MỤC LỤC PAGE i TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN LÒ THỊ HUYỀN TRANG T¡NG C¦êNG QU¶N Lý TµI S¶N C¤NG T¹I TR¦êNG §¹I HäC T¢Y B¾C Chuyên ngành KINH TẾ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG Người hướng dẫn khoa học TS NGUYỄN[.]
TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ TÀI SẢN CÔNG CỦA CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP
Tài sản công của các đơn vị sự nghiệp
1.1.1 Đơn vị sự nghiệp Đơn vị sự nghiệp là: “đơn vị do nhà nước thành lập để hoạt động công lập thực hiện cung cấp các dịch vụ xã hội công cộng và các dịch vụ nhằm duy trì sự hoạt động bình thường của các ngành kinh tế quốc dân”.
Các ĐVSN hoạt động trong các lĩnh vực như: giáo dục đào tạo, y tế, văn hóa, thông tin, thể dục thể thao, nông lâm ngư nghiệp, thủy lợi và các ĐVSN kinh tế khác Theo quy định tại Luật quản lý, sử dụng tài sản nhà nước, các ĐVSN gồm 2 loại: ĐVSN tự chủ tài chính và ĐVSN chưa tự chủ tài chính
Theo Nghị định số 43/2006/NĐ – CP ban hành ngày 25/4/2006 căn cứ vào nguồn thu sự nghiệp, đơn vị sự nghiệp được phân loại để thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính như sau:
- Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm chi phí hoạt động);
- Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động thường xuyên, phần còn lại được ngân sách nhà nước cấp (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động);
- Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp thấp, đơn vị sự nghiệp không có nguồn thu, kinh phí hoạt động thường xuyên theo chức năng, nhiệm vụ do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ kinh phí hoạt động (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động). Đặc điểm của đơn vị sự nghiệp: Là tổ chức hoạt động theo nguyên tắc phục vụ xã hội, không vì mục đích lợi nhuận là chính, không như hoạt động sản xuất kinh doanh vì mục đích lợi nhuận của các doanh nghiệp Nhà nước đã tổ chức và tài trợ cho các hoạt động sự nghiệp để cung ứng sản phẩm, dịch vụ xã hội công cộng, hỗ trợ các ngành, các lĩnh vực kinh tế hoạt động, thúc đẩy phát triển con người, phát triển kinh tế.
Sản phẩm của các đơn vị sự nghiệp là sản phẩm mang lại lợi ích có tính bền vững và gắn với quá trình tạo ra của cải vật chất, giá trị tinh thần Sản phẩm đó là hàng hóa công cộng tác động đến con người về trí và lực tạo điều kiện cho hoạt động của con người, tác động đến đời sống của con người và quá trình tái sản xuất xã hội
1.1.2 Tài sản công của các đơn vị sự nghiệp
Theo Quyết định số 165/2002/QĐ-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2002 của Bộ trưởng Bộ Tài chính: “Tài sản được biểu hiện dưới hình thái vật chất như nhà xưởng, máy móc, thiết bị, vật tư, hàng hoá hoặc không thể hiện dưới hình thái vật chất như bản quyền, bằng sáng chế nhưng phải thu được lợi ích kinh tế trong tương lai và thuộc quyền kiểm soát của doanh nghiệp.”
Theo PGS.TS Nguyễn Văn Xa: “ Tài sản công là những tài sản được hình thành từ nguồn ngân sách nhà nước, tài sản được xác lập quyền sở hữu của nhà nước theo quy định của pháp luật; đất đai, rừng tự nhiên, núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi tự nhiên ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời”.
TSC của ĐVSN là những tài sản mà nhà nước giao cho cơ quan nhà nước, các đơn vị sự nghiệp, các đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân (của nhà nước), tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức khác trực tiếp quản lý, sử dụng phục vụ cho việc thực hiện nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị.
TSC của ĐVSN bao gồm:
- Đất đai (đất sử dụng làm trụ sở làm việc, đất xây dựng cơ sở hoạt động sự nghiệp công)
- Nhà, công trình xây dựng khác gắn liền với đất đai: Nhà làm việc, nhà kho, nhà hội trường, nhà câu lạc bộ nhà văn hoá, nhà tập và thi đấu thể thao, nhà bảo tồn bảo tàng, nhà trẻ nhà mẫu giáo, nhà xưởng, trường học, giảng đường, ký túc xá, bệnh viện, trạm xá, nhà an dưỡng, nhà khách, nhà ở, nhà công vụ, nhà khác,
- Các tài sản khác gắn liền với đất đai gồm: Giếng khoan, giếng đào, sân chơi, sân phơi, cầu cống, hệ thống cấp thoát nước, đê, đập, đường sá (do đơn vị đầu tư xây dựng), sân vận động, bể bơi, trường bắn, các lăng tẩm, tượng đài, tường rào bao quanh,
- Các phương tiện giao thông vận tải: xe ô tô, xe mô tô, xe gắn máy, phương tiện vận tải đường bộ khác; phương tiện vận tải đường thuỷ (ca nô, xuồng máy các loại; tàu thuỷ các loại; ghe thuyền các loại, phương tiện vận tải đường thuỷ khác); Phương tiện vận tải đường không (máy bay các loại),
- Phương tiện truyền dẫn: Hệ thống dây điện thoại, tổng đài điện thoại, phương tiện truyền dẫn điện,
- Các máy móc, trang thiết bị, phương tiện làm việc và các tài sản khác: Máy vi tính, máy in, máy photocopy, máy chiếu, máy huỷ tài liệu, máy đun nước, thiết bị lọc nước, máy hút ẩm, máy hút bụi, máy điều hoà không khí, tủ lạnh, tủ đá, máy giặt, thiết bị nghe nhìn, thiết bị lưu trữ thông tin dữ liệu, thiết bị phòng cháy chữa cháy, bộ bàn ghế, tủ, két sắt, máy móc thiết bị thí nghiệm,
Những tài sản trên đây là cơ sở vật chất cần thiết để tiến hành các hoạt động quản lý nhà nước, các hoạt động sự nghiệp công và các hoạt động xã hội khác Các ĐVSN chỉ có quyền quản lý, sử dụng các tài sản này để thực hiện nhiệm vụ được giao, không có quyền sở hữu Việc sử dụng tài sản phải đúng mục đích, đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do Nhà nước ban hành; không được sử dụng vào mục đích cá nhân, kinh doanh và mục đích khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Quản lý tài sản công của các đơn vị sự nghiệp
1.2.1 Nguyên tắc quản lý tài sản công
TSC phong phú về chủng loại, mỗi loại có tính năng, công dụng khác nhau, được phân bổ ở khắp mọi miền đất nước, được giao cho các ngành, các cấp, các tổ chức, cá nhân trực tiếp sử dụng phục vụ cho các hoạt động: quản lý nhà nước, giáo dục và đào tạo, y tế, xã hội, nghiên cứu khoa học, thể dục thể thao, quốc phòng, an ninh, ngoại giao,… từ cấp cơ sở đến các hoạt động ởTrung ương Do đó, việc quản lý TSC phải được tổ chức thực hiện theo những nguyên tắc cơ bản sau:
- Thống nhất về cơ chế, chính sách, chế độ quản lý TSC theo đúng Nghị định số 43/2006/NĐ-CP của Chính phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với ĐVSN, Quyết định số 32/2008/QĐ-BTC ngày 29/5/2008 của Bộ tài chínhngày 29/5/2008 của Bộ tài chính về việc ban hành chế độ quản lý, tính hao mòn tài sản cố định trong các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập và các tổ chức có sử dụng ngân sách nhà nước và Thông tư số 68/2012/TT-BTC hướng dẫn thực hiện đấu thầu mua sắm tài sản nhằm duy trì hoạt động thường xuyên của cơ quan nhà nước bằng vốn nhà nước; đồng thời phải có cơ chế, chính sách, chế độ quản lý, sử dụng đối với những tài sản có tính đặc thù riêng Thống nhất quản lý trên cơ sở để đảm bảo cơ chế, chính sách, chế độ quản lý TSC phù hợp do TSC rất phong phú về tính năng và chủng loại, tránh tình trạng gây thất thoát lãng phí Nội dung của thống nhất quản lý là Chính phủ thống nhất quản lý TSC; Quốc hội, Chính phủ quy định cơ chế, chính sách, chế độ quản lý tài sản áp dụng chung cho mọi tài sản và quy định cơ chế, chính sách, chế độ quản lý cụ thể đối với những tài sản có giá trị lớn mà hầu hết các ĐVSN được Nhà nước giao trực tiếp sử dụng:
+ Đối với TSC là trụ sở làm việc thực hiện quản lý theo Quyết định số 141/2008/QĐ-TTg ngày 22/10/2008 của Thủ tướng chính phủ về việc ban hành quy chế quản lý trụ sở, nhà làm việc các đơn vị sự nghiệp công lập.
+ Đối với TSC là phương tiện vận tải, máy móc, trang thiết bị, phương tiện làm việc và các tài sản khác thực hiện quản lý theo Thông tư số 63/2007/TT-BTC của Bộ tài chính hướng dẫn thực hiện đấu thầu mua sắm tài sản nhằm duy trì hoạt động thường xuyên của cơ quan nhà nước bằng vốn nhà nước; Thông tư số 06/2011/TT-BTC của Bộ tài chính sửa đổi, bổ sung Thông tư số 103/2007/TT-BTC hướng dẫn thực hiện Quyết định số 59/2007/QĐ-TTG ngày 7/5/2007 ngày 7/5/2007 của Thủ tướng Chính phủ ban hành quy định tiêu chuẩn, định mức và chế độ quản lý, sử dụng phương tiện đi lại trong cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập và công ty nhà nước; Quyết định số 32/2008/QĐ-BTC ngày 29/5/2008 của Bộ tài chínhcủa Bộ Tài chính về việc ban hành chế độ quản lý, tính hao mòn tài sản cố định trong các cơ quan nhà nước, ĐVSN và các tổ chức có sử dụng ngân sách nhà nước.
- Thực hiện quản lý và sử dụng TSC theo tiêu chuẩn, định mức Quản lý và sử dụng TSC theo tiêu chuẩn định mức để quản lý, sử dụng TSC phù hợp; đồng thời để thống nhất tiêu chuẩn, định mức sử dụng từng loại tài sản cho từng đối tượng sử dụng, tránh hiện tượng trang bị theo ý kiến chủ quan, tùy thuộc vào khả năng kinh phí của đơn vị; tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản còn là thước đo đánh giá mức độ sử dụng tiết kiệm và hiệu quả TSC của từng đơn vị; mặt khác, tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản còn là cơ sở để thực hiện quản lý, thực hiện sự kiểm tra, kiểm soát của Nhà nước Chính phủ hoặc Chính phủ phân cấp cho Thủ tướng Chính phủ quy định tiêu chuẩn, định mức sử dụng đối với TSC của các ĐVSN(Phụ lục 1, Phụ lục 2, Phụ lục 3).
- Thực hiện phân cấp quản lý TSC theo ba nội dung cơ bản:
+ Nội dung về phân cấp việc xây dựng, ban hành cơ chế, chính sách, chế độ quản lý TSC:
● Quốc hội ban hành các Bộ luật liên quan tới quản lý tài sản công như: Hiến pháp, Bộ Luật dân sự,
● Chính phủ ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành Luật về quản lý TSC; quy định cụ thể về cơ chế, chính sách, chế độ quản lý TSC nói chung và đối với từng tài sản cụ thể có giá trị lớn và được sử dụng phổ biến tại các ĐVSN.
● Thủ tướng Chính phủ quy định cơ chế chính sách, chế độ quản lý đối với một loại tài sản, một tài sản cụ thể theo phân cấp của Chính phủ.
● Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố, quy định cơ chế, chính sách, chế độ quản lý đối với tài sản đặc thù, tài sản sử dụng cho hoạt động đặc thù của ngành, địa phương.
+ Nội dung về phân cấp quản lý nhà nước đối với TSC:
● Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước đối với TSC.
● Có một Bộ, Ngành được giao giúp Chính phủ thực hiện.
● Phân cấp giữa Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ với các Bộ, ngành , địa phương về ban hành định mức, tiêu chuẩn sử dụng (trang bị) tài sản cụ thể: Thủ tướng Chính phủ ban hành định mức, tiêu chuẩn sử dụng tài sản đối với những tài sản có giá trị lớn, được sử dụng phổ biến tại các ĐVSN; Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngành Bộ, người đứng đầu địa phương ban hành định mức, tiêu chuẩn sử dụng tài sản đối với những tài sản đặc thù.
- Quản lý TSC phải gắn với quản lý ngân sách nhà nước Do TSC là những tài sản được hình thành từ ngân sách nhà nước và mọi chi phí trong quá trình sử dụng tài sản đều do ngân sách nhà nước đảm bảo Hay nói một cách khác, quản lý TSC là quản lý ngân sách nhà nước đã được chuyển hóa thành hiện vật – tài sản Quản lý TSC phải gắn với quản lý ngân sách Nhà nước có nghĩa là mọi cơ chế, chính sách, chế độ quản lý TSC, định mức, tiêu chuẩn sử dụng TSC phải phù hợp với quy định về quản lý ngân sách nhà nước, việc trang bị TSC cho các ĐVSN phải phù hợp với khả năng của ngân sách nhà nước và được lập dự toán, chấp hành dự toán theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.
1.2.2 Các công cụ quản lý tài sản công của đơn vị sự nghiệp Để đạt được các mục tiêu quản lý, chủ thể quản lý phải tổ chức, phối hợp, định hướng hoạt động của đối tượng quản lý vào mục tiêu đã được xác định trước thông qua việc sử dụng hệ thống các công cụ quản lý Công cụ quản lý là những phương tiện, những giải pháp của chủ thể quản lý nhằm định hướng, phối hợp hoạt động của các cá nhân và toàn đơn vị trong việc đạt được mục tiêu quản lý đề ra.
Giữa chủ thể quản lý, đối tượng quản lý và mục tiêu cần đạt được có mối quan hệ chặt chẽ thể hiện qua sơ đồ 1.1.
Sơ đồ 1.1: Quan hệ chủ thể quản lý – đối tượng quản lý – mục tiêu quản lý Đối tượng quản lý TSC của các ĐVSN đa dạng, phong phú, nên để đạt được mục tiêu quản lý đòi hỏi Nhà nước phải có hệ thống các công cụ quản lý thích hợp gồm:
- Định giá giá trị TSC, công cụ này giúp các cấp quản lý có thể nắm rõ tình hình TSC chi tiết về các mặt:
+ Quản lý theo từng loại tài sản, theo phòng ban/bộ phận sử dụng.
+ Theo dõi tình trạng của từng tài sản và các thông tin chi tiết của tài sản như năm sản xuất, năm bắt đầu sử dụng, xuất xứ sản phẩm, đặc tính của tài sản, nguyên giá, giá trị hao mòn lũy kế, giá trị còn lại.
+ Theo dõi các khoản hoa hồng, chiết khấu khi mua tài sản.
Nhà nước (Chủ sở hữu TSC)
+ Theo dõi nguồn kinh phí hình thành tài sản: nguồn ngân sách, nguồn sự nghiệp, nguồn khác,
- Định giá chi phí vận hành TSC, tài sản đã sử dụng bao nhiêu nguyên, nhiên liệu, phục vụ được bao nhiêu đơn vị Sử dụng công cụ này có thể quản lý được tình trạng sử dụng TSC của đơn vị đã hợp lý hay chưa, từ đó tìm hiểu nguyên nhân và đưa ra hướng khắc phục tránh tình trạng lãng phí hoặc không sử dụng hết công suất của TSC hiện có của đơn vị.
- Đánh giá quy trình quản lý TSC: Nghĩa là đánh giá đơn vị đã thực hiện theo đúng quy trình quản lý TSC hay chưa, có vướng mắc ở giai đoạn nào trong ba quá trình sau hay không: Quá trình hình thành tài sản (mua sắm, nhận điều chuyển, biếu tặng,…); quá trình khai thác sử dụng tài sản (trong quá trình này có phát sinh hao mòn tài sản, các chi phí sửa chữa, bảo dưỡng,
…); quá trình kết thúc tài sản (thanh lý, thu hồi, điều chuyển tài sản)
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TÀI SẢN CÔNG TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
Tổng quan về Trường Đại học Tây Bắc
2.1.1 Lịch sử hình thành Trường Đại học Tây Bắc Để đáp ứng yêu cầu đào tạo đội ngũ giáo viên tại chỗ, phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội ở Tây Bắc trong thời kỳ mới, ngày 30/06/1960, Bộ trưởng Bộ Giáo dục Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Nguyễn Văn Huyên đã kí Quyết định số 267/QĐ về việc thành lập Trường Sư phạm cấp II liên tỉnh, trong đó có Trường Sư phạm cấp II đặt tại Khu Tự trị Thái - Mèo
Khi công bố Quyết định thành lập, Trường chưa có giáo sinh và Hiệu trưởng Cơ sở vật chất của Trường hầu như chưa có gì, mọi sinh hoạt của giáo viên và giáo sinh chung với Khu Học xá Mường La Đội ngũ giáo viên, cán bộ của Trường rất ít chỉ có 8 giáo viên tốt nghiệp Trường Đại học Sư phạm
Hà Nội được Bộ Giáo dục cử lên công tác tại Trường.
Năm 1962, Khu Tự trị Thái - Mèo đổi tên gọi là Khu Tự trị Tây Bắc. Để phù hợp với đơn vị hành chính mới của Khu, Trường Sư phạm cấp II Khu
Tự trị Thái - Mèo đổi tên gọi là Trường Sư phạm cấp II Khu Tự trị Tây Bắc (gọi tắt là Trường Sư phạm cấp II Tây Bắc) Cùng thời gian này, một số phòng, ban của Trường bắt đầu được hình thành: Phòng Giáo vụ, phòng Tổ chức , phòng Quản trị Hành chính.
Trước sự lớn mạnh của Nhà trường về tất cả các mặt và nhu cầu chuẩn hoá đội ngũ giáo viên cấp II có trình độ cao đẳng sư phạm của địa phương, từ năm 1980, Đảng uỷ, Ban Giám hiệu Nhà trường đã đề xuất với Bộ Giáo dục nâng cấp Trường thành Trường Cao đẳng Sư phạm Tây Bắc Ngày 06 tháng
04 năm 1981, Hội đồng Chính phủ đã ra Quyết định số 146/CP, nâng cấp Trường Sư phạm cấp II (10+3) Tây Bắc thành Trường Cao đẳng Sư phạm Tây Bắc.
Thực hiện chủ trương của Chính phủ, ngày 06/12/1999, tại Công văn số 11545/KHTC, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đề nghị Ủy ban Nhân dân tỉnh Sơn
La tạo điều kiện giúp đỡ Trường Cao đẳng Sư phạm Tây Bắc có thủ tục cấp đất tại địa điểm mới để lập quy hoạch xây dựng và phát triển Trường Cao đẳng Sư phạm Tây Bắc thành Trường Đại học Tây Bắc để đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực tại chỗ có trình độ cao (đại học) cho các tỉnh Tây Bắc, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá Ngày 23/03/2001, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 39/2001/QĐ-TTg về việc thành lập Trường Đại học Tây Bắc trên cơ sở Trường Cao đẳng Sư phạm Tây Bắc.
2.1.2 Chức năng và nhiệm vụ của Trường đại học Tây Bắc
Là một trường đa ngành, trường ĐHTB thực hiện chức năng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ khoa học - kỹ thuật có trình độ đại học, sau đại học cho vùng Tây Bắc và cả nước; đào tạo giáo viên mầm non, giáo viên phổ thông các cấp học, bồi dưỡng và đào tạo lại chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục; cử nhân kinh tế; cử nhân nông lâm nghiệp; nghiên cứu khoa học, triển khai áp dụng tiến bộ khoa học phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.
Theo quy định của luật Giáo dục Trường có những nhiệm vụ cụ thể như sau:
- Đào tạo và bồi dưỡng giáo viên các bậc học và cán bộ khoa học có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, có kiến thức và năng lực hành nghề nghiệp tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khỏe, có năng lực thích ứng với việc làm cho mình và cho những người khác, có khả năng hợp tác bình đẳng trong quan hệ quốc tế, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc;
- Thực hiện nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ gắn với sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của Sơn La và khu vực Tây Bắc;
- Kết hợp đào tạo với nghiên cứu khoa học và sản xuất, dịch vụ khoa học và công nghệ theo quy định của luật Khoa học và Công nghệ cũng như các quy định khác của pháp luật;
- Giữ gìn và phát triển những di sản và bản sắc văn hóa Sơn La nói riêng của Tây Bắc Bộ nói chung;
- Phát hiện và bồi dưỡng nhân tài trong những người học và trong đội ngũ cán bộ giảng viên của Trường;
- Quản lý giảng viên, cán bộ, nhân viên, xây dựng đội ngũ giảng viên của Trường đủ về số lượng, cân đối về cơ cấu trình độ, cân đối về cơ cấu của trường đại học đa ngành, cân đối cơ cấu tuổi và giới;
- Tuyển sinh và quản lý người học;
- Phối hợp với gia đình người học, tổ chức, cá nhân trong hoạt động giáo dục và đào tạo;
- Tổ chức cho giảng viên, cán bộ, nhân viên và người học tham gia các hoạt động xã hội phù hợp với ngành nghề đào tạo và nhu cầu xã hội;
- Quản lý và sử dụng đất đai, trường sở, trang thiết bị và tài chính theo quy định của pháp luật;
- Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật.
2.1.3 Cơ cấu bộ máy của Trường Đại học Tây Bắc
- Ban giám hiệu gồm: Hiệu trưởng và 3 Phó hiệu trưởng
- Hội đồng khoa học và đào tạo
- Đoàn thể: Công đoàn, đoàn thanh niên, hội sinh viên.
Trong đó, cơ cấu bộ máy quản lý hành chính của Trường như sau:
(Nguồn: Phòng tổ chức cán bộ)
Sơ đồ 2.1 Cơ cấu bộ máy quản lý hành chính Trường Đại học Tây Bắc
Phó hiệu trưởng Phó hiệu trưởng Phó hiệu trưởng
- Phòng Tổ chức cán bộ
- Trung tâm tin học – ngoại ngữ
- Phòng Quản lý khoa học và hợp tác quốc tế
- Trung tâm nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ - Trung tâm nghiên cứu thực nghiệm
- Trung tâm nghiên cứu văn hóa Tây Bắc
- Phòng Công tác chính trị và Quản lý người học
- Trung tâm thông tin thư viện
- Phòng Hành chính tổng hợp
- Phòng Quản trị cơ sở vật chất
- Ban quản lý Khu nội trú
2.1.4 Kết quả hoạt động cơ bản của Trường Đại học Tây Bắc
2.1.4.1 Hoạt động đào tạo của Trường Đại học Tây Bắc
* Quy mô, số lượng các lớp chính quy phân theo ngành và trình độ đào tạo:
Bảng 2.1 Số lượng sinh viên trình độ đại học
(Nguồn: Số liệu của Phòng Đào tạo tính đến tháng 6/2013)
Bảng 2.2 Số lượng sinh viên c ác ngành đào tạo trình độ cao đẳng
(Nguồn: Số liệu của Phòng Đào tạo tính đến tháng 6/2013)
* Quy mô, số lượng các lớp phi chính quy phân theo ngành và trình độ đào tạo:
Bảng 2.3 Số lượng sinh viên đào tạo theo hình thức vừa làm vừa học
(Nguồn: Số liệu của Phòng Đào tạo tính đến tháng 6/2013)
Bảng 2.4 Số lượng sinh viên đào tạo theo hình thức liên thông từ cao đẳng lên đại học
Ngành Tổng số sinh viên
Tổng số sinh viên chia theo năm đào tạo Năm thứ 1 Năm thứ 2
(Nguồn: Số liệu của Phòng Đào tạo tính đến tháng 6/2013)
Số lượng học sinh Dự bị và Cử tuyển: Trong thời điểm năm học 2012 -
1013 Trường có 98 học sinh thi tuyển Dự bị và 48 học sinh Cử tuyển.
Mỗi năm có từ 96% đến 98% sinh viên thuộc các ngành Sư phạm, Công nghệ Thông tin, Kinh tế, Nông - Lâm tốt nghiệp ra trường Trong đó, số lượng sinh viên tốt nghiệp loại Giỏi chiếm từ 0,2 đến 1%.
2.1.4.2 Hoạt động thu – chi của Trường Đại học Tây Bắc
* Nguyên tắc quản lý nguồn thu tại trường ĐHTB
Trường thực hiện quản lý nguồn thu dựa trên các nguyên tắc sau:
- Mọi nguồn thu của Nhà trường đều do phòng Tài chính-Kế toán tổ chức thu và thống nhất tập trung quản lý.
- Hình thức thu thu bằng tiền mặt trực tiếp tại Phòng Tài chính-Kế toán, hoặc bộ phận trực thuộc Trường được uỷ quyền thu theo sự hướng dẫn chuyên môn của phòng Tài chính-Kế toán và phải nộp toàn bộ số tiền thu được về phòng Tài chính-Kế toán, không được giữ tiền mặt tại đơn vị, không được tự chi.
- Tất cả các khoản thu đều phải sử dụng chứng từ thu (Biên lai thu tiền, Phiếu thu) thống nhất theo quy định của Nhà nước và do phòng Tài chính-Kế toán cấp.
Căn cứ Bộ quy định tổ chức và quản lý, Trường xác định rõ các nguồn thu trong năm tài chính như sau:
+ Nguồn thu từ ngân sách Nhà nước:
GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ TÀI SẢN CÔNG TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
Định hướng hoạt động của Trường Đại học Tây Bắc
* Tầm nhìn: Là trường Đại học đa ngành, phối hợp cùng sinh viên, các nhà sử dụng nhân lực, các nhà nghiên cứu và cộng đồng các dân tộc Tây Bắc nhằm đảm bảo các chương trình đào tạo có chất lượng và nghiên cứu bảo tồn những đặc trưng văn hoá của các dân tộc ít người.
Trường Đại học Tây Bắc trở thành trung tâm đào tạo nhân lực, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ hàng đầu ở vùng Tây Bắc, tiếp cận với các trường có đẳng cấp cao trong nước Mỗi sinh viên tốt nghiệp có đủ năng lực trong môi trường cạnh tranh; các giá trị văn hoá đặc trưng của các dân tộc ít người được phát triển nhằm tạo sự phát triển bền vững của Vùng trong nền kinh tế hội nhập.
Mục tiêu tổng quát: Xây dựng Trường thành trường đại học đa ngành, đa cấp định hướng nghề nghiệp - ứng dụng, có đội ngũ cán bộ giảng viên đạt trình độ mức chung của ngành và có cơ cấu phù hợp, có quy mô 15.000 sinh viên, đảm bảo uy tín chất lượng trong đào tạo và nghiên cứu, góp phần bảo tồn, phát triển văn hoá các dân tộc Tây Bắc Sinh viên được trang bị kiến thức và phương pháp có đủ năng lực trong môi trường cạnh tranh Từng bước phát triển nguồn tài chính để thực hiện tự chủ về tài chính Trường xứng đáng là trung tâm đào tạo, nghiên cứu hàng đầu của Vùng, tiếp cận trình độ các trường đại học có đẳng cấp cao trong nước và khu vực
Mục tiêu xây dựng đội ngũ cán bộ, giảng viên: Tăng cường đội ngũ cán bộ đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu, đảm bảo chất lượng, có khả năng triển khai hiệu quả các chương trình đào tạo theo nhu cầu của người học, khả năng nghiên cứu chuyển giao công nghệ đáp ứng nhu cầu cơ bản phát triển kinh tế xã hội, văn hóa vùng Tây Bắc Phấn đấu đến năm 2020 có 95% cán bộ, giảng viên đạt trình độ trên đại học, trong đó có 30% đạt trình độ tiến sĩ, có một số giáo sư và phó giáo sư Hầu hết cán bộ, giảng viên đạt trình độ đại học ngoại ngữ, 50% có thể giao dịch trực tiếp với người nước ngoài về chuyên môn nghiệp vụ 100% cán bộ, giảng viên sử dụng thành thạo các phương tiện công nghệ thông tin cần thiết cho dạy học và nghiên cứu
Mục tiêu về đào tạo: Từ năm 2011 – 2015: Tiếp tục mở thêm các ngành đào tạo mới Đưa quy mô sinh viên lên 15.000 Hoàn thiện đào tạo theo tín chỉ Thực hiện chương trình đào tạo nghề ở trình độ cao đẳng và trung học. Chất lượng đào tạo tiếp cận trình độ các trường đại học tiến tiến trong nước. Tăng cường các dịch vụ cộng đồng Phát triển đào tạo phi chính quy Nhận sinh viên du học từ tất cả các nước có nhu cầu Từ năm 2016 – 2020: Tiếp tục mở thêm các ngành đào tạo mới theo nhu cầu thị trường Duy trì ổn định quy mô sinh viên ở mức 15.000 Thực hiện trao đổi sinh viên với một số trường đại học trong khu vực Đông Nam Á Chất lượng đào tạo đạt trình độ khu vực. Tăng cường đào tạo nghề cho các tỉnh Tây Bắc và cả nước Sinh viên ra trường có năng lực thích ứng, năng lực trí tuệ, năng lực hành động, năng lực tự học, tự nghiên cứu để phát triển
Mục tiêu phát triển nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ:Xây dựng Trường Đại học Tây Bắc trở thành trung tâm nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ trọng điểm, hàng đầu của vùng Tây Bắc Sử dụng hiệu quả nguồn ngân sách KHCN của Nhà nước đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học để nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ, giảng viên đảm bảo đủ sức đảm nhận các nhiệm vụ khoa học công nghệ của Nhà trường và khu vực Tây Bắc Thực hiện trao đổi cán bộ khoa học với các trường đại học trong nước và một số trường đại học khu vực để nâng cao trình độ chuyên môn và khả năng nghiên cứu cho cán bộ, giảng viên.
Nghiên cứu khoa học theo các hướng: Nghiên cứu khoa học giáo dục, nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng triển khai, sưu tầm, nghiên cứu bảo tồn và phát triển văn hoá các dân tộc ít người Nghiên cứu khoa học phát triển công nghệ nhằm tham gia giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội, bảo vệ và sử dụng tài nguyên môi trường của vùng Tây Bắc Thực hiện các dịch vụ khoa học, chuyển giao công nghệ, sản xuất kinh doanh gắn với thế mạnh đào tạo của trường, nhu cầu của vùng Tây Bắc.Thực hiện thu từ nghiên cứu, chuyển giao khoa học công nghệ 10% năm 2015; 15% vào năm 2020 trong tổng thu của trường
Mục tiêu phát triển, cung ứng các dịch vụ xã hội: Phát triển dịch vụ đào tạo, huấn luyện nhân lực trong vùng theo hướng ngày càng mở rộng Thực hiện các dịch vụ tư vấn, chuyển giao kết quả nghiên cứu, ứng dụng khoa học,công nghệ cho vùng Tây Bắc Phát triển dịch vụ tư vấn việc làm cho sinh viên Tỷ trọng dịch vụ đạt 25 đến 30% tổng thu của trường vào năm 2020.
Một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý tài sản công tại Trường Đại học Tây Bắc
Từ thực trạng trên ta thấy rằng cần thiết phải có các giải pháp định hướng nhằm tăng cường quản lý tài sản của Trường ĐHTB góp phần đảm bảo phục vụ yêu cầu công tác và đưa công tác quản lý tài chính của Trường đi vào hoạt động có nền nếp, phát huy hiệu quả, tiết kiệm chi tiêu ngân sách, chống lãng phí Các giải pháp đó có thể khái quát như sau:
3.2.1 Xây dựng chiến lược phát triển với đa dạng hóa ngành đào tạo
Mặc dù hiện tại Trường đang ở giai đoạn đầu gây dựng thương hiệu nhằm thu hút sinh viên và học viên Tuy nhiên, nếu chỉ quá chú trọng vào phát triển vào quy mô đào tạo và cơ sở hạ tầng sẽ khiến cho Trường không có nguồn nội lực để tự phát triển mà phải phụ thuộc vào nguồn ngân sách nhà nước Do đó, Trường cần phối hợp đào tạo đồng thời với việc chú trọng hơn nữa việc gia tăng nguồn thu cho đơn vị Nguồn thu có thể tăng được nhờ những nguồn sau:
+ Đẩy mạnh việc mở thêm các mã ngành đào tạo các lĩnh vực Nông Lâm, Kinh tế Hiện nay, xu hướng chung của sự phát triển kinh tế đất nước cũng như khu vực Tây Bắc đòi hỏi một nguồn nhân lực về hai lĩnh vực này rất nhiều, tuy nhiên các chuyên ngành đã có của Trường chưa đáp ứng được nhu cầu của người học dẫn tới việc người học lại có xu hướng đăng ký học ở các Trường đại học ở khu vực khác như Hà Nội, Nghệ An, Thái Nguyên,
+ Hiện nay, Tỉnh Sơn La mới chỉ có một Trường Cao Đẳng Y mà chưa có Trường Đại học nào về lĩnh vực này Trong định hướng của Trường đã có việc mở thêm ngành học này, tuy nhiên, vẫn chưa đưa vào thực hiện, nên theo ý kiến của tác giả Trường nên đẩy nhanh tiến độ mở thêm ngành học này đáp ứng nhu cầu đào tạo của dân cư khu vực Tây Bắc, đồng thời có thêm nguồn thu từ ngành học ngoài Sư phạm này.
+ Trường nên đẩy mạnh hợp tác với các doanh nghiệp địa phương: Cần phải có chiến lược huy động nguồn lực từ các tổ chức xã hội, các hiệp hội và các doanh nghiệp vào hoạt động của Nhà trường Tạo điều kiện để các tổ chức xã hội, các hiệp hội nghề nghiệp, các doanh nghiệp tham gia vào việc đề xuất và đánh giá hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học của Trường vì các đơn vị này sẽ chính là nơi sử dụng lao động là sinh viên tốt nghiệp từ Trường ĐHTB Đồng thời, có cơ chế huy động nguồn tài chính ngoài ngân sách từ các tổ chức xã hội, các hiệp hội nghề nghiệp và các doanh nghiệp tài trợ cho hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học của Trường Bản thân các chủ doanh nghiệp địa phương đều nói rằng, doanh nghiệp sẵn sàng ủng hộ tài chính cho hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học của các Trường. Đồng thời, cũng có thể tạo điều kiện để việc có nguồn thu từ cung ứng dịch vụ nghiên cứu của Trường thông qua công tác tư vấn, hợp tác sản xuất, Ngoài ra, các doanh nghiệp địa phương là địa chỉ tin cậy để sinh viên ngoài ngành Sư phạm có thể thực hành rèn nghề rất tốt.
+ Ngoài việc quan tâm tới mở rộng quy mô tài sản, Trường cần phải tăng cường việc tận dụng tối đa công dụng của các tài sản công thông qua việc thường xuyên tổ chức các buổi học Chia nhỏ lớp học với những lớp có sĩ số quá lớn vừa tăng chất lượng giảng dạy, vừa tăng được công suất sử dụng tất cả các tài sản trong Trường
3.2.2 Nâng cao chất lượng đào tạo – cơ sở để tăng các khoản thu ngoài ngân sách
+ Yếu tố rất quan trọng tạo nên chất lượng giáo dục Đại học là chương trình đào tạo, cần có một khung chương trình chuẩn cho Trường không phải là đổi mới có kế thừa mà theo tôi là thay đổi Khi xây dựng khung chương trình bắt buộc phải cho người học tham dự (bao gồm người giảng dạy, người học, người sử dụng sản phẩm đào tạo) Hiện nay, một số môn học không còn phù hợp với tiến trình phát triển, và đòi hỏi của xã hội, đôi khi các chương trình học lấy từ trên Internet hay các tài liệu ở nước ngoài không hoàn toàn thích hợp thực tế của khu vực Tây Bắc Khuyến khích việc giảng dạy và học tập theo đúng tinh thần tín chỉ, từ đó những thiết bị công nghệ cao như máy chiếu sẽ được sử dụng nhiều hơn, người học chủ động hơn trong việc nghiên cứu tài liệu từ đó hệ thống thiết bị trong Thư viện của Trường cũng sẽ phát huy được vai trò của nó.
+ Song song với khung chương trình cần thay đổi hệ thống giáo trình bài giảng mang tính tiên tiến, chuẩn hóa có hội nhập Hiện nay, Trường vẫn sử dụng giáo trình của các Trường Đại học khác trong nước, mới chỉ có 2 Bộ giáo trình được Hiệu trưởng đồng ý xuất bản để sinh viên sử dụng Đây là minh chứng thực tiễn cho việc nâng cao chất lượng giáo dục Vì hệ thống giáo trình bài giảng là cơ sở khoa học là chất xám trí tuệcủa người viết, người biên soạn là tài liệu tham khảo của người học và đồng thời nếu giảng viên trong Trường tự biên soạn nội dung thì giáo trình sẽ phù hợp với đặc điểm của khu vực Tây Bắc hơn.
Hệ thống giáo trình bài giảng cũng là một thang đo, là một tiêu chí thể hiện thương hiệu của một trường.
3.2.3 Nâng cao năng lực của cán bộ quản lý tài sản công
Năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý TSC có tác động trực tiếp tới kết quả của công tác quản lý TSC của các ĐVSN nói chung và Trường ĐHTB nói riêng, nếu năng lực của các cán bộ này yếu kém sẽ ảnh hưởng tới tất cả quy trình quản lý TSC: khi mua sắm tài sản nếu không có những kiến thức về Quản lý và Kinh tế sẽ dễ dẫn tới việc lập dự án đầu tư sai, kiểm định, thẩm định giá không đúng sẽ khiến cho hiệu quả của dự án đầu tư thấp, giá thanh toán của tài sản bị chênh lệch với giá thực tế trên thị trường; Tới khâu sử dụng tài sản sẽ dẫn tới quản lý không chặt chẽ gây thất thoát, lãng phí, không sử dụng hết công suất của tài sản.
Với thực tế hiện nay, có 2 đơn vị trực tiếp quản lý TSC của Trường là Phòng Quản trị cơ sở vật chất và Phòng Kế toán Triển khai cho tất cả các đội ngũ cán bộ kế toán việc thi hành Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước; hướng dẫn thực hiện các bước theo quy trình, trình tự mua sắm, thanh lý, ghi tăng, ghi giảm tài sản cố định ; cụ thể tăng số lượng cán bộ Kế toán tài sản ở phòng Tài chính – Kế toán và tăng cường bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn cho những cán bộ này Đồng thời, cử các cán bộ phòng Quản trị cơ sở vật chất tham gia bồi dưỡng nghiệp vụ về công tác Quản lý để có thể hoàn thành công việc của mình, dần dần có thể thực hiện toàn bộ công tác quản lý mà Phòng Kế toán – Tài chính hiện nay đang đảm nhiệm Nâng cao nhận thức Ban giám hiệu nhà Trường về quản lý tài sản của Trường do hiện nay toàn bộ công tác quản lý tài sản của Trường chỉ do Hiệu trưởng trực tiếp quản lý, do đó chưa có sự thống nhất giữa các thành viên trong Ban giám hiệu dẫn tới tình trạng không nhất quán.
3.2.4 Tổ chức lại bộ máy quản lý tài sản công
Nên thành lập một bộ phận riêng biệt thường xuyên kiểm tra việc sử dụng TSC của các đơn vị trong Trường, tránh được tình trạng để các đơn vị tự xử lý vi phạm, đồng thời sẽ có sự thống nhất chung trong toàn Trường về công tác xử lý vi phạm này.
Thành lập bộ phận Kiểm toán nội bộ riêng góp phần tăng tính minh bạch trong công tác kiểm tra, kiểm soát việc mua sắm và sử dụng TSC của Trường.Hiện nay, công tác Kiểm toán nội bộ do những thành viên trong Trường đảm nhiệm (phần lớn là cán bộ giảng viên Khoa Kinh tế), do đó tính chuyên nghiệp không cao, hơn nữa vẫn tồn tại tâm lý nể nhau không thật sự thẳng thắn trong công tác Kiểm toán nội bộ của Trường Đồng thời, việc kiêm nhiệm nhiệm vụ Kiểm toán nội bộ cũng khiến cho công việc này bị chia sẻ thời gian với những công việc chuyên môn khác của những thành viên tham gia nhóm Kiểm toán gây cho thời gian tiến hành bị kéo dài.
Nhanh chóng xây dựng phần mềm quản lý TSC thống nhất giữa các đơn vị trong Trường, giao việc quản lý TSC cụ thể cho từng đơn vị nhằm tăng cường sự thống nhất trong quản lý cũng như sử dụng TSC của Trường.
Hàng năm thực hiện công khai, minh bạch trong quản lý, sử dụng tài sản công; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát; có các quy định xử phạt cụ thể cho những trường hợp dùng TSC vào việc riêng Hiện nay, trên trang web của Trường ĐHTB đã có Báo cáo ba công khai về tình hình tài chính của Trường, tuy nhiên, cần thiết phải có sự công khai tài sản của Trường nhằm đẩy mạnh việc kiểm soát chéo giữa các đơn vị trong Trường, đồng thời minh bạch được toàn bộ công tác quản lý TSC của Trường.
Thực hiện đúng trình tự mua sắm, thanh lý, ghi tăng, ghi giảm tài sản cố định, đặc biệt kiểm soát chặt chẽ đối với những TSCĐ được biếu, tặng.
Một số kiến nghị nhằm tăng cường quản lý tài sản công tại Trường Đại học Tây Bắc
3.3.1 Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước liên quan đến các trường đại học công lập
- Ban hành hướng dẫn thực hiện quy định quản lý, sử dụng tài sản nhà nước trên cơ sở văn bản pháp quy của Nhà nước, làm rõ các chế độ, tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản nhà nước trong các trường đại học công lập.Đặc biệt là hướng dẫn cụ thể tiêu chuẩn, định mức sử dụng trụ sở làm việc, xe ô tô và các trang thiết bị phục vụ công tác khác có giá trị lớn đảm bảo nguyên tắc bình đẳng, minh bạch, tiết kiệm và có hiệu quả phù hợp với đặc điểm, tính chất hoạt động và nhiệm vụ của từng loại hình hoạt động trong các trường đại học công lập.
- Xác lập quyền sở hữu đối với tài sản nhà nước dựa trên chức năng, nhiệm vụ của từng đơn vị trong các trường đại học công lập Đồng thời giám sát và kiểm soát việc quản lý và sử dụng trên tiêu chí tiết kiệm, chống lãng phí đối với tài sản sử dụng cho hành chính, quản lý và hiệu quả đối với tài sản phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ gắn với trách nhiệm đối với tập thể, cá nhân thủ trưởng đơn vị.
- Bộ Tài chính cần phối hợp với các Bộ, ngành liên quan để sửa đổi chế độ khấu hao TSCĐ cho phù hợp (nhất là máy móc thiết bị phục vụ công tác giảng dạy với thời gian 3 năm là hợp lý) Để việc tính khấu hao TSCĐ thực sự là xác định giá trị hao mòn tài sản được sử dụng trong quá trình hoạt động thực hiện nhiệm vụ của Nhà Trường, đồng thời thu hồi vốn đã đầu từ vào tài sản nhằm tạo nguồn tái đầu tư cho tài sản thì Nhà Trường cần được tự chủ trong việc xác định thời gian tính khấu hao tài sản Kiến nghị với Nhà nước cho phép Trường xây dựng quy chế về thời gian, tỷ lệ tính khấu hao TSCĐ nội bộ.
- Để khắc phục tình trạng đầu tư tài sản không kịp nhu cầu sử dụng tại Trường, giảm bớt thủ tục hành chính, và phù hợp với vật giá hiện nay cần sửa đổi Nghị định 43/2006/NĐ-CP tăng giá trị được quyền trực tiếp duyệt chi của Hiệu trưởng các trường Đại học công lập. Để kế hoạch hằng năm của Trường gần sát với năm thực hiện tài chính thì điều cần thiết là giá trị đồng nội tệ ổn định Chỉ có ổn định giá trị đồng nội tệ mới tính đúng kết quả hoạt động của Trường, mới so sánh, đánh giá đúng mức độ tăng trưởng của Nhà Trường về kế hoạch được giao.
Ngoài ra, Trường kiến nghị Nhà nước điều chỉnh khung học phí để tăng tính tích cực học tập đối với sinh viên bởi họ phải cân nhắc nên đến lớp học hay "thuê" người khác học, đồng thời tăng giá trị học bổng để học bổng thực sự là động lực để sinh viên nổ lực hết mình để đạt được Mở rộng đối tượng được vay vốn học tập, đồng thời tạo môi trường ràng buộc giữa việc trả nợ vay vốn học tập với việc làm để vốn cho vay được thu hồi và quay vòng phục vụ cho nhiều sinh viên thiếu điều kiện tài chính được tiếp cận những cơ sở đào tạo tốt.
Nếu Nhà nước không điều chỉnh tăng khung học phí do mức thu nhập của người dân chưa được nâng cao thì Nhà trường xin kiến nghị Nhà nước tăng kinh phí cấp cho hoạt động đào tạo sư phạm đặt biệt quan tâm đến những cơ sở giáo dục và đào tạo ở những vùng kinh tế còn thấp như vùng Tây Bắc. Bởi nếu không kịp thời nâng kinh phí đầu tư cho ngành sư phạm sẽ không thu hút được sinh viên học các ngành sư phạm, dẫn đến thiếu giáo viên phổ thông trong vài năm tới Điều này ít nhiều ảnh hưởng đến giảm chất lượng đào tạo ở bậc phổ thông, từ đó khó tuyển chọn đủ số lượng để đào tạo bậc cao hơn, cuối cùng là sự phát triển giáo dục sẽ đi ngược.
Biên chế là yếu tố quan trọng quyết định đến sự thành bại của một đơn vị Bởi nếu không đủ biên chế thì một người sẽ phải đảm nhận nhiều việc lâu dần sẽ không có thời gian để nghiên cứu, học tập, trao đồi kiến thức và dễ rơi vào trạng thái chai lỳ, làm việc máy móc, giảm năng suất lao động Nếu thừa thì lãng phí nguồn tài chính và giảm thu nhập của người lao động Vì thế Nhà trường rất mong được tự chủ về biên chế vì hiện nay Trường đang thiếu biên chế từ đầu năm nhưng đến giữa năm vẫn chưa được đơn vị chủ quản phê duyệt chỉ tiêu về biên chế.
3.3.2 Tăng cường sự hỗ trợ của các cấp quản lý
Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các Ban, Ngành chức năng tạo điều kiện hỗ trợ cho các ĐVSN trong hoạt động của mình, tránh tình trạng những đơn vị không do cơ quản quản lý của Nhà nước trực tiếp quản lý thì không quan tâm tới.
Lãnh đạo Tỉnh nên giao chỉ tiêu tiếp nhận và cam kết kết quả mà sinh viên được tiếp nhận đạt được sau thời gian kiến tập nghề tại doanh nghiệp Nhà nước; có chính sách hỗ trợ đối với đơn vị không là doanh nghiệp Nhà nước khi tiếp nhận và cam kết kết quả đạt được sau thời gian kiến tập nghề tại đơn vị đó. Đồng thời kiến nghị lãnh đạo Tỉnh tạo môi trường cho các đơn vị có liên quan trong quá trình tiếp nhận sinh viên tới rèn nghề tại các đơn vị trong Tỉnh.
Các đơn vị sự nghiệp, các doanh nghiệp phát huy tinh thần hỗ trợ sinh viên của Trường trong quá trình tiếp nhận sinh viên thực tập nghề Để phát huy tính xã hội hóa trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, kiến nghị với các đơn vị tiếp nhận lao động vừa tốt nghiệp Trường có bảng đánh giá của đơn vị tiếp nhận thực tập nghề về năng lực chuyên môn, tinh thần và thái độ làm việc của người lao động, để có thể đánh giá được năng lực đào tạo của Trường, từ đó có định hướng thay đổi chương trình đào tạo phù hợp với nhu cầu của người sử dụng lao động.
Hiện nay, để đáp ứng với tốc độ phát triển của nên kinh tế toàn cầu ngành giáo dục và đào tạo phải thay đổi từ hình thức sở hữu đến cách quản lý tài chính, nội dung chương trình đào tạo để Ngành thực sự là động lực, là nền tảng phát triển xã hội, nhanh chóng thực hiện chủ trương xây dựng một đất nước dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh.
Ngày nay, bên cạnh trường học công lập còn có trường dân lập, trường bán công, trường quốc tế, trường liên kết với nước ngoài Với sự đa dạng về hình thức sở hữu đã thúc đẩy các cơ sở giáo dục và đào tạo luôn hoàn thiện mọi hoạt động của đơn vị mình để có được vị trí nhất định trong giai đoạn cạnh tranh gay gắt như hiện nay Yếu tố quan trọng giúp cơ sở giáo dục và đào tạo đứng vững với thời gian là uy tín đào tạo Nghĩa là tên cơ sở giáo dục và đào tạo phụ thuộc vào chất lượng đào tạo của đơn vị mình Chất lượng đào tạo được đánh giá bằng mức độ thích ứng công việc hiện tại và khả năng giải quyết những việc phát sinh bất ngờ của người được đào tạo chuyên môn Lịch sử đã cho thấy những đơn vị có năng lực quản lý tốt sẽ dễ dàng tạo dựng uy tín đào tạo Bởi họ nắm trong tay công cụ hiệu quả nhất thu hút nhân tài trong lĩnh vực họ đang và sẽ đào tạo để tạo dựng đội ngũ giảng dạy hoặc cố vấn xây dựng chương trình đào tạo, cũng như đầu tư tốt cơ sở vật chất phục vụ người được đào tào Rõ ràng những yếu tố quan trọng Quyết định chất lượng đào tạo đều được trang bị đúng mức thì uy tín đào tạo của trường không chỉ được duy trì mà còn phát triển nhanh chóng
Mặt khác, tài sản là phương tiện để thực hiện mọi hoạt động nhằm đạt được mục tiêu đề ra Nhưng cần phải có một lượng tài sản nhất định để hoạt động tại một đơn vị diễn ra bình thường Mỗi loại tài sản khi sử dụng đều hao mòn và mất đi Bởi thế, nếu muốn có tài sản phục vụ nhu cầu con người thì tài sản phải được kéo dài tuổi thọ hoặc được tái tạo Thông qua hoạt động quản lý tài sản thì tài sản được tạo lập, được đưa vào sử dụng và kiểm soát hoạt động sử dụng tài sản để đạt mục tiêu theo kế hoạch một cách hiệu quả nhất. Chính vì thế, quản lý tài sản là yêu cầu tất yếu để đơn vị tồn tại và phát triển; hoàn thiện quản lý tài sản là vấn đề cốt lõi của quá trình quản lý Ở phần nội dung nghiên cứu của đề tài cũng đã cho thấy tầm quan trọng cũng như sự cần thiết phải tăng cường quản lý tài sản công tại trường đại học công lập nói chung, tại trường đại học Tây Bắc nói riêng.
Tăng cường quản lý tài sản công tại Trường đại học Tây Bắc dựa trên nguyên tắc thực hiện hoàn thiện quản lý tài chính tại Trường đại học công lập. Nhưng do đặc điểm của các Trường công lập khác nhau về lịch sử hình thành, đội ngũ CB-GV, điều kiện vị trí địa lý, năng lực quản lý và khác nhau về nhân tố khách quan Quyết định đến hoạt động của Trường như: mức thu nhập bình quân của dân cư địa phương, chủ trương và phương hướng phát triển kinh tế địa phương nên cách thức thực hiện giải pháp phải khác nhau Đề tài đã nêu ra giải pháp cùng kiến nghị để góp phần tăng cường quản lý tài sản công tại trường đại học Tây Bắc dựa trên phân tích thực trạng hoạt động của Trường trong giai đoạn 2010 - 2013. Đề tài "Tăng cường quản lý tài sản công tại trường Đại học Tây Bắc" được nghiên cứu chủ đạo là đưa giải pháp tăng cường quản lý tài sản công để nâng cao chất lượng đào tạo, nên mảng quản lý tài sản công trong hoạt động khoa học công nghệ và hợp tác quốc tế không đưa vào được nghiên cứu Các giải pháp, kiến nghị đưa ra chỉ mang tính giải quyết những hạn chế trong hoạt động quản lý tài sản công của Trường tương ứng với giai đoạn nghiên cứu, do đó Ban Giám Hiệu cần cân nhắc thời điểm và điều kiện hiện tại để thực hiện các giải pháp được đề xuất.
2 Bộ Tài chính, (2005), Quyết định số 77/2005/QĐ-BTC.
3 Bộ Tài chính , (2007), Thông tư số 63/2007/TT-BTC ngày 15/06/2007.
4 Bộ tài chính, (2008), Quyết định số 32/2008/QĐ-BTC ngày 29 tháng 05 năm 2008.
5 Bộ Tài chính, (2011), Thông tư số 06/2011/TT-BTC ngày 14 tháng 01 năm
6 Bộ Tài chính , (2012), Thông tư số 68/2012/TT-BTC ngày 26/4/2012.
7 Chính phủ nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, (2006), Nghị định số
8 Chính phủ nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, (2011), Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24/02/2011.
9 Dương Văn Chinh – Phạm Văn Khoan (2009), Giáo trình quản lý tài chính công, NXB Tài chính, Hà Nội.
10 Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2002), Giáo trình Khoa học quản lý, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội
11 Học viện hành chính quốc gia (2007), Tổ chức và nhân sự hành chính nhà nước, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội
12 Nguyễn Thị Thu Hương (2013), Biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý tài sản công, Tạp chí Tài chính số 8 – 2013.
13 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1992), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
14 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2005), Bộ Luật dân sự.
15 Thủ tướng nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Quyết định số
260/2006/QĐ-TTg ngày 14 tháng 11 năm 2006.
18 Đoàn Văn Trường (2004), Các phương pháp xác định giá trị tài sản vô hình, NXB Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội
19 Từ điển tiếng việt (1997), NXB Đà Nẵng, Đà Nẵng phủ)
Tiêu chuẩn diện tích từ tối thiểu tới tối đa cho 1 chỗ làm việc (m 2 /người)
1 Trưởng ban của Đảng ở Trung ương, Chánh Văn phòng Trung ương và các chức vụ tương đương, Chủ tịch Hội đồng dân tộc của Quốc hội, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban của Quốc hội,
Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Chủ nhiệm
Văn phòng Quốc hội, Chủ nhiệm