ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT BÀI TẬP NHÓM HỌC PHẦN LUẬT CẠNH TRANH ĐỀ SỐ 13 SỰ ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT CẠNH TRANH ĐỐI VỚI HỢP ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI Mục lục I HỢP ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG[.]
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT
BÀI TẬP NHÓM HỌC PHẦN: LUẬT CẠNH TRANH
ĐỀ SỐ 13
SỰ ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT CẠNH TRANH ĐỐI VỚI HỢP
ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI
Trang 2Mục lục
II SỰ ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT CẠNH TRANH ĐỐI VỚI CÁC HỢP ĐỒNG
1.2 Nội dung pháp luật về hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng nhượng quyền thương
2 Các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường trong hợp đồng nhượng quyền thương
2.1 Mối quan hệ giữa hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường với hợp đồng
2.2 Điều chỉnh hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường trong hợp đồng nhượng quyền thương mại theo quy định của pháp luật cạnh tranh 14
III PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI MỘT SỐ
3 Pháp luật Mehico về hợp đồng nhượng quyền thương mại 21
4 Pháp luật Trung Quốc về hợp đồng nhượng quyền thương mại 21
5 Pháp luật Australia về hợp đồng nhượng quyền thương mại 21
IV THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT CẠNH TRANH TRONG HỢP ĐỒNG
1 Thực tiễn pháp luật về hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng nhượng quyền thương mại.
2.3 Hành vi buộc bên nhận quyền chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp
V MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT CẠNH TRANH ĐỐI VỚI
Trang 4I HỢP ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI
1 Khái niệm hợp đồng nhượng quyền thương mại
Ở Việt Nam, tính đến thời điểm hiện nay, pháp luật không có bất cứ một địnhnghĩa cụ thể nào về nội hàm của khái niệm hợp đồng nhượng quyền thương mại,ngoài việc ghi nhận hoạt động nhượng quyền thương mại như một hoạt động thươngmại độc lập tại Điều 284 Luật thương mại năm 2005 Tuy vậy, trong hệ thống phápluật Việt Nam, Bộ luật dân sự được coi như gốc của tất cả các quan hệ hợp đồng,trong đó có hợp đồng nhượng quyền thương mại Từ nguyên tắc chỉ đạo này, hợpđồng nhượng quyền thương mại có thể được coi như một dạng hợp đồng dân sự Theo
đó, có thể hiểu hợp đồng nhượng quyền thương mại là sự thỏa thuận giữa bên nhượngquyền và bên nhận quyền nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụtrong hoạt động nhượng quyền thương mại theo quy định tại Điều 284 Luật thươngmại năm 2005:
“Nhượng quyền thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên nhượngquyền cho phép và yêu cầu bên nhận quyền tự mình tiến hành việc mua bán hàng hoá,cung ứng dịch vụ theo các điều kiện sau đây:
(i) Việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ được tiến hành theo cách thức tổchức kinh doanh do bên nhượng quyền quy định và được gắn với nhãn hiệu hàng hoá,tên thương mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh,quảng cáo của bên nhượng quyền;
(ii) Bên nhượng quyền có quyền kiểm soát và trợ giúp cho bên nhận quyềntrong việc điều hành công việc kinh doanh.”
2 Đặc điểm hợp đồng nhượng quyền thương mại
Hợp đồng nhượng quyền thương mại thường có những đặc trưng cơ bản sau:
Thứ nhất, về mặt chủ thể của hợp đồng, bên nhượng quyền bắt buộc phải có
một hệ thống và cơ sở kinh doanh có lợi thế cạnh tranh trên thị trường theo Nghị định35/2006/NĐ-CP,
(i) Hệ thống kinh doanh dự định dùng để nhượng quyền đã được hoạt động ítnhất 01 năm
Trường hợp thương nhân Việt Nam là Bên nhận quyền sơ cấp từ Bên nhượngquyền nước ngoài, thương nhân Việt Nam đó phải kinh doanh theo phương thức
Trang 5nhượng quyền thương mại ít nhất 01 năm ở Việt Nam trước khi tiến hành cấp lạiquyền thương mại.
(ii) Đã đăng ký hoạt động nhượng quyền thương mại với cơ quan có thẩmquyền theo quy định tại Điều 18 của Nghị định này
(iii) Hàng hoá, dịch vụ kinh doanh thuộc đối tượng của quyền thương mạikhông vi phạm quy định tại Điều 7 của Nghị định này
Thương nhân được phép nhận quyền thương mại khi có đăng ký kinh doanhngành nghề phù hợp với đối tượng của quyền thương mại
Thứ hai, giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền luôn tồn tại một mối quan hệ hỗ trợ mật thiết
Đây là một đặc điểm giúp chúng ta tìm thấy sự khác biệt của nhượng quyềnthương mại với các hoạt động thương mại khác Trong nhượng quyền thương mạiluôn tồn tại mối quan hệ hỗ trợ mật thiết giữa Bên nhượng quyền và Bên nhận quyền,nếu không có điều đó, thì đã thiếu đi một điều kiện tiên quyết để xác định hoạt độngđấy có phải là nhượng quyền thương mại hay không
Mục đích và cũng là yêu cầu của nhượng quyền thương mại là việc nhân rộngmột mô hình kinh doanh đã được trải nghiệm thành công trên thương trường Chính vìvậy, đối với nhượng quyền thương mại thì cần phải bảo đảm được tính đồng nhất vềcác yếu tố liên quan trực tiếp đến quy trình kinh doanh đó như: chất lượng hàng hoá,dịch vụ; phương thức phục vụ; cách thức bài trí cơ sở kinh doanh (từ hình ảnh bênngoài cho đến khu vực bên trong của cơ sở); việc sử dụng nhãn hiệu hàng hoá, biểutượng kinh doanh, tên thương mại của bên nhượng quyền; hoạt động quảng bá,khuyến mại; đồng phục của nhân viên; các ấn phẩm của cơ sở kinh doanh…Tính đồngnhất trong các mắt xích của một hệ thống nhượng quyền thương mại chỉ có thể đượcbảo đảm khi giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền luôn duy trì mối quan hệ mậtthiết với nhau trong suốt thời gian tồn tại quan hệ nhượng quyền thương mại
Tính mật thiết của mối quan hệ giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền thểhiện từ ngay sau khi các bên hình thành nên quan hệ nhượng quyền thương mại Kể từthời điểm đó, bên nhượng quyền phải tiến hành việc cung cấp tài liệu, đào tạo nhânviên của bên nhận quyền Không chỉ vậy, mà cùng với sự lớn mạnh và phát triển theothời gian của hệ thống, Bên nhượng quyền phải thường xuyên trợ giúp kỹ thuật, đàotạo nhân viên của bên nhận quyền đối với những ứng dụng mới áp dụng chung cho cả
hệ thống
Trang 6Thứ ba, về thời hạn hợp đồng, hợp đồng nhượng quyền thương mại thông
thường là những hợp đồng dài hạn
Thứ tư, nội dung của hợp đồng nhượng quyền thương mại là các điều
khoản do các bên thỏa thuận, xác định quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệnhượng quyền thương mại Khi tham gia hợp đồng này thì các bên sẽ trao đổi vớinhau những quyền mà mình được hưởng đồng thời trao đổi với nhau về những nghĩa
vụ mà mình phải thực hiện
Các điều khoản về kiểm soát của bên nhượng quyền đối với bên nhận quyềntrong hoạt động nhượng quyền thương mại là một đặc trưng cơ bản của loại hợp đồngnày
Quyền kiểm soát của Bên nhượng quyền đối với việc điều hành hoạt động kinhdoanh của Bên nhận quyền được pháp luật đa số các quốc gia trên thế giới thừa nhận.Theo đó, Bên nhượng quyền có thể định kỳ hoặc đột xuất kiểm tra việc thực hiện cácquyền thương mại của Bên nhận quyền Sự hỗ trợ của Bên nhượng quyền đối với Bênnhận quyền như đã nói ở trên sẽ trở nên vô nghĩa và thiếu đi tính thực tế nếu như Bênnhượng quyền không có quyền năng kiểm soát hoạt động điều hành kinh doanh củaBên nhận quyền Quyền năng này của Bên nhượng quyền đã thực sự tạo nên chất kếtdính quan trọng trong việc xây dựng tính thống nhất của hệ thống nhượng quyềnthương mại và sự ổn định về chất lượng hàng hoá và dịch vụ
Thứ năm, về hình thức hợp đồng, Hợp đồng nhượng quyền thương mại phải
được lập thành văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương nhưfax, telex…
Thứ sáu, đối tượng của hợp đồng nhượng quyền thương mại là quyền
thương mại Quyền thương mại được hiểu là quyền tiến hành kinh doanh hàng hoá,dịch vụ theo cách thức của bên nhượng quyền quy định, cùng với đó là việc được sửdụng nhãn mác, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểutượng kinh doanh, quảng cáo…của bên nhượng quyền Trong quan hệ nhượng quyềnthương mại, nội dung cốt lõi chính là việc bên nhượng quyền cho phép bên nhậnquyền được sử dụng quyền thương mại của mình trong kinh doanh
Trang 7II SỰ ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT CẠNH TRANH ĐỐI VỚI CÁC HỢP ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM
1 Các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
1.1 Các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
a) Khái niệm
Các thỏa thuận phản cạnh tranh là các thỏa thuận giữa các doanhnghiệp, tham gia vào hoạt động kinh doanh các loại hàng hóa, dịch vụ giống haytương tự như nhau hoặc khác nhau nhưng có tiềm năng hạn chế cạnh tranh Luật cạnhtranh của đa số các nước trên thế giới đều phân biệt rõ giữa “thỏa thuận theo chiềungang” và “thỏa thuận theo chiều dọc” Các thỏa thuận giữa các đối thủ cạnh tranhthường được gọi là thỏa thuận theo chiều ngang, đây là những thỏa thuận ngầm hoặccông khai gây hạn chế khả năng hành động một cách độc lập của các đối thủ cạnhtranh, bao gồm những hành vi từ liên doanh, liên kết trong hoạt động quảng cáo vàmarketing, hoạt động của hiệp hội kinh doanh đến ấn định giá và gian lận trong đấuthầu Một trong những hình thức đặc biệt nguy hiểm của thỏa thuận ngang là cartel
Ở Việt Nam, nền kinh tế thị trường phát triển muộn, hoạt động nhượng quyềnthương mại mới xuất hiện từ những năm 90s trở lại đây và chính thức được quy địnhtrong Luật Thương mại 2005 từ Điều 284 đến Điều 289 và các thỏa thuận hạn chếcạnh tranh trong hợp đồng nhượng quyền thương mại tại Việt Nam sẽ được điều chỉnhbởi pháp luật cạnh tranh Luật Cạnh tranh Việt Nam cũng mới được ban hành năm
2018 Trong Luật Cạnh tranh, các nhà làm luật không chia các thỏa thuận cạnh tranh
ra thành chiều ngang hay chiều dọc, mà quy định mang tính chất liệt kê cụ thể
Khái niệm về thoả thuận hạn chế cạnh tranh được quy định tại Điều 3 LuậtCạnh Tranh 2018 : “Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là hành vi thỏa thuận giữa các bêndưới mọi hình thức gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh”
b) Đặc điểm
Thứ nhất, về chủ thể tham gia thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là các doanh
nghiệp hoạt động độc lập.Theo Luật Cạnh tranh 2018 thì thỏa thuận hạn chế cạnhtranh diễn ra giữa các doanh nghiệp Doanh nghiệp theo quy định của luật doanh
nghiệp 2020 thì Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch,
Trang 8được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đíchkinh doanh Còn trong pháp luật cạnh tranh thì doanh nghiệp bao gồm tổ chức, cánhân kinh doanh Các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận phải hoạt động độc lập vớinhau và hoàn toàn không phụ thuộc với nhau về tài chính Ý chí của các doanh nghiệptham gia thỏa thuận cũng phải là ý chí độc lập của mỗi bên, không thể bị ép buộc.Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh có thể diễn ra giữa các doanh nghiệp là đối thủ cạnhtranh của nhau trên một thị trường liên quan hoặc giữa các bên không phải đối thủ củanhau Như vậy, trường hợp công ty mẹ – công ty con, hay giữa công ty với đại lý củamình có sự thỏa thuận thì không coi là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh.
Thứ hai, thỏa thuận hạn chế cạnh tranh chỉ được hình thành khi có sự thống
nhất ý chí của các bên tham gia thỏa thuận Sự thống nhất cùng hành động giữa cácdoanh nghiệp tham gia thỏa thuận được thể hiện công khai hoặc không công khai Đây
là dấu hiệu quan trọng nhất của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, các hành vi giống nhaucủa các doanh nghiệp chưa đủ để chứng minh là đã có thỏa thuận giữa họ, mà phải có
sự thống nhất ý chí cùng hành động của các bên tham gia thỏa thuận Ở dấu hiệu này,chúng ta cần phân biệt sự thống nhất ý chí của các doanh nghiệp với sự thống nhất vềmục đích của doanh nghiệp khi tham gia thỏa thuận hạn chế cạnh tranh Khi thốngnhất thực hiện hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, các doanh nghiệp có thể cùnghoặc không cùng một mục đich theo đuổi.Ví dụ: Đều cùng tham gia một thỏa thuậnnhưng doanh nghiệp A có mục đích mở rộng thị trường nhưng doanh nghiệp B lạimuốn loại bỏ một doanh nghiệp khác là đối thủ cạnh tranh
Nội dung thỏa thuận thường là về việc ấn định giá, phân chia thị trường tiêuthụ, hạn chế nguồn cung Pháp luật Việt Nam chỉ ghi nhận một thỏa thuận vi phạmmột trong các hình thức vi phạm thỏa thuận hạn chế cạnh tranh khi đã có đủ bằngchứng kết luận giữa họ đã tồn tại một hợp đồng chính thức bằng văn bản (hợp đồng,bản ghi nhớ…); hoặc có thể bằng hình thức không thành văn bản như: các cuộc gặpmặt, họp bàn… nhưng phải có sự ghi nhận ở những tài liệu liên quan
Thứ ba, hậu quả của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là làm giảm sức ép cạnh
tranh, làm sai lệch hoặc cản trở cạnh tranh trên thị trường Thỏa thuận cạnh tranh gây
ra cho thị trường sự xóa bỏ cạnh tranh, các đối thủ trên thị trường sẽ không còn cạnhtranh nữa Hậu quả của nó có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người tiêu dùng
và gây thiệt hại cho các doanh nghiệp không tham gia việc thỏa thuận
Trang 9c) Phân loại
Luật cạnh tranh của đa số các nước trên thế giới đều phân biệt rõ giữa “thỏathuận theo chiều ngang” và “thỏa thuận theo chiều dọc” Các thỏa thuận giữa các đốithủ cạnh tranh thường được gọi là thỏa thuận theo chiều ngang, đây là những thỏathuận ngầm hoặc công khai gây hạn chế khả năng hành động một cách độc lập của cácđối thủ cạnh tranh, bao gồm những hành vi từ liên doanh, liên kết trong hoạt độngquảng cáo và marketing, hoạt động của hiệp hội kinh doanh đến ấn định giá và gianlận trong đấu thầu Các thỏa thuận giữa nhà cung ứng và người mua sản phẩm haydịch vụ ở các cấp độ khác nhau của chuỗi phân phối hay sản xuất, được gọi là thỏathuận theo chiều dọc bao gồm những thỏa thuận công khai bằng hợp đồng, bằngmiệng hoặc ngấm ngầm bằng một hành vi tập thể giữa doanh nghiệp sản xuất, nhà bánbuôn, người bán lẻ có thể đưa đến những hạn chế
Tại nước ta, trong Luật Cạnh tranh, các nhà làm luật không chia các thỏa thuậncạnh tranh ra thành chiều ngang hay chiều dọc, mà quy định mang tính chất liệt kê cụthể Những thỏa thuận hạn chế cạnh tranh được quy định tại Điều 11 Luật Cạnh tranh
2018 bao gồm các hành vi sau đây: Thỏa thuận ấn định giá hàng hóa, dịch vụ mộtcách trực tiếp hoặc gián tiếp; Thỏa thuận phân chia khách hàng, phân chia thị trườngtiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ; Thỏa thuận hạn chế hoặc kiểmsoát số lượng, khối lượng sản xuất, mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ; Thỏa thuận
để một hoặc các bên tham gia thỏa thuận thắng thầu khi tham gia đấu thầu trong việccung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ; Thỏa thuận ngăn cản, kìm hãm, không chodoanh nghiệp khác tham gia thị trường hoặc phát triển kinh doanh; Thỏa thuận loại bỏkhỏi thị trường những doanh nghiệp không phải là các bên tham gia thỏa thuận; Thỏathuận hạn chế phát triển kỹ thuật, công nghệ, hạn chế đầu tư; Thỏa thuận áp đặt hoặc
ấn định điều kiện ký kết hợp đồng mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ cho doanhnghiệp khác hoặc thỏa thuận buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ khôngliên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng; Thỏa thuận không giao dịch với cácbên không tham gia thỏa thuận; Thỏa thuận hạn chế thị trường tiêu thụ sản phẩm,nguồn cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ của các bên không tham gia thỏa thuận;Thỏa thuận khác gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh
Trang 101.2 Nội dung pháp luật về hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng nhượng quyền thương mại.
Nội dung pháp luật về hạn chế cạnh tranh trong hoạt động nhượng quyềnthương mại Pháp luật về hạn chế cạnh tranh trong hoạt động nhượng quyền thươngmại là tổng hợp quy phạm pháp luật được ban hành hoặc thừa nhận điều chỉnh nhómhành vi gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh trong nhượngquyền thương mại
Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh được quy định tại điều 11 Luật cạnh tranh 2018của VIệt Nam bao gồm:
Điều 11 Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
1 Thỏa thuận ấn định giá hàng hóa, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp
2 Thỏa thuận phân chia khách hàng, phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ
3 Thỏa thuận hạn chế hoặc kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ
4 Thỏa thuận để một hoặc các bên tham gia thỏa thuận thắng thầu khi tham gia đấu thầu trong việc cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ
5 Thỏa thuận ngăn cản, kìm hãm, không cho doanh nghiệp khác tham gia thị trường hoặc phát triển kinh doanh
6 Thỏa thuận loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không phải là các bên tham gia thỏa thuận
7 Thỏa thuận hạn chế phát triển kỹ thuật, công nghệ, hạn chế đầu tư
8 Thỏa thuận áp đặt hoặc ấn định điều kiện ký kết hợp đồng mua, bán hàng hóa, cungứng dịch vụ cho doanh nghiệp khác hoặc thỏa thuận buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng
9 Thỏa thuận không giao dịch với các bên không tham gia thỏa thuận
10 Thỏa thuận hạn chế thị trường tiêu thụ sản phẩm, nguồn cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ của các bên không tham gia thỏa thuận
11 Thỏa thuận khác gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh
Căn cứ vào pháp luật hiện hành, các thỏa thuận giữa bên nhượng quyền và bênnhận quyền được ghi nhận trong hợp đồng nhượng quyền thương mại có thể dẫn tớithỏa thuận hạn chế cạnh tranh sau:
Trang 11Thứ nhất, thoả thuận phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hóa,cung ứng dịch vụ thông qua việc kí kết một hợp đồng nhượng quyền thương mại độcquyền Theo thỏa thuận này, trong một phạm vi khu vực địa lý nhất định một thịtrường xác định bên nhượng quyền chỉ được nhượng quyền thương mại của mình chomột bên nhượng quyền duy nhất Theo đó, bên nhận quyền có thể khai thác “quyềnthương mại” được nhượng một cách an toàn và ổn định do đó đã hạn chế được các đốithủ cạnh tranh tiềm năng tham gia thị trường
Thực chất các thỏa thuận này, trong một chừng mực nhất định là các thỏa thuậnngăn cấm, kìm hãm không cho các doanh nghiệp khác, bên nhượng quyền khác, bênnhận quyền khác tham gia thị trường phát triển kinh doanh hoặc loại bỏ khỏi thịtrường những doanh nghiệp không phải là các bên trong thảo thuận Điều đó có nghĩa
là các hạn chế này rơi vào trường hợp hạn chế cạnh tranh quy định tại khoản 1, khoản
2, khoản 5, khoản 6 của điều 11 Luật cạnh tranh 2018
Ngoài ra, quan hệ nhượng quyền thương mại tạo ra hệ thống các cửa hàng, cơ
sở cùng sử dụng một tên thương mại để cung ứng hàng hóa dịch vụ trên thị trường.Trong khi đó, sự độc lập của một cơ sơ, cửa hàng trong hệ thống lại làm cho các cơ sởnày có khả năng cạnh tranh lẫn nhau để có thể thu hút được khách hàng Tuy nhiên,các điều khoản cấm cạnh tranh trong hệ thống lại làm cho chủ sở hữu các cơ sởnhượng quyền không được phép sáng tạo ra những lợi thế cạnh tranh cho riêng mình
ví dụ như giảm giá bán, cung ứng với số lượng nhiều hơn Có thể nói, dưới một tênthương mại duy nhất, bên nhượng quyền bắt buộc phải đảm bảo lợi ích cho tất cả cácbên nhượng quyền một cách công bằng Vì vậy, đối với bên nhận quyền cách tốt nhất
để hạn chế cạnh tranh là yêu cầu giao kết một hợp đồng nhượng quyền thương mạiđộc quyền Đối với bên nhượng quyền cũng có thể yêu cầu bên nhận quyền, trong suốtthời gian có hiệu lực của hợp đồng không được phép nhận thêm bất cứ một quyềnthượng mại nào khác
Thứ hai, thường thấy trong các hợp đồng nhượng quyền thương mại quy định
về ấn định giá bán cho các thành viên trong hệ thống nhượng quyền Với lý do nhằmbảo đảm tính thống nhất, bên nhượng quyền thường đưa vào trong hợp đồng nhượngquyền thương mại các điều khoản nhằm loại bỏ sự cạnh tranh về giá của các bên nhậnquyền trong toàn hệ thống Ấn định về gía bán dưới dạng các điều khoản về: đảm bảomột mức giá thống nhất, các bên nhận quyền không được cạnh tranh về giá với nhau,các bên nhận quyền không được phép tăng đơn vị sản phẩm bán ra trong cùng mứcgiá
Thứ ba, thỏa thuận ngăn cản kìm hãm không cho doanh nghiệp khác tham giathị trường, hoặc phát triền kinh doanh bằng cách thống nhất về việc từ chối mua hàng
Trang 12hoặc bán hàng cho bên thứ ba nếu như nhận thấy việc này có khả năng gây ra nhữngthiệt hại đối với quyền thương mại mà các bên đang khai thác Đây là thoả thuận hạnchế cạnh tranh với mục đích là không cho bên thứ ba tham gia giao dịch mà không hềquan tâm đến điều kiện mua hàng cũng như chất lượng hàng hóa mà bên thứ ba có thểcung cấp Nó được quy định ở khoản 9 và khoản 10 điều 11 Các thỏa thuận này dùmang tính chất hạn chế cạnh tranh nhưng vẫn được coi là tồn tại hợp pháp khi lấy yêucầu về tính đồng bộ của hệ thống nhượng quyền Thực tế trên thị trường lại tồn tại rấtnhiều bên thứ ba có khả năng cung ứng nguyên nhiên liệu về giá rẻ, chất lượng đạttiêu chuẩn theo yêu cầu của hệ thống nhượng quyền nhưng không thể trở thành nhàcung cấp vì đã bị ràng buộc bởi một số điều khoản hạn chế cạnh tranh Việc ngăn cảncạnh tranh của các đối thủ trên thị trường liên quan, sẽ ảnh hưởng đáng kể đến lợi íchcủa người tiêu dùng và nền kinh tế Sự ảnh hưởng này có thể xuất hiện nếu pháp luậtđiều chỉnh nhượng quyền thương mại không được giải quyết thấu đáo trong mối quan
hệ pháp luật cạnh tranh
Thứ tư, thỏa thuận hạn chế phát triển kỹ thuật, công nghệ là việc thống nhấtmua phát minh, sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghệ để tiêu hủy hoặckhông sử dụng của các bên trong hợp đồng nhượng quyền thương mại Thỏa thuậnhạn chế đầu tư là việc thống nhất không đưa thêm vốn để mở rộng sản xuất, cải tiếnchất lượng hàng hoá, dịch vụ hoặc để nghiên cứu phát triển khác Thỏa thuận hạn chếphát triển kỹ thuật – công nghệ, hạn chế đầu tư hàm chứa trong nó khả năng kìm hãm
sự phát triển khoa học – kỹ thuật hoặc kìm hàm mức độ đầu tư trên thị trường Việccác doanh nghiệp tham gia thỏa thuận thống nhất mua các giá trị kỹ thuật – công nghệmới được phát minh để tiêu hủy hoặc không sử dụng đã làm cho thị trường không có
cơ hội thụ hưởng những thành quả sáng tạo của con người, làm cho khoa học, côngnghệ và kỹ thuật khó có thể phát triển những bước tiếp theo, loại trừ khả năng cạnhtranh giữa họ về công nghệ, kỹ thuật Ngoài ra, việc hạn chế mức độ đầu tư làm giảm
đi khả năng phát triển trên thị trường liên quan, kìm hãm khả năng cạnh tranh và mởrộng quy mô kinh doanh từ thoả thuận có tính chiến lược kìm hãm của các doanhnghiệp
Trang 132 Các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường trong hợp đồng nhượng quyền thương mại
2.1 Mối quan hệ giữa hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường với hợp đồng nhượng quyền thương mại
Theo quy định của pháp luật cạnh tranh Việt Nam, lạm dụng vị trí thống lĩnh
có thể là hành vi của một hoặc một nhóm doanh nghiệp có năng lực thị trường đủmạnh để gây ảnh hưởng đến cạnh tranh trên thị trường Theo đó, doanh nghiệp hoặcnhóm doanh nghiệp có năng lực thị trường từ 30% thị phần trên thị trường liên quantrở lên hoặc có sức mạnh thị trường đáng kể theo điều 24, 26 LCT 2018 (trường hợp
là một doanh nghiệp), từ 50% thị phần trên thị trường liên quan (đối với hai doanhnghiệp), từ 65% thị phần trên thị trường liên quan (đối với ba doanh nghiệp), từ 75%thị phần trên thị trường liên quan (đối với bốn doanh nghiệp), từ 85% thị phần trên thịtrường liên quan( đối với năm doanh nghiệp) sẽ được coi là có vị trí thống lĩnh thịtrường Như vậy, cũng mặc nhiên quy định trường hợp doanh nghiệp có thị phần íthơn 10% trên thị trường liên quan thì không được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường
Trong quan hệ nhượng quyền thương mại, hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnhthị trường thường là hành vi của bên nhượng quyền và thường tồn tại dưới các hìnhthức như: Ấn định giá bán lại tối thiểu gây thiệt hại cho bên nhận quyền, Áp đặt giábán bất hợp lý đối với bên nhận quyền, Buộc bên nhận quyền chấp nhận các nghĩa vụkhông liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng nhượng quyền thương mại,
Xét về mặt lý thuyết liên quan đến bản chất của các hành vi mang tínhchất hạn chế cạnh tranh nói chung và các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh nói riêngthì rõ ràng quan hệ nhượng quyền thương mại chứa đựng những cơ hội, mà từ đó cácbên có thể thực hiện một hoặc một số hành vi đi ngược lại với lợi ích của cạnh tranh
Những lợi thế nhất định của bên nhượng quyền đối với bên nhận quyền trongkhi giao kết hợp đồng nhượng quyền thương mại có thể được xem xét dưới góc độhành vi của một doanh nghiệp chiếm vị trí thống lĩnh, đối với một doanh nghiệp kháctheo quy định của pháp luật cạnh tranh Hơn nữa, sự kết hợp của bên nhận quyền vànhượng quyền trong một nỗ lực chung là gạt bỏ các tác nhân có khả năng gây hại tới
hệ thống nhượng quyền thương mại cũng có thể cấu thành hành vi của các doanhnghiệp chiếm vị trí thống lĩnh trên thị trường đối với các doanh nghiệp khác
Trang 14Hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường chỉ có thể được thực hiện bởi mộthoặc một số chủ thể kinh doanh nắm trong tay quyền lực thị trường và phải cùng kinhdoanh trên một thị trường liên quan Tính chất đặc biệt về chủ thể thực hiện này làmcho hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường tỏ ra rất có hiệu quả trong việc hạnchế cạnh tranh Nếu việc sử dụng quyền lực thị trường vượt qua giới hạn hợp lý, hành
vi của các thương nhân nói trên sẽ trở thành hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thịtrường, ảnh hưởng nghiêm trọng đến cạnh tranh và có thể bị cấm theo quy định củapháp luật cạnh tranh
Căn cứ vào đối tượng chịu tác động, hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thịtrường trong hợp đồng nhượng quyền thương mại có thể được nhận diện ở hai dạng,gồm đối tượng của hành vi là bên nhận quyền và đối tượng của hành vi là bên thứ ba
Thứ nhất, đối tượng bị ảnh hưởng của hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh là bên
nhận quyền Đối tượng thực hiện hành vi lạm dụng chính là bên nhượng quyền Bên
nhượng quyền là bên thiết kế và xây dựng thành công một tập hợp các “quyền thươngmại” có giá trị là đối tượng của hợp đồng nhượng quyền thương mại “Quyền thươngmại” bao gồm những giá trị đem lại ưu thế của bên sở hữu và bên nhận nhượng quyền,
do đó, khi giao kết hợp đồng chuyển nhượng, bên nhượng quyền thường đặt ra nhiềuđiều kiện khắt khe đối với bên nhận quyền, chẳng hạn như thỏa thuận vị trí kinh doanhcủa các bên trong cùng hệ thống nhượng quyền thương mại, thỏa thuận cung ứngnguồn nguyên liệu, sản phẩm, dịch vụ kèm theo, Để có thể kết luận được về việcbên nhượng quyền có vi phạm pháp luật cạnh tranh hay không phụ thuộc vào việcxem xét các lợi thế của bên nhượng quyền và việc bên nhượng quyền sử dụng nhữnglợi thế đó như thế nào trong quan hệ với bên nhận quyền, thị phần mà bên này nắmgiữ, và quan trọng hơn cả, đó là xem xét liệu có tồn tại hay không tính chất cạnh tranhgiữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền
Đối với trường hợp thứ nhất, khi bên nhượng quyền là bên có quyền lực thịtrường, sở hữu một vị trí thống lĩnh, chiếm từ 30% thị phần trên thị trường liên quan,bên này sẽ có thể thực hiện hành vi:
▪ Thỏa thuận ấn định giá hàng hóa, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc giántiếp
▪ Thỏa thuận phân chia khách hàng, phân chia thị trường tiêu thụ, nguồncung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ
Trang 15▪ Thỏa thuận hạn chế hoặc kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua,bán hàng hóa, cung dịch vụ
▪ Thỏa thuận ngăn cản, kìm hãm, không cho doanh nghiệp khác tham giathị trường hoặc phát triển kinh doanh
▪ Thỏa thuận loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không phải làcác bên tham gia thỏa thuận
▪ Thỏa thuận hạn chế phát triển kỹ thuật, công nghệ, hạn chế đầu tư
▪ Thỏa thuận áp đặt hoặc ấn định điều kiện ký kết hợp đồng mua, bánhàng hóa, cung ứng dịch vụ cho doanh nghiệp khác hoặc thỏa thuận buộc doanhnghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợpđồng
Thứ hai, đối tượng bị ảnh hưởng của hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh là các
bên thứ ba Đối tượng thực hiện hành vi lạm dụng chính là bên nhận quyền và bênnhượng quyền Trong trường hợp này, sự kết hợp hành vi giữa bên nhượng quyềnthương mại và các bên nhận quyền sẽ cấu thành hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh vớimục đích loại bỏ các bên thứ ba khỏi thị trường hoặc ngăn cản các bên thứ ba thamgia thị trường Tuy nhiên, cũng giống như trường hợp trên, pháp luật cạnh tranh chỉ cóthể can thiệp nếu thị phần kết hợp của bên nhận quyền và bên nhượng quyền đủ lớn đểtạo ra cho các bên này một vị trí thống lĩnh thị trường và việc các bên này cùng thựchiện các thỏa thuận của hợp đồng nhượng quyền thương mại phải được coi là cùngnhau thực hiện hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh
Hành vi mà nhóm này thỏa thuận thực hiện khi giao kết hợp đồng cũng như đãthực hiện trong thực tế được xem xét nhiều nhất dưới góc độ lạm dụng vị trí thốnglĩnh, đó là hành vi được Luật Cạnh tranh Việt Nam miêu tả là:
khác
▪ Thỏa thuận không giao dịch với các bên không tham gia thỏa thuận
▪ Thỏa thuận hạn chế thị trường tiêu thụ sản phẩm, nguồn cung cấp hànghóa, cung ứng dịch vụ của các bên không tham gia thỏa thuận
▪ Thỏa thuận khác gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chếcạnh tranh
Tuy nhiên, khi đánh giá trường hợp thứ hai này, cần thiết phải xem xét đến yếu
tố “cùng hành động” của các bên
Như vậy, nhìn từ cả góc độ bản chất của thỏa thuận trong quan hệ nhượngquyền thương mại và từ góc độ tính chất hạn chế cạnh tranh của những thỏa thuận này
Trang 16có thể thấy rằng một số những quy định riêng áp dụng để điều chỉnh quan hệ đặc biệtnói trên là thực sự cần thiết Nội dung của những quy định riêng đó sẽ giúp phân biệtgiữa thỏa thuận trong nhượng quyền thương mại với thỏa thuận hạn chế cạnh tranhtheo quy định của Luật Cạnh tranh Việt Nam, đồng thời ấn định giới hạn mà nếu điquá giới hạn đó, một thỏa thuận xuất phát từ quan hệ nhượng quyền thương mại sẽ bịcoi là vi phạm pháp luật cạnh tranh do mức độ tiêu cực đáng kể đối với cạnh tranh màthỏa thuận đó gây ra trên thực tế.
2.2 Điều chỉnh hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường trong hợp đồng nhượng quyền thương mại theo quy định của pháp luật cạnh tranh.
Vị trí thống lĩnh thị trường là vị trí của doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệptrên thị trường liên quan mà nhờ vào vị trí ấy, doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp
có khả năng quyết định các điều kiện giao dịch trên thị trường độc lập với các đối thủcạnh tranh và người tiêu dùng ở mức độ đáng kể Lúc này, cạnh tranh không tự nóthực hiện được chức năng điều tiết, nhà nước buộc phải can thiệp để phần nào thay thếchức năng của cạnh tranh Mục đích của sự can thiệp đó, về cơ bản, không phải làchống vị trí độc quyền của doanh nghiệp Nếu qua nỗ lực ganh đua trên thương trường
mà một doanh nghiệp có được vị thế thống lĩnh thì những cố gắng đó không thể bịtrừng phạt, mà ngược lại phải được xã hội ghi nhận Pháp luật cạnh tranh chỉ chốngnhững hành vi lạm dụng vị trí đó Như đã phân tích ở trên, theo quy định của phápluật cạnh tranh , doanh nghiệp và nhóm doanh nghiệp khi đạt đến một ngưỡng thịphần xác định, hoặc có sức mạnh thị trường đáng kể theo quy định tại điều 26 LCT
2018 thì sẽ được xem là có vị trí thống lĩnh thị trường
Việc xác định thị phần của các doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp là mộtyếu tố không thể thiếu đối với pháp luật cạnh tranh Và yếu tố này sẽ không có ýnghĩa gì nếu không xác định được thị trường liên quan Trong chính sách và pháp luậtcạnh tranh, xác định “thị trường liên quan” là điểm chính yếu nhất Về nguyên tắc, nơi
mà cạnh tranh diễn ra thì gọi là thị trường liên quan: “ Relevant is the market wherethe competition takes place” Hành vi cạnh tranh được pháp luật cạnh tranh điều chỉnh
là hành vi cạnh tranh của các đối thủ cạnh tranh trên một thị trường liên quan Theo
quy định tại điều 3 của Luật cạnh tranh 2018 thì “Thị trường liên quan” là thị trường
của những hàng hóa, dịch vụ có thể thay thế cho nhau về đặc tính, mục đích sử dụng
và giá cả trong khu vực địa lý cụ thể có các điều kiện cạnh tranh tương tự và có sựkhác biệt đáng kể với các khu vực địa lý lân cận” Để xác định “thị trường liên quan”người ta thường dựa vào ba yếu tố: yếu tố loại hàng hóa, dịch vụ; yếu tố không gian
Trang 17và yếu tố thời gian Hàng hóa, dịch vụ có những đặc tính, hình dạng, mục đích sửdụng và giá cả tương tự, có khả năng thay thế cho nhau một cách hợp lý Cái gọi là “thay thế cho nhau một cách hợp lý – reasonable interchangeability” đã trở thành mộttiêu chí phổ biến để xác định thị trường liên quan Một khi các sản phẩm cùng thỏamãn một nhu cầu cơ bản ( ví dụ như gạo, bánh phở, mỳ,…) hoặc chúng được sản xuấtbởi một công nghệ cơ bản mà chi phí chuyển đổi không đáng kể ( ví dụ như nướccam, nước chanh, nước khoáng,…), về nguyên tắc những sản phẩm đó thuộc về mộtthị trường liên quan Thêm vào đó, thị trường địa lý liên quan là một khu vực địa lý cụthể mà ở đó hàng hóa, dịch vụ có khả năng thay thế được cho nhau một cách hợp lývới các điều kiện cạnh tranh tương tự
Chấp nhận cạnh tranh là chịu đựng sức ép, bởi vậy bất kì ai có được vị trí thốnglĩnh này đều tìm cách gạt bỏ, né tránh áp lực mà khai thác vị trí thống lĩnh của mình
Có thể nói, pháp luật cạnh tranh điều chỉnh hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh đối vớinhững doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp đáp ứng một thị phần xác định theo quyđịnh của pháp luật và ngưỡng thị phần đó phải được xác định trên thị trường liênquan, bao gồm thị trường sản phẩm liên quan và thị trường địa lý liên quan
Trong quan hệ nhượng quyền thương mại, bên nhượng quyền và bên nhậnquyền thương mại cùng nhau cung cấp một loại hàng hóa, dịch vụ trên thị trường vàyếu tố về giá cả cũng phải có sự tương đồng đáng kể Ở khía cạnh hàng hóa, dịch vụthì các bên trong quan hệ nhượng quyền thương mại kinh doanh trên cùng một thịtrường sản phẩm liên quan Xét ở góc độ tư cách chủ thể kinh doanh, bên nhượngquyền là một chủ thể pháp lý hoàn toàn độc lập với bên nhận quyền, theo đó thì cácbên tự tiến hành hoạt động kinh doanh, trực tiếp hưởng lợi nhuận và chịu trách nhiệm
về công việc kinh doanh của mình Các bên nhận quyền phải tuân thủ trung thành môhình nhượng quyền thương mại, khai thác bí quyết một cách nhất quán trong mạnglưới nhượng quyền thương mại, phải trả phí khai thác lợi ích cho bên nhượng quyền
và phí sử dụng thương hiệu trong suốt thời gian nhận quyền Bên nhượng quyền cóquyền kiểm soát bên nhận quyền trong việc tuân thủ trung thành mô hình nhượngquyền thương mại Vì vậy, về lý thuyết bên nhượng quyền và bên nhận quyền là cácchủ thể kinh doanh độc lập trên cùng một thị trường liên quan Tuy nhiên, sự độc lậpnày không phải là sự độc lập tuyệt đối Bởi vì, bên nhận quyền một khi đã chấp nhậntham gia vào quan hệ nhượng quyền thương mại, nghĩa là phải chấp nhận mọi yêu cầuhợp lý của bên nhượng quyền nhằm đảm bảo hệ thống nhượng quyền được phát triểnmột cách đồng bộ, thống nhất Và hoạt động kinh doanh của bên nhận quyền chỉ cóthể tồn tại và phát triển ổn định khi hoạt động kinh doanh của bên nhượng quyền vẫn
Trang 18tiếp tục tồn tại và vận hành một cách bình thường Trên thực tế, việc đặt bên nhậnquyền vào cùng một thị trường liên quan với bên nhượng quyền là quá khập khiễng,khi chỉ cần có một sự biến đổi về giá, vận hành kinh doanh của bên nhượng quyềncũng sẽ kéo theo sự biến đổi tương ứng của bên nhận quyền Trong quan hệ nhượngquyền thương mại, chỉ có bên nhượng quyền được phép ấn định giá bán lại tối thiểu,tăng giá sản phẩm hàng hóa dịch vụ.
Hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường trong hợp đồng nhượng quyềnthương mại chỉ có thể được thể hiện dưới hai dạng: một là bên nhượng quyền với bênnhận quyền; hai là giữa bên nhượng quyền, nhận quyền với chủ thể thứ ba trên thịtrường
Đối với trường hợp thứ nhất, khi bên nhượng quyền là bên có quyền lực thịtrường, sở hữu một vị trí thống lĩnh, chiếm từ 30% thị phần trở lên trên thị trường liênquan, bên này sẽ có thể thực hiện hành vi: “Áp đặt điều kiện cho doanh nghiệp kháctrong ký kết hợp đồng mua, bán hàng hóa, dịch vụ hoặc yêu cầu doanh nghiệp khác,khách hàng chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợpđồng dẫn đến hoặc có khả năng dẫn đến ngăn cản doanh nghiệp khác tham gia, mởrộng thị trường hoặc loại bỏ doanh nghiệp khác” (doanh nghiệp khác ở đây có thể hiểu
là chính bên nhận quyền)
Cụ thể là “Áp đặt giá mua, giá bán hàng hóa, dịch vụ bất hợp lý hoặc ấn địnhgiá bán lại tối thiểu gây ra hoặc có khả năng gây ra thiệt hại cho khách hàng” Hệ quảtất yếu là, bên nhận quyền hầu như bị mất khả năng lựa chọn đối tác cung ứng hànghóa, dịch vụ (điều mà lẽ ra là quyền cơ bản của các thương nhân trong điều kiện kinhdoanh bình thường) Hiển nhiên, trong điều kiện này, bên nhượng quyền có “đặcquyền” áp đặt giá bán hàng hóa, dịch vụ đối với bên nhận quyền và đương nhiên, đểtồn tại và phát triển, bên nhận quyền không thể không mua mặc dù biết rõ hành vi ápđặt giá bán này là bất hợp lý
Hành vi buộc bên nhận quyền phải mua hàng hóa/dịch vụ từ bên nhượngquyền hoặc bên thứ ba được chỉ định: là hành vi thường được bên nhượng quyền sửdụng để kiểm soát chất lượng hàng hóa,dịch vụ được cung ứng bởi bên nhận quyền,qua đó bảo vệ tính đồng bộ, vị thế, danh tiếng, hình ảnh của hệ thống nhượng quyền.Bản chất của hành vi này thể hiện ở chỗ, bên nhượng quyền buộc bên nhận quyềnngoài việc việc mua, bán hàng hoá, dịch vụ là đối tượng của hợp đồng, bên nhậnquyền còn phải mua hàng hóa, dịch vụ khác từ bên nhượng quyền hoặc nhà cung cấpkhác được bên nhượng quyền chỉ định trước hoặc thực hiện thêm một hoặc một số
Trang 19nghĩa vụ nằm ngoài phạm vi cần thiết để thực hiện hợp đồng Hành vi lạm dụng vị tríthống lĩnh thị trường thông thường gây ra hậu quả hạn chế cạnh tranh đối với bênnhận quyền trong mối quan hệ với các bên trong hệ thống nhượng quyền và với cácđối thủ cạnh tranh khác ngoài hệ thống Rõ ràng, trong trường hợp này, mặc dù có thểbên nhượng quyền không giữ vị trí thống lĩnh trên thị trường liên quan, nhưng việcyêu cầu bên nhận quyền chỉ được mua hàng hóa, dịch vụ từ chính bên nhượng quyền
vô hình chung đã tự tạo một vị thế thống lĩnh thị trường trong quan hệ với bên nhậnquyền
Đối với trường hợp thứ hai, sự kết hợp thị phần của bên nhượng quyền và bênnhận quyền trên một thị trường, nếu được coi là thị trường liên quan, ở các mức 50%,65%, 75%, 85% trở lên, tuỳ theo số lượng doanh nghiệp kết hợp, sẽ cấu thành nên mộtnhóm các doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh Việc lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trườngcủa các nhóm doanh nghiệp trong quan hệ nhường quyền thương mại, sẽ “ngăn cảnviệc tham gia hoặc mở rộng thị trường của doanh nghiệp khác” Việc kết hợp, cùnghành động của bên nhượng quyền và bên nhận quyền sẽ tạo ra áp lực, ngăn cản sựtham gia của bên thứ ba trên thị trường Dựa vào bản chất của quan hệ nhượng quyềnthương mại có thể nhận thấy, bên nhận quyền là bên phụ thuộc khá nhiều vào nhữngyêu cầu của bên nhượng quyền Nếu có bất kì một sáng tạo nào trong kinh doanh, bênnhận quyền không thể thực hiện hoặc áp dụng với hệ thống nhượng quyền mà không
có sự đồng ý của bên nhượng quyền Như vậy, một hành vi bất thường trong kinhdoanh mang tính chất hạn chế cạnh tranh của một hệ thống nhượng quyền thương mạixác định thông thường được bắt nguồn từ bên nhượng quyền, sau đó lại yêu cầu cácbên nhận quyền trong hệ thống triển khai thực hiện Các bên nhận quyền thực hiệnnhững thay đổi này như một cách thực hiện điều khoản của hợp đồng nhượng quyềnthương mại Vì vậy, dấu hiệu của việc “ cùng hành động” rất khó xác định, vì các bênđang cùng nhau thực hiện một, hoặc một số các thỏa thuận trong hợp đồng
So với Luật cạnh tranh 2004 thì Luật cạnh tranh 2018 bổ sung thêm tiêu chíđánh giá vị trí thống lĩnh thị trường của các chủ thể bằng yếu tố sức mạnh thị trườngđáng kể Nếu doanh nghiệp nắm trong tay quyền sở hữu, quyền sử dụng đối tượng sởhữu công nghiệp sẽ được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường và có thể áp đặt nhữngquy định bất lợi hoặc một quy định đi ngược nguyên tắc cạnh tranh cho đối thủ Bênnhượng quyền thương mại khi tiến hành thỏa thuận nhượng quyền thương mại với bênnhận quyền đóng vai trò là bên nắm trong tay quyền sở hữu, quyền sử dụng đối tượng
sở hữu công nghiệp cho nên nắm ưu thế chủ động và có thể áp đặt một số điều khoản
Trang 20không mong muốn cho bên nhận quyền thì có thể xem xét đó như một hành vi lạmdụng vị trí thống lĩnh thị trường mà không cần yếu tố thị phần
Có được vị trí thống lĩnh trên thị trường là điều không chỉ doanh nghiệp luônhướng tới mà còn được các nhà quản lý kinh tế khuyến khích phát triển Bởi có càngnhiều doanh nghiệp đạt vị trí thống lĩnh thị trường, chứng tỏ nền kinh tế của quốc gia
đó rất phát triển Tuy nhiên, nếu chủ thể nào vì lợi ích của riêng mình, thực hiện hành
vi lạm dụng vị trí thống lĩnh gây ảnh hưởng, xâm phạm đến quyền và lợi ích của cácchủ thể khác thì hành vi đó được pháp luật cạnh tranh điều chỉnh, kiểm soát, cấm thựchiện
III PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
Pháp luật về nhượng quyền thương mại hiện nay trên thế giới được xây dựngdựa trên hai hướng:
Một là, một số quốc gia đã xây dựng và ban hành các luật (hoặc bộ luật) riêngđiều điều chỉnh về nhượng quyền thương mại Ví dụ như: Bộ luật nhượng quyềnthương mại của Tay Ban Nha năm 1996, Luật nhượng quyền thương mại của Ý đượcban hành năm 2004 hoặc luật thương mại của Bỉ được ban hành năm 2005,
Hai là, một số quốc gia khác không ban hành luật (hoặc đạo luật) riêng điềuchỉnh về nhượng quyền thương mại Ví dụ: Đức, Pháp, Việt Nam cũng là nước không
có văn bản quy định về nhượng quyền thương mại riêng biệt mà được điều chỉnhtrong Mục 8 ( từ điều 284 đến 291) Luật Thương Mại 2005
Các quốc gia có hệ thống pháp luật bắt buộc công khai chi tiết nội dung thỏathuận nhượng quyền thương mại như ở Mỹ, cũng có những nước pháp luật khuyếnkhích sự tự nguyện công bố chi tiết nội dung của thỏa thuận nhượng quyền thươngmại như tại các nước Châu Âu, cũng có những nước điều chỉnh hoạt động thương mạitheo luật về chuyển giao công nghệ như Mehico Sau đây là một số pháp luật vềnhượng quyền thương mại ở một số quốc gia:
1 Pháp luật Mỹ về hợp đồng nhượng quyền thương mại
Ở Mỹ được điều chỉnh bởi Quy chế về công bố thông tin, các điều cấmtrong nhượng quyền thương mại và các cơ hội kinh doanh nhượng quyền thương
Trang 21mại của ủy ban thương mại liên bang Hoa Kỳ năm 1979 Quy chế này quy địnhcác thông tin bắt buộc mà bên nhượng quyền phải cung cấp cho bên nhận quyềnthông qua tài liệu công bố(UFOC) Một tài liệu UFOC chuẩn tại Mỹ có 23 hạngmục thông tin cập nhật nhất về bên nhượng quyền và gần như tất cả điều kiệnchính của một hợp đồng nhượng quyền thương mại, bên nhận quyền sẽ rà soáttừng hạng mục và sau đó góp ý xem hạng mục nào nên hay có thể chỉnh sửa Tuynhiên có nhiều hạng mục gần như không thể đàm phán được như khoản phí banđầu, phí hàng tháng, do đó bên nhận quyền phải ý thức được điều này khi đàmphán Đi kèm tài liệu UFOC thường có đính kèm một bản hợp đồng mẫu cho cácbên tham khảo, tài liệu UFOC thường chỉ ra hạng mục chi tiết mà bên nhượngquyền phải công bố cho các bên dự định nhận quyền và phải được trao cho bênnhận quyền trước khi hợp đồng Pháp luật Mỹ quy định bên nhượng quyền bắtbuộc phải cung cấp tài liệu UFOC cho bên dự định nhận quyền ngay trong lần gặp
gỡ đầu tiên hoặc chậm nhất là 10 ngày trước khi ký hợp đồng hay trả phí nhượngquyền Nếu việc này không được thực hiện đúng, bên nhượng quyền có nguy cơ bịkhiếu kiện bởi đối tác mua frachise của mình Ở cấp độ bang, một số bang của Mỹcũng có luật riêng về nhượng quyền thương mại trong đó có yêu cầu bên nhượngquyền phải đăng kí và trình duyệt tài liệu UFOC với chính quyền trước khi đượcphép công bố Nếu bên nhượng quyền cố tình đưa sai lệch các thông tin dù thôngtin đó có được đăng kí hay không thì phải chịu trách nhiệm trước pháp luật, tùytheo mức độ vi phạm mà phải chịu trách nhiệm dân sự hoặc hình sự
Ở Mỹ, không có một mẫu đăng ký chung nào về nhượng quyền liên bang,mỗi tiểu bang đều có cơ sở dữ liệu về hoạt động Franchise và theo luật tiểu bangmình Một số tiểu bang có luật pháp rất khắt khe về hoạt động này như: California,Hawai, Indiana, trong đó yêu cầu người nhượng quyền phải đăng ký và trìnhduyệt tài liệu UFOC tài liệu mà người nhượng quyền cung cấp cho bên nhận quyềntrước khi công bố Nếu người nhượng quyền cố tình đưa ra những thông tin sailệch cho người nhận nhượng quyền thì họ sẽ phải chịu trách nhiệm trước pháp luậttùy theo mức độ
Hợp đồng Liên bang Hoa kỳ: “Franchise là hợp đồng thỏa thuận giữa ít nhất
2 ngưòi, trong đó người mua Franchise được cấp quyền bán và phân phối sảnphẩm, dịch vụ theo cùng một kế hoạch hay hệ thống tiếp thị của người chủ thươnghiệu Hoạt động kinh doanh của người mua Franchise phải triệt để tuân theo kếhoạch hay hệ thống tiếp thị gắn liền với nhãn hiệu, thương hiệu, biểu tượng, khẩuhiệu, tiêu chí, quảng cáo và những biểu tượng thương mại khác của chủ thươnghiệu Người mua trong hợp đồng thương mại phải trả một khoản phí trực tiếp hoặc
Trang 22gián tiếp gọi là phí Franchise” FTC lại nhấn mạnh tới việc bên giao quyền kinhdoanh hỗ trợ và kiểm soát bên nhận trong hoạt động FTC yêu cầu bên nhận quyềncung cấp toàn bộ thông tin cho bên nhận quyền thông qua UFOC tài liệu chỉ rahạng mục chi tiết mà bên nhượng quyền phải cung cấp cho đối tác mua tiềm năng
và phải được trao đổi cho đối tác trước khi ký kết hợp đồng nhượng quyền Ở Mỹ,mỗi bang có thể có yêu cầu về tài liệu UFOC riêng biệt nên nhiều Franchise còn cótài liệu UFOC cho riêng mỗi bang hoặc có thể gộp hết yêu cầu các bang vào mộttài liệu UFOC tại Mỹ gồm nhiều điều khoản bắt buộc cụ thể
2 Pháp luật Nga về hợp đồng nhượng quyền thương mại
Ở Nga, thỏa thận nhượng quyền kinh doanh được xem là” sự nhượngquyền thương mại” Chương 54 Bộ luật dân sự Nga đề cập đến bản chất pháp lý của “
sự nhượng quyền thương mại” như sau:
“ Theo hợp đồng nhượng quyền thương mại, một bên (bên có quyền) cung cấpcho bên kia (bên sử dụng) với một khoản thù lao, theo thời hạn, hay không thời hạn,quyền được sử dụng trong các hoạt động kinh doanh của bên sử dụng một tập hợp cácquyền độc lập của bên có quyền gồm: quyền đối với dấu hiệu, chỉ dẫn thương mại,quyền đối với bí mật kinh doanh và các quyền độc quyền theo hợp đồng đối với cácđối tượng khác như nhãn hiệu hàng hóa, Pháp luật Nga nhấn mạnh tới việc bên giaomột số quyền sở hữu trí tuệ độc quyền cho bên nhận để đổi lấy những khoản phí nhấtđịnh mà không đề cập đến vai trò, nghĩa vụ bên nhận
3 Pháp luật Mehico về hợp đồng nhượng quyền thương mại
Luật Mehicô đề cập đến lợi ích nhượng quyền kinh doanh về mặt hỗ trợ kỹthuật và nhấn mạnh việc chuyển giao “ kiến thức kỹ thuật” để bán sản phẩm hoặcdịch vụ đồng bộ và có chất lượng Luật Sở hữu công nghiệp của Mêhico có hiệu lựcngày 10 tháng 8 năm 2018 quy định:
“ Nhượng quyền kinh doanh tồn tại khi một li-xăng cấp quyền sử dụng mộtthương hiệu nhất định ,có sự chuyển giao kiến thức công nghệ hoặc hỗ trợ kỹ thuật đểmột người sản xuất, chế tạo hoặc bán sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ đồng bộ vớicác phương pháp vận hành Các hoạt động thương mại hoặc hành chính đó được chủthương hiệu thiết lập với chất lượng, danh tiếng, hình ảnh sản phẩm hoặc dịch vụ đótạo dựng được thương hiệu đó” Định nghĩa này phản ánh một phần quan điểm của
Trang 23Mêhico là một nước đang phát triển có nhu cầu rất lớn trong việc nhập khẩu côngnghệ và bí quyết kinh doanh ở nước ngoài.
4 Pháp luật Trung Quốc về hợp đồng nhượng quyền thương mại
Ngày 14/10/1997 Bộ Nội Thương Trung Quốc thông qua Thông tư công bốcác biện pháp quản lý hoạt động nhượng quyền thương mại Thông tư quy định cụ thểcác vấn đề có liên quan đến hợp đồng nhượng quyền thương mại như: Điều kiện trởthành chủ thể của hợp đồng, quyền và nghĩa vụ các bên tham gia ký kết hợp đồng, yêucầu công bố thông tin trước khi ký hợp đồng, nội dung hợp đồng, các hình thức thanhtoán phí nhượng quyền Ngoài ra Thông tư còn quy định một số vấn đề khác như việcgiải quyết tranh chấp; vấn đề công bố thông tin về vấn đề giải quyết tranh chấp, cácbên sẽ được giải quyết theo cơ chế đã thỏa thuận trong hợp đồng Về công bố thôngtin thì thông tư có quy định như sau: “bên nhượng quyền phải nộp các tài liệu liênquan đến việc nhượng quyền thương mại cho hiệp hội các doanh nghiệp kinh doanhtheo mạng của Trung Quốc khi chính thức bắt đầu ký kết bất kỳ hợp đồng nhượngquyền thương mại nào”
5 Pháp luật Australia về hợp đồng nhượng quyền thương mại
Áp dụng luật Australia về hợp đồng nhượng quyền thương mại Ngày1/7/1998 luật về hoạt động nhượng quyền thương mại ở Australa có hiệu lực, luật này
có quy định khá toàn diện và cụ thể về các vấn đề liên quan đến hợp đồng nhượngquyền thương mại Khái niệm hợp đồng nhượng quyền thương mại được đề cập đếntrong luật này như sau: “Hợp đồng nhượng quyền thương mại là một thỏa thuận màmột phần hoặc toàn bộ được thể hiện dưới một trong các hình thức văn bản, lời nói,hoặc thỏa thuận ngầm nhất định Theo đó bên nhượng quyền cấp cho bên nhận quyềnquyền thực hiện hoạt động đề nghị giao kết hợp đồng, cung cấp hoặc phân phối hànghóa, dịch vụ trong lãnh thổ Australia theo hệ thống hoặc kế hoạch kinh doanh mà cơbản được xác định, kiểm soát hoặc được đề xuất bởi bên nhận quyền hoặc hiệp hộinhững bên nhượng quyền” Luật này cũng đưa ra nhưng quy định cụ thể về các trườnghợp hủy bỏ hợp đồng nhượng quyền thương mại như: Hủy bỏ hợp đồng do vi phạmcủa bên nhận quyền, hủy bỏ hợp đồng không do vi phạm của bên nhận quyền, huỷ bỏhợp đồng trong các trường hợp đặc biệt Bên nhượng quyền có quyền chấm dứt hợpđồng trong các trường hợp sau: Bên nhận quyền không còn giấy phép thực hiện kinhdoanh theo hợp đồng nhượng quyền thương mại: Bên nhận quyền lâm vào tình trạngphá sản, Bên nhận quyền từ bỏ các hoạt động kinh doanh theo các quyền được
Trang 24nhượng, Bên nhận quyền bị kết án tù do có hành vi vi phạm nghiêm trọng trong họatđộng nhượng quyền thương mại gây nguy hiểm cho an toàn và sức khỏe cộng đồnghoặc lừa dối về hoạt đông nhượng quyền thương mại hoặc đồng ý hủy bỏ hợp đồngnhượng quyền thương mại Trên đây là pháp luật về nhượng quyền thương mại củacác nước có hoạt động franchise phát triển mạnh trên thế giới, vì vậy đây là các vănbản có giá trị tham khảo rất lớn đối với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật ở Việt Nam
về hoạt động nhượng quyền thương mại nói chung và hợp đồng nhượng quyền nóiriêng
Nhượng quyền thương mại là hoạt động thương mại theo đó bên nhượng quyềncho phép và yêu cầu bên nhận quyền tự mình tiến hành việc mua bán hàng hóa, cungứng dịch vụ theo một số điều kiện Vì vậy, đối tượng của hoạt động nhượng quyềnthương mại chính là hàng hóa và dịch vụ, ngoài ra đối tượng mà việc kinh doanh gắntới như nhãn hiệu hàng hóa, bí quyết kinh doanh, tên thương mại, là những đốitượng của sở hữu trí tuệ Do đó, để bảo vệ quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan
hệ nhượng quyền thương mại, trong luật quốc tế đã có một số điều ước quốc tế điềuchỉnh về các hoạt động nói trên Ví dụ:
Hiệp định TRIPS về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ năm 1993, có hiệu lực ngày1/1/1995 (Việt Nam gia nhập năm 2006) Hiệp định đã đưa ra các tiêu chuẩn tối thiểubảo vệ các quyền sở hữu trí tuệ đối với các đối tượng: bán quyền và các quyền có liênquan, nhãn hiệu hàng hóa, chỉ dẫn địa lý, thiết kế bố trí mạch tích hợp, hạn chế cáchoạt động cạnh tranh trong các hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng
Công ước Pais về quyền bảo hộ quốc tế quyền sở hữu công nghiệp năm 1883(Việt Nam là thành viên năm 1994) Đây là điều ước quốc tế quan trọng về bảo hộquốc tế quyền sở hữu công nghiệp Với mục đích nhằm xây dựng điều kiện thuận lợicho việc cung cấp văn bằng sáng chế, nhãn hiệu hàng hóa của công dân ở một số quốcgia khác
Ngoài ra, cộng đồng quốc tế thông qua một số điều ước quốc tế quan trọngkhác có liên quan như Thỏa ước Lahaye về Đăng ký quốc tế kiểu dáng công nghiệpnăm 1925, Hiệp định song phương về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ với cộng đồng Châu
Âu, Thụy Sỹ và Hoa Kỳ,
Trang 25IV THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT CẠNH TRANH TRONG HỢP ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI
1 Thực tiễn pháp luật về hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng nhượng quyền thương mại.
Theo thống kê của Bộ công thương: Năm 2015, chỉ có 135 thương hiệunước ngoài đến từ 21 quốc gia đăng ký nhượng quyền tại Việt Nam Các thương hiệunày chủ yếu thuộc lĩnh vực nhà hàng, thời trang và giáo dục Tuy nhiên, một số ngànhkinh doanh ở nước ngoài rất phát triển như nhượng quyền thương mại trong lĩnh vựckinh doanh bất động sản, dịch vụ khai thuế, kiểm toán, kinh doanh giải trí, rạp phim,
cơ sở Karaoke… nhưng ở Việt Nam chưa có
Năm 2016, Việt Nam đã có 148 thương hiệu quốc tế nhượng quyền thànhcông tại Việt Nam Trong đó ngành thực phẩm và đồ uống vẫn chiếm ưu thế với mộtloạt các thương hiệu nổi tiếng đang hoạt động thành công tại Việt Nam như KFC,Lotteria, Jollibee, Pizza Hut, Burger King, Starbucks, McDonald’s, Domino’s Pizza,Popeye’s Chicken, Texas Chicken hay Coffee Bean & Tea Leaf Bên cạnh các thươnghiệu ngoại thì một số thương hiệu Việt được ưa thích tại Việt Nam cũng mong có cơhội nhượng quyền thương hiệu của mình tại Việt Nam và khu vực như Phở 24,Highlands Coffee, Wrap & Roll, Món Huế,v.v
Năm 2017 đã có 195 công ty nước ngoài vào đăng ký nhượng quyền vàoViệt Nam Trong đó, chiếm 40% là các thương hiệu về thực phẩm và đồ uống Cáccông ty này chủ yếu đến từ Anh, Pháp, Mỹ, Đài Loan, Hồng Kông, Nhật Bản tronglĩnh vực thực phẩm và đồ uống, giáo dục, hàng tiêu dùng… với các tên tuổi như CostaInternational Limited (Anh) kinh doanh chuỗi cà phê Costa; ITX MERKEN, B.V (HàLan) với chuỗi cửa hàng bán lẻ quần áo, giày dép và phụ kiện gắn với nhãn hiệu Pull
& Bear, Stradivarius, Massimo Dutti; Youhong Foods Co kinh doanh trà sữa gắn nhãnhiệu One Zo; Tokyo Food Corporation (Nhật Bản) bánh xèo Nhật Bản và các món ănNhật khác gắn với các nhãn hiệu Botejyu, Basta Hiro,v.v
Năm 2018, Bộ công thương đã tiếp nhận đăng ký nhượng quyền vào ViệtNam với 17 thương hiệu Bên cạnh các thương hiệu quen thuộc đến từ Mỹ như: KFTea Franchising LLC, kinh doanh trà và đồ uống; từ Anh như: Công ty DKH RetailLtd, kinh doanh quần áo thời trang và phụ kiện; từ Thụy Điển như: Wayne OchMargareta's Coffee AB, kinh doanh dịch vụ quán café và dịch vụ nhà hàng bán lẻ sản
Trang 26phẩm café Thì bên cạnh đó, ngày càng nhiều các thương hiệu từ khu vực châu Á, đặcbiệt là Đông Nam Á dần quan tâm đến thị trường Việt Nam.
Trong nước, các doanh nghiệp Việt Nam cũng đã hình thành mô hìnhnhượng quyền thương mại để phát triển thị trường, nâng cao giá trị thương hiệu Tiêubiểu cho mô hình Nhượng quyền thương mại của các doanh nghiệp Việt Nam phải kểđến Trung Nguyên, Phở 24, Kinh Đô Bakery, thời trang Ninomax, Foci, giày dépT&T, kinh doanh cà phê Bobby Brewers … Trong đó, Phở 24, doanh nghiệp tư nhânĐức Triều (kinh doanh sản phẩm giày dép da, túi xách thương hiệu T&T) và Công tyTNHH Vũ Giang (kinh doanh cà phê Bobby Brewers) đã được cấp phép nhượngquyền ra nước ngoài
Vì vậy, trong phạm vi nghiên cứu, nhóm nghiên cứu đã đề cập nhiều hơnđến thực tiễn chung về thực hiện pháp luật hạn chế cạnh tranh, trên cơ sở lồng ghépcác yếu tố nhượng quyền thương mại Cụ thể:
Trong năm 2015, Cục quản lý cạnh tranh tiến hành điều tra tiền tố tụngtrên các thị trường sữa, thị trường bia, thị trường cảng biển, vận tải đường biển, lĩnhvực ngân hàng và lĩnh vực giá điện Trong số 05 vụ việc được điều tra tiền tố tụngtrong năm 2015 có 02 vụ việc liên quan đến thị trường dịch vụ và 03 vụ việc liên quanđến thị trường hàng hóa
Năm 2016, Cục quản lý cạnh tranh đã tiến hành điều tra tiền tố tụng trongnhiều ngành, lĩnh vực, trong đó điển hình có các vụ việc: Thị trường dịch vụ bảo hiểmtàu cá; Thị trường truyền hình trả tiền; Thị trường điện ảnh,
Năm 2017, Cục cạnh tranh và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đã tiếnhành điều tra tiền tố tụng nhằm rà soát, phát hiện dấu hiệu các hành vi hạn chế cạnhtranh trong một số ngành, lĩnh vực được dư luận xã hội quan tâm Điển hình: vụ việctranh chấp, cạnh tranh giữa các hãng taxi truyền thống và các doanh nghiệp kinhdoanh dịch vụ “taxi công nghệ” như Uber, Grab;
Nhìn chung, trong thời gian qua, việc xử lý vi phạm đối với hành vi hạnchế cạnh tranh thời gian qua hết sức khiêm tốn Điều này phản ánh thực tế trong bốicảnh các cơ quan cạnh tranh Việt Nam còn non trẻ với nguồn lực hạn chế và Luậtcạnh tranh được thực thi chưa đủ lâu để có thể đi sâu vào đời sống xã hội
Dựa vào tình hình, cho thấy việc thực hiện pháp luật về hạn chế cạnh tranhtrong hoạt động nhượng quyền thương mại thời gian qua chưa có nhiều thành tựu nổi