phủ các nước nên thực hiện những chiến lược để giảm tác động các hoạt động của con người tới môi trường của thế hệ tương lai Phát triển bền vững được định nghĩa là phát triển đáp ứng những nhu cầu hiện tại nhưng không gây tổn hại tới môi trường và ảnh hưởng tới khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế

hệ tương lai (Báo Cáo Bruntland 1987; Dale And Hill 2001; Giddings Et Al.2002; O’neil

Et Al.2001; Government Of Western Australia 2003, trích bởi Anf H Ziadat, 2007))

Trang 28

Munansinghe (1992) đã triển khai định nghĩa phát triển bền vững trên bằng cách xây dựng mối liên hệ giữa 3 yếu tố kinh tế, xã hôi và môi trường Tương ứng với 3 góc của tam giác phát triển bền vững là các mục tiêu cần đạt được Chẳng hạn với môi trường là phải đảm bảo đa dạng sinh học, sử dụng hiêu quả nguồn tài nguyên và giảm ô nhiễm môi trường (Mô hình phát triển bền vững)

Hội nghị về môi trường tổ chức ở Rio de Janeiro, Braxin năm 1992, các nước đã thông qua bản tuyên ngôn Rio và Chương trình nghị sự 21, trong đó khẳng định tất cả các nước đều có trách nhiệm làm cho sự phát triển chung là lâu bền, trong đó các nước phát triển phải chịu trách nhiệm nhiều hơn Đặc biệt là Nghị Định Thư Kyoto được đưa ra vào năm 1997 - một cam kết được tiến hành dựa trên các nguyên tắc của Chương trình khung của Liên hiệp quốc về vấn đề biến đổi khí hậu với sự tham gia của 181 nước (tính đến tháng 2/2009, Bách khoa toàn thư mở Wikipedia) Trong đó những quốc gia tham gia kí kết phải chấp nhận việc cắt giảm khí CO2 và năm loại khí gây hiệu ứng nhà kính khác Tại hội nghị toàn cầu về biến đổi khí hậu họp tại Bali (Indonexia) năm 2007 đã được

tổ chức với thông điệp rằng ô nhiễm môi trường là trở ngại rất lớn cho sự phát triển của mỗi quốc gia, cũng như toàn thế giới Các hội nghị về biến đổi khí hậu của Liên Hiệp Quốc như Copenhagen, Đan Mạch hay Cancun, Mexico tuy chưa đạt được như mong muốn của nhân dân thế giới nhưng cũng thu được một số kết quả quan trọng Cụ thể, tại hội nghị về biến đổi khí hậu của Liên Hiệp Quốc tại Cancun, Mexico đã thỏa thuận một Quỹ Khí hậu xanh sẽ được thành lập nhằm gây quỹ 1.000 tỉ USD trong vòng 10 năm tới

để hỗ trợ các nước nghèo phát triển thân thiện với môi trường và đối phó hậu quả của biến đổi khí hậu

Các nỗ lực của chính phủ các nước thông qua các chính sách, luật pháp về bảo vệ môi trường và sử dụng các nguồn năng lượng sạch như Newzealand, Costarica, Iceland, Áo, Thụy Điển, Đan Mạch, Hà Lan, Singapore,…cho thấy sự quan tâm của chính phủ và người dân các nước về các vấn đề môi trường hiện nay Ở nhiều nước, các chương trình giáo dục đều có giảng dạy các môn học về môi trường và tầm quan trọng của môi trường Đồng thời, giáo dục về ý thức bảo vệ môi trường cho thế hệ trẻ cũng được gia đình và xã

Trang 29

hội quan tâm rất nhiều Đặc biệt, vào tháng 6/2011, Đức đã tuyên bố sẽ trở thành cường quốc công nghiệp đầu tiên từ bỏ năng lượng nguyên tử vào năm 2022

Cùng với sự gia tăng về nhận thức của chính phủ và người dân các nước là sự phát triển mạnh mẽ của các tổ chức phi chính phủ, các sự kiện được tổ chức với sự tham gia của các nhà hoạt động hòa bình về môi trường và người dân các nước trên thế giới Hội nghị của Liên Hiệp Quốc về “Môi trường và con người” tổ chức tại Xtôckhôm (Thủ đô Thụy Điển) ngày 06/05/1972 là kết quả của những nhận thức về sự phát triển ngày càng tăng của nạn suy thoái môi trường, là hành động đầu tiên đánh dấu sự nỗ lực chung của toàn thể nhân loại nhằm giải quyết các vấn đề về môi trường Từ đó, ngày 06/05 đã được Liên Hợp Quốc chọn để kỉ niệm hằng năm và khuyến khích nhân dân, chính phủ và các

tổ chức của tất cả các nước trên thế giới tổ chức các hoạt động nhằm cải thiện môi trường của nước mình

2.3 Các nhân tố tác động tới nhận thức về vấn đề môi trường

2.3.1 Các nghiên cứu trước đây

Các nghiên cứu trước đây đã đồng ý rằng sự khác biệt về hiểu biết, quan điểm, và hành động phát sinh từ nhận thức (thái độ) của con người hướng tới môi trường chịu ảnh hưởng bởi sự khác biệt về trình độ học vấn, nhóm tuổi, nghề nghiệp, địa vị xã hội, nơi cư trú và giới tính Van Liere và Dunlap (1980) là những người đi tiên phong kiểm tra về các tài liệu về nhận thức môi trường; họ đã chỉ ra rằng có 5 nhân tố chính tác động đến nhận thức môi trường của các nhóm xã hội khác nhau bao gồm tuổi, giới tính, nơi cư trú, niềm tin chính trị và địa vị xã hội (trích bởi Anf H Ziadat, 2007) Nghiên cứu về nhận thức môi trường của người dân ở miền Nam Jordan (Anf H Ziadat, 2007) cũng chỉ ra các nhân tố chính tác động tới nhận thức của người dân là: vị trí địa lý, tuổi, giới tính, trình

độ giáo dục Bài nghiên cứu đã chỉ ra những người già có nhận thức tốt hơn những người trẻ tuổi, nữ có nhận thức cao hơn nam, những vùng mà lợi ích kinh tế đi liền với môi trường (như địa điểm du lịch) thì người dân sẽ có nhận thức cao hơn; trình độ giáo dục càng cao thì nhận thức càng cao Ngoài ra, bài nghiên cứu còn chỉ ra mức sống và nền

Trang 30

văn hóa khác biệt trong phạm vi Jordan không phải là nhân tố chính tác động tới nhận thức của người dân về vấn đề môi trường

Khi nghiên cứu về nhận thức môi trường của các nhóm dân số chung và các nhóm có

vị trí đặc biệt (các chuyên gia về môi trường, những nhà quản lý công nghiệp, các nhà chính trị) ở các 3 nước phát triển : CHLB Đức, Anh và Mỹ (Hans Kessel, 1982), Hans Kessel đã chỉ ra có sự khác biệt về nhận thức giữa các nhóm, đặc biệt giữa các nhà môi trường và các nhà quản lý công nghiệp (các nhà môi trường có nhận thức tốt hơn các nhà quản lý công nghiệp) Đồng thời có sự khác biệt giữa các nước theo thứ tự nhận thức về môi trường giảm dần: Cộng Hòa Liên Bang Đức, Anh, Mỹ Hans Kessel cũng chỉ ra rằng người dân các nước phát triển chịu tác động mạnh mẽ bởi luật pháp và người dân cũng sẵn lòng trả tiền cho các loại thuế môi trường

Một số nghiên cứu trước cũng chỉ ra rằng trong các nhân tố có ảnh hưởng tới nhận thức thì trình độ giáo dục là một nhân tố quan trọng và nâng cao trình độ giáo dục là giải pháp cơ bản để nâng cao nhận thức về môi trường Bài nghiên cứu về cảm nhận, sự hiểu biết, nhận thức và thái độ về các vấn đề môi trường giữa hai nhóm: cộng đồng (chia làm

ba nhóm: khu vực công nghiệp, khu vực thương mại và khu dân cư) và những cán bộ giảng dạy từ trường ĐH Quốc gia Indonexia đã chỉ ra nhóm có trình độ giáo dục cao hơn thì có cảm nhận, hiểu biết, nhận thức, thái độ về các vấn đề môi trường tốt hơn nhóm còn lại (Sigit Sudarmadi et al ,2001)

Các nghiên cứu được tiến hành để đo lường mức độ nhận thức môi trường giữa các nhóm người khác nhau ở một vài quốc gia đều cho thấy nhóm có trình độ giáo dục cao thì có hiểu biết cũng như nhận thức tốt hơn về vấn đề môi trường (AnfH.Ziadat, 2007) Thực tế, nhận thức về môi trường của thế hệ trẻ ngày càng tăng trên toàn thế giới (Fien et

al ,2002, trích bởi AnfH.Ziadat, 2007) Điều này có thể là kết quả của sự nhất quán trong chương trình giáo dục, giáo dục về môi trường là bắt buộc trong trường tiểu học ở hầu hết các nước đang phát triển và một vài nước đang phát triển

2.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới nhận thức của sinh viên TP.HCM về vấn đề môi trường

Trang 31

2.3.2.1 Tổng quan TP.HCM

TP.HCM là đô thị phát triển nhất của Việt Nam, là trung tâm kinh tế, văn hoá, giáo dục, khoa học kỹ thuật và là đầu mối giao thông quan trọng nhất của Việt Nam Tốc độ tăng trưởng GDP của thành phố luôn ở mức cao (10-12%/năm), mức thu nhập bình quân đầu người cũng gia tăng nhanh (GDP bình quân đầu người năm 2010 ước 2.800 USD) (Đại hội Đại biểu Đảng bộ TP.HCM lần thứ IX, nhiệm kỳ 2010-2015) Là một trong hai trung tâm giáo dục lớn nhất Việt Nam, thành phố là nơi tập trung sinh viên từ mọi miền đất nước từ Bắc vào Nam Số lượng sinh viên ĐH và cao đẳng năm 2009 khoảng 400.000 sinh viên, đứng thứ 2 cả nước sau Thành phố Hà Nội

Với tốc độ gia tăng dân số quá nhanh, cơ sở hạ tầng chưa kịp quy hoạch nâng cấp tổng thể, ý thức một số người dân lại quá kém trong nhận thức và bảo vệ môi trường chung Ngoài ra, TP.HCM còn chịu tác động mạnh của hiện tượng biến đổi khí hậu Do

đó, TP.HCM hiện nay đang phải đối mặt với vấn đề ô nhiễm môi trường rất lớn, đặc biệt

là các vấn đề ô nhiễm không khí, nguồn nước, tiếng ồn và rác thải do các hoạt động sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải và sinh hoạt gây ra Hà Nội và TP.HCM nằm trong danh sách 6 thành phố ô nhiễm không khí nhất thế giới (Bảng Tổng Kết Môi Trường Toàn Cầu do Liên Hiệp Quốc công bố năm 2007) Hơn 77% dân số Việt Nam sống trong phạm vi 100 km từ bờ biển (theo báo cáo của Ngân Hàng Phát Triển Châu Á năm 2009) Do đó, Việt Nam là một trong những quốc gia bị ảnh hưởng nhiều nhất trên toàn cầu khi mực nước biển dâng cao do tác động của biến đổi khí hậu Trên 12% bờ biển của Việt Nam sẽ bị ngập sâu dưới mực nước biển 1 mét Đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng là những vùng trũng nên bị ảnh hưởng nhiều nhất khi xảy ra ngập lụt, xâm nhập mặn và các hiện tượng thời tiết xấu (Báo cáo về thay đổi khí hậu của Ngân hàng Thế giới năm 2007) Báo cáo mới nhất về các rủi ro về khí hậu và các biện pháp thích ứng tại các siêu đô thị ven biển của châu Á đến năm 2050 (Diễn đàn Châu Á Thái Bình Dương về biến đổi khí hậu năm 2010) cũng chỉ ra rằng TP.HCM, Bangkok, và Manila đều là những siêu đô thị phải đối mặt với những rủi ro liên quan đến

Trang 32

khí hậu như mực nước biển dâng cao, dự đoán có đến 60% cư dân TP.HCM sẽ chịu ảnh hưởng từ việc mực nước biển dâng cao vào năm 2050

2.3.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới nhận thức của sinh viên TP.HCM về vấn đề môi trường

Sinh viên ĐH có trình độ giáo dục cao, được giáo dục trong thời đại mà xã hội trở nên giàu có hơn trong quá khứ, và nhận thức của họ về vấn đề môi trường ngày càng tăng Sinh viên ngày nay quan tâm nhiều hơn tới chất lượng môi trường Hơn nữa, những sinh viên này sẽ trở thành thế hệ tương lai và là những người xây dựng xã hội Do đó, thái độ và hành vi của họ ngày nay sẽ tác động đáng kể vào hướng phát triển tương lai của Việt Nam

2.3.2.2.1 Các nhân tố tác động tới nhận thức của sinh viên

Khi xem xét các nhân tố tác động tới nhận thức của sinh viên, các yếu tố được xem xét là:

+ Yếu tố về giới: nam hay nữ

+ Yếu tố về ngành học vì đây chính là nghề nghiệp sau này của sinh viên

+ Do độ tuổi của sinh viên không có khoảng cách lớn và trình độ giáo dục có thể coi không có sự khác biệt lớn nên chỉ xem xét yếu tố năm học của sinh viên Anf H Ziadat (2007) đưa ra kết quả là có sự tăng tuyến tính nhận thức của sinh viên từ năm 1 tới năm 4 + Vị trí địa lý: TP.HCM hiện là trung tâm phát triển kinh tế văn hóa xã hội của Việt Nam, nơi tập trung các trường ĐH lớn của quốc gia, sinh viên ở thành phố đến từ mọi miền đất nước với nhiều phong tục, tập quán khác nhau, đây là nhân tố có thể tác động đến việc hình thành suy nghĩ, nhận thức nói chung và nhận thức về môi trường nói riêng + Yếu tố nơi ở hiện tại được chia thành ba nhóm: kí túc xá, nhà trọ, hay ở tại nhà cùng với người thân Nhận xét ban đầu cho rằng môi trường, điều kiện sống tại thành phố cũng

sẽ ảnh hưởng đến ý thức của sinh viên về môi trường

Trang 33

+ Vùng miền sinh sống được chia làm hai nhóm là nông thôn và thành thị: Dựa vào đặc trưng phát triển của xã hội Việt Nam, sau khi tìm hiểu và thảo luận, một nhận định nữa được đưa ra rằng điều kiện môi trường sống làng quê gần gủi với thiên nhiên, cây cối, không khí trong lành hoặc một môi trường sống hiện đại tập trung dân cư cũng sẽ tác động một mức độ nào đó đến nhận thức môi trường của con người

+ Yếu tố thu nhập cũng được xem xét với giả định những người có mức sống (chi tiêu) cao hơn sẽ có nhận thức tốt hơn (do xem xét giữa các nước đang phát triển và các nước phát triển thì nhận thức của người dân ở các nước phát triển cao hơn)

Trang 34

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

Chương 2 đã trình bày cơ sở lý luận về môi trường và các vấn đề môi trường hiện nay trên thế giới và ở Việt Nam; nhận thức và nhận thức về các vấn đề môi trường; quá trình gia tăng nhận thức của người dân trên thế giới trong những năm qua và các nghiên cứu trước đây trên thế giới về nhận thức về các vấn đề môi trường trên thế giới những năm gần đây

Trên cơ sở những lý thuyết được nghiên cứu, một mô hình nghiên cứu đưa ra những giả thiết ban đầu để xây dựng mô hình đo lường nhận thức của sinh viên TP.HCM về vấn

đề môi trường: Môi trường chung, môi trường nước, môi trường không khí, ô nhiễm tiếng ồn, chất thải rắn, môi trường đất và rừng Đồng thời, xác định các nhân tố có thể tác động đến nhận thức của sinh viên: giới, ngành học, năm học, vị trí địa lý, nơi ở hiện tại, vùng miền sinh sống và thu nhập

Trang 35

CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

Trên cơ sở mục tiêu nghiên cứu, phạm vi và phương pháp nghiên cứu đã được đề cập ở chương 1, và cơ sở lý thuyết cũng như mô hình nghiên cứu đã được trình bày ở chương 2 Chương này sẽ trình bày chi tiết hơn về phương pháp nghiên cứu, quy trình nghiên cứu, và các thang đo để đo lường các khái niệm nhằm kiểm định

mô hình nghiên cứu

Chương 3 gồm 2 phần chính: (1) thiết kế nghiên cứu, (2) phương pháp xử lý số liệu

3.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành thông qua hai bước chính: (1) nghiên cứu định tính và (2) nghiên cứu định lượng

3.1.1 Nghiên cứu định tính

Mục tiêu của giai đoạn nghiên cứu định tính là nhằm hiệu chỉnh các thang

đo, xây dựng bảng phỏng vấn phù hợp với tính chất đặc thù của sinh viên Việt Nam nói chung, sinh viên TP.HCM nói riêng và môi trường sống ở Việt Nam

Nghiên cứu định tính dựa trên các thông tin thứ cấp từ các nghiên cứu có liên quan, các tài liệu chuyên ngành, sách báo, internet và dùng phương pháp chuyên gia để xác định các biến quan sát dùng để đo lường các khái niệm nghiên cứu, từ đó xây dựng bảng câu hỏi

Các thang đo được xây dựng dựa trên cơ sở lý thuyết về các nhân tố ảnh hưởng đến nhận thức của sinh viên tại đất nước thuộc thế giới thứ ba (“Mayjor factor ccontributing to environmental awareness among people in a third world country/Jordan”, Anf H Ziadat (2007)) Tuy nhiên, do sự khác nhau về điều kiện

tự nhiên, điều kiện kinh tế và văn hóa xã hội nên cần thiết lập lại một thang đo phù

Trang 36

hợp hơn cho đề tài này và dùng nghiên cứu định tính để điều chỉnh thang đo cho phù hợp là điều cần thiết (Churchill, 1979)

Để điều chỉnh thang đo, nghiên cứu định tính được sử dụng trong nghiên cứu với kỹ thuật đóng vai và thảo luận tay đôi Phương pháp đóng vai được thể hiện bằng cách thành viên nghiên cứu tự đặt mình là một sinh viên, sau đó đưa ra những ý kiến của mình để xây dựng câu hỏi Thảo luận tay đôi được thực hiện với người hướng dẫn đề tài: ThS Nguyễn Tất Thắng - giảng viên trường ĐH kinh tế TP.HCM

Kết quả nghiên cứu sơ bộ như sau:

Các yếu tố cá nhân: Có tác động trực tiếp đến nhận thức của sinh viên và ảnh hưởng đến hành động của sinh viên tới môi trường Sinh viên có những yếu tố cá nhân khác nhau sẽ có những nhận thức về môi trường khác nhau

Do đó, các biến được sử dụng trong nghiên cứu này là trường (chuyên ngành), giới tính, tuổi, quê quán (tỉnh, vùng), nơi cư trú, chi tiêu trong tháng

Các yếu tố trong môi trường: Nước, không khí, tiếng ồn, chất thải, rừng, đất đai, môi trường chung

Sau khi xác định các biến quan sát, các nghiên cứu được thực hiện bao gồm:

- Phỏng vấn thử 30 mẫu lần 1 với bảng câu hỏi chưa chính thức với sinh viên khối ngành kinh tế

- Phỏng vẫn thử 30 mẫu lần 2 với bảng câu hỏi đã hiệu chỉnh lần 1 với sinh viên khối ngành kinh tế

- Sau đó bảng câu hỏi được hiệu chỉnh lại thành bảng câu hỏi chính thức dùng để nghiên cứu định lượng

Trang 37

Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu

Viết báo cáo

Trang 38

3.1.2 Nghiên cứu định lượng

3.1.2.1 Mẫu nghiên cứu

Đối tượng khảo sát là sinh viên học các trường ĐH tại TP.HCM ở Việt Nam gồm 9 trường ĐH tiêu biểu của thành phố:

- Khối ngành kinh tế: ĐH Kinh tế TP.HCM, ĐH Ngoại thương TP.HCM

- Khối ngành sư phạm: ĐH Sư phạm TP.HCM

- Khối ngành khoa học kỹ thuật: ĐH Khoa học tự nhiên, ĐH Bách khoa

- Khối ngành hành chính: Học viện hành chính quốc gia

- Khối ngành nghệ thuật: ĐH Kiến trúc TP.HCM

- Khối ngành nông lâm: ĐH Nông lâm TP.HCM

Trong đó:

- n: cỡ mẫu

- m: số biến độc lập của mô hình

Trên cơ sở đó, nhóm nghiên cứu tiến hành thu thập dữ liệu với cỡ mẫu 500 Mẫu trong nghiên cứu được chọn theo phương pháp thuận tiện

Phương pháp thu thập dữ liệu bằng bảng câu hỏi Các bảng câu hỏi gửi trực tiếp tới các bạn sinh viên tại các trường đại học và thu lại sau khi sinh viên hoàn

Trang 39

thành xong bảng câu hỏi Việc thu thập dữ liệu được tiến hành tại 9 trường đại học

ở TP.HCM

3.1.2.2 Phương pháp phân tích dữ liệu

Sau khi thu thập, các bảng phỏng vấn được xem xét, và loại đi những bảng phỏng vấn không đạt yêu cầu, sau đó mã hóa, nhập liệu và làm sạch dữ liệu bằng SPSS for Windows 11.5

Với phần mềm SPSS, nhóm nghiên cứu thực hiện phân tích dữ liệu thông qua các công cụ như thống kê mô tả, bảng tần số, đồ thị, kiểm định bằng T-test, ANOVA, phân tích nhân tố khám phá EFA

Kiểm định Indepentdent- samples T-test, và kiểm định one way ANOVA được dùng để kiểm định sự ảnh hưởng của các đặc điểm cá nhân khảo sát đến mức

độ nhận thức, quan tâm tới các vấn đề môi trường

3.2 Thiết kế bảng câu hỏi và xây dựng thang đo

3.2.1 Thiết kế bảng câu hỏi

Bảng câu hỏi được thiết kế dựa trên các tiêu chí đã được thảo luận nhóm ở phần nghiên cứu sơ bộ Bảng câu hỏi sử dụng thang đo Liker 5 mức độ từ mức độ “hoàn toàn không đồng ý” đến mức độ “hoàn toàn đồng ý”, mức độ “hoàn toàn không cần thiết” đến mức độ “hoàn toàn cần thiết” và một số câu hỏi lựa chọn “đúng”,

“sai” Thang đo 5 điểm là thang đo phổ biến nhất để đo lường thái độ, nhận thức

và độ tin cậy tương đương thang đo 7 hay 9 điểm Thang đo Liker 5 điểm được sử dụng trong bài nghiên cứu vì đây là thang đo phổ biến và phù hợp với đặc trưng của vấn đề nghiên cứu Bảng câu hỏi là một phương pháp thu thập dữ liệu hiệu quả khi nhà nghiên cứu biết chính xác điều cần hỏi và cách đo lường các biến nhằm đạt được kết quả phù hợp và sự chính xác Sau khi thành lập bảng câu hỏi, nhóm tác giả đem nghiên cứu thử 2 lần, mỗi lần cho 30 đối tượng để đánh giá sơ

bộ thang đo các khái niệm nghiên cứu trước khi nghiên cứu chính thức

Trang 40

3.3.2 Xây dựng các thang đo

Thang đo trong nghiên cứu này được dựa vào lý thuyết để xây dựng, có 7 yếu tố được nghiên cứu là các yếu tố nhận thức về nước ( kí hiệu NC), nhận thức về không khí ( kí hiệu KK), nhận thức về tiếng ồn ( kí hiệu TO), nhận thức về rác thải (kí hiệu RT), nhận thức về rừng ( kí hiệu RR), nhận thức về đất đai ( kí hiệu DD)

và nhận thức về môi trường chung( kí hiệu MT)

Xây dựng thang đo về nhận thức nước trong nhận thức về môi trường chung của sinh viên

Thang đo này được thiết kế có 4 biến quan sát, thang đo này dùng để đo lường nhận thức của sinh viên về yếu tố nước trong môi trường chung được mã hóa

kí hiệu thành biến NC1, NC2, NC3, NC4

Bảng 3.1 THANG ĐO VỀ NHẬN THỨC NƯỚC

NC1 Đánh giá của bạn về thực trạng vấn đề nước hiện nay NC2 Đánh giá mức độ ảnh hưởng của vấn đề ô nhiễm nước tới

sức khỏe và cuộc sống của bạn NC3 Mức độ đồng ý của bạn về vấn đề: “ tăng cường đầu tư

vào xử lý ô nhiễm nguồn nước, cạn kiệt nguồn nước” NC4 Mức độ đồng ý của bạn về vấn đề: “ tiết kiệm nước là rất

Ngày đăng: 18/12/2012, 12:06

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 4.1: Đánh giá của sinh viên về mức độ nghiêm trọng của các vấn đề môi  trường - Nhận thức của sinh viên đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh về vấn đề môi trường
Hình 4.1 Đánh giá của sinh viên về mức độ nghiêm trọng của các vấn đề môi trường (Trang 48)
Hình 4.3: Khả năng thích nghi của con người trước những biến đổi của môi  trường phân theo quê quán (Câu 30) - Nhận thức của sinh viên đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh về vấn đề môi trường
Hình 4.3 Khả năng thích nghi của con người trước những biến đổi của môi trường phân theo quê quán (Câu 30) (Trang 50)
Hình 4.8: Mức độ cần thiết của những môn học về môi trường. - Nhận thức của sinh viên đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh về vấn đề môi trường
Hình 4.8 Mức độ cần thiết của những môn học về môi trường (Trang 57)
Hình 4.11: Mức độ dự báo trung bình của từng trường về tình hình môi  trường trong tương lai - Nhận thức của sinh viên đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh về vấn đề môi trường
Hình 4.11 Mức độ dự báo trung bình của từng trường về tình hình môi trường trong tương lai (Trang 60)
Bảng Thống kê mô tả. - Nhận thức của sinh viên đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh về vấn đề môi trường
ng Thống kê mô tả (Trang 81)
Bảng 2: KIỂM ĐỊNH T-TEST VỚI NHÂN TỐ GIỚI TÍNH. - Nhận thức của sinh viên đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh về vấn đề môi trường
Bảng 2 KIỂM ĐỊNH T-TEST VỚI NHÂN TỐ GIỚI TÍNH (Trang 103)
Bảng 3: KIỂM ĐỊNH ANOVA VỚI YẾU TỐ SINH VIÊN NĂM - Nhận thức của sinh viên đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh về vấn đề môi trường
Bảng 3 KIỂM ĐỊNH ANOVA VỚI YẾU TỐ SINH VIÊN NĂM (Trang 109)
Bảng 5: KIỂM ĐỊNH ANOVA VỚI YẾU TỐ QUÊ QUÁN - Nhận thức của sinh viên đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh về vấn đề môi trường
Bảng 5 KIỂM ĐỊNH ANOVA VỚI YẾU TỐ QUÊ QUÁN (Trang 119)
Bảng 7: KIỂM ĐỊNH T-TEST VỚI YÊU TỐ VÙNG MIỀN - Nhận thức của sinh viên đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh về vấn đề môi trường
Bảng 7 KIỂM ĐỊNH T-TEST VỚI YÊU TỐ VÙNG MIỀN (Trang 130)
BẢNG 2: KẾT QUẨ PHÂN TÍCH BIẾN PHỤ THUỘC LÀ NHẬN THỨC VỀ KHÔNG  KHÍ - Nhận thức của sinh viên đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh về vấn đề môi trường
BẢNG 2 KẾT QUẨ PHÂN TÍCH BIẾN PHỤ THUỘC LÀ NHẬN THỨC VỀ KHÔNG KHÍ (Trang 141)
BẢNG 3:  KẾT QUẢ PHÂN TÍCH BIẾN PHỤ THUỘC LÀ NHẬN THỨC VỀ TIẾNG ỒN. - Nhận thức của sinh viên đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh về vấn đề môi trường
BẢNG 3 KẾT QUẢ PHÂN TÍCH BIẾN PHỤ THUỘC LÀ NHẬN THỨC VỀ TIẾNG ỒN (Trang 143)
BẢNG 4: KẾT QUẢ PHÂN TÍCH BIẾN PHỤ THUỘC LÀ NHẬN THỨC VỀ RÁC THẢI - Nhận thức của sinh viên đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh về vấn đề môi trường
BẢNG 4 KẾT QUẢ PHÂN TÍCH BIẾN PHỤ THUỘC LÀ NHẬN THỨC VỀ RÁC THẢI (Trang 145)
BẢNG 5: KẾT QUẢ PHÂN TÍCH BIẾN PHỤ THUỘC LÀ NHẬN THỨC VỀ NƯỚC - Nhận thức của sinh viên đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh về vấn đề môi trường
BẢNG 5 KẾT QUẢ PHÂN TÍCH BIẾN PHỤ THUỘC LÀ NHẬN THỨC VỀ NƯỚC (Trang 147)
BẢNG 7: KẾT QUẢ PHÂN TÍCH BIẾN PHỤ THUỘC LÀ NHẬN THỨC VỀ ĐẤT ĐAI. - Nhận thức của sinh viên đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh về vấn đề môi trường
BẢNG 7 KẾT QUẢ PHÂN TÍCH BIẾN PHỤ THUỘC LÀ NHẬN THỨC VỀ ĐẤT ĐAI (Trang 151)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w