1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Quản trị rủi ro tỷ giá tại các ngân hàng thương mại cổ phần việt nam ừ thực tiễn tại ngân hàng thương mại cổ phần tiên phong

94 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quản trị rủi ro tỷ giá tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam: Từ thực tiễn tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Tiên Phong
Tác giả Nguyễn Thị Hương
Người hướng dẫn TS. Bùi Duy Phỳ
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2013
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 2,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VÀ NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN (19)
    • 1.1. Rủi ro tỷ giá (20)
    • 1.2. Tầm quan trọng của Quản trị rủi ro tỷ giá đối với Ngân hàng Thương mại (21)
    • 1.3. Nguồn rủi ro tỷ giá (23)
      • 1.3.1. Tác động của môi trường bên ngoài đến rủi ro trong kinh doanh ngoại hối (23)
      • 1.3.2. Tác động gây ra rủi ro tỷ giá xuất phát từ chính hoạt động kinh doanh của ngân hàng (30)
    • 1.4. Tác động của rủi ro tỷ giá (31)
    • 1.5. Quản lý rủi ro trong kinh doanh ngoại hối của các NHTM (32)
      • 1.5.1. Khái niệm quản lý rủi ro trong kinh doanh ngoại hối của các NHTM (32)
      • 1.5.2. Vai trò của quản lý rủi ro trong kinh doanh ngoại hối đối với NHTM (33)
      • 1.5.3. Các phương pháp quản lý rủi ro trong kinh doanh ngoại hối của các NHTM19 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO TỶ GIÁ TẠI CÁC NHTM (34)
    • 2.1 Thị trường ngoại hối Việt Nam (39)
    • 2.2 Công tác quản trị rủi ro tỷ giá tại các ngân hàng TMCP ở Việt Nam (44)
      • 2.2.1 Mô hình quản trị rủi ro tỷ giá tại các ngân hàng TMCP ở Việt Nam (44)
      • 2.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý rủi ro trong kinh doanh ngoại hối của các ngân hàng thương mại (45)
      • 2.2.3 Đánh giá những hạn chế trong công tác quản lý rủi ro thanh khoản tại các ngân hàng TMCP tại Việt Nam (48)
      • 2.3.2 Thực trạng kinh doanh ngoại hối tại PG Bank (55)
    • 2.4 Thực trạng công tác quản trị rủi ro tỷ giá tại PG Bank (59)
  • CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG QUẢN TRỊ RỦI RO TỶ GIÁ TẠI PG BANK (19)
    • 3.1 Ứng dụng phương pháp VaR trong phân tích rủi ro tỷ giá của Ngân hàng TMCP Xăng dầu Petrolimex (63)
      • 3.1.1 Giới thiệu phương pháp VaR trong phân tích tài chính (63)
      • 3.1.2 Ứng dụng phương pháp Toán kinh tế trong phân tích rủi ro tỷ giá tại PG Bank (66)
    • 3.2 Ứng dụng kết quả mô hình VaR trong công tác quản lý rủi ro tỷ giá tại PG Bank. .66 (81)
    • 3.3 Đề xuất các giải pháp nâng cao công tác quản lý rủi ro tỷ giá cho các NHTM CP tại Việt Nam xuất phát từ thực tiễn của PG Bank (82)
  • PHỤ LỤC (0)

Nội dung

Nhận thấy, việc tìm ra các giải pháp để phòng ngừa và nâng cao hiệuquả quản lý rủi ro tỷ giá cho hoạt động kinh doanh ngoại hối của các ngân hàngthương mại là đặc biệt cần thiết, tác giả

Trang 1

NGUYÔN THÞ h¬ng

QUẢN TRỊ RỦI RO TỶ GIÁ TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM: TỪ THỰC TIỄN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN TIÊN PHONG

Chuyªn ngµnh: ®iÒu khiÓn häc kinh tÕ

luËn v¨n th¹c sü kinh tÕ

Người hướng dẫn khoa học: ts trÇn träng nguyªn

Hµ Néi, N¨m 2013

Trang 2

mình, cụ thể:

Tên tác giả: Nguyễn Thị Hương

Sinh ngày: 06/12/1987

Quê quán: Bắc Giang

Hiện công tác tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Xăng dầu Petrolimex, làhọc viên cao học khóa 20 chuyên ngành Điều khiển học kinh tế, trường Đại họcKinh tế Quốc dân, mã số học viên CH200005

Tên đề tài: Quản trị rủi ro tỷ giá tại các ngân hàng TMCP Việt Nam: Từ thựctiễn tại Ngân hàng TMCP Xăng dầu Petrolimex

Người hướng dẫn: TS Bùi Duy Phú

Luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu cótính độc lập, không sao chép bất kỳ tài liệu nào và chưa được công bố toàn bộ nộidung này ở bất kỳ đâu, các số liệu, các nguồn trích dẫn trong luận văn được chúthích nguồn gốc rõ ràng, minh bạch

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan danh dự của tôi

Hà Nội, ngày 11 tháng 11 năm 2013

Tác giả

Nguyễn Thị Hương

Trang 3

Duy Phú, giáo viên hướng dẫn luận văn, trong suốt quá trình nghiên cứu đã cónhững gợi ý, định hướng và hỗ trợ tôi Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đếnGS.TS.Nguyễn Quang Dong, TS.Trần Trọng Nguyên đã có những chỉ dẫn quý báu

về chuyên môn toán tài chính cũng như những định hướng mô hình cho luận văn

Và để có đầy đủ dữ liệu, cũng như tài liệu tham khảo, kinh nghiệm chuyên môn, tôi

vô cùng biết ơn các bạn bè đã và đang làm việc trong môi trường ngân hàng, cũngnhư các đồng nghiệp tại PG Bank, cộng sự, đối tác tại MSB, MBB, HSB,…, đãgiúp tôi hoàn thành luận văn này Những ý kiến chia sẻ đầy tính chuyên môn, kinhnghiệm thực tiễn là những đóng góp không thể thiếu để hình thành nên bản luận vănnày Một lần nữa tôi xin được nói lời cảm ơn tới thầy giáo cùng tất cả các anh, chị,bạn bè, đồng nghiệp

HỌC VIÊN

NGUYỄN THỊ HƯƠNG

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ HÌNH

TÓM TẮT LUẬN VĂN

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VÀ NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN 5

1.1 Rủi ro tỷ giá 5

1.2 Tầm quan trọng của Quản trị rủi ro tỷ giá đối với Ngân hàng Thương mại 6

1.3 Nguồn rủi ro tỷ giá 8

1.3.1 Tác động của môi trường bên ngoài đến rủi ro trong kinh doanh ngoại hối 8

1.3.2 Tác động gây ra rủi ro tỷ giá xuất phát từ chính hoạt động kinh doanh của ngân hàng 15

1.4 Tác động của rủi ro tỷ giá 16

1.5 Quản lý rủi ro trong kinh doanh ngoại hối của các NHTM 17

1.5.1 Khái niệm quản lý rủi ro trong kinh doanh ngoại hối của các NHTM 17

1.5.2 Vai trò của quản lý rủi ro trong kinh doanh ngoại hối đối với NHTM 18

1.5.3 Các phương pháp quản lý rủi ro trong kinh doanh ngoại hối của các NHTM19 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO TỶ GIÁ TẠI CÁC NHTM CP TẠI VIỆT NAM: THỰC TIỄN TỪ PG BANK 24

2.1 Thị trường ngoại hối Việt Nam 24

2.2 Công tác quản trị rủi ro tỷ giá tại các ngân hàng TMCP ở Việt Nam 29

2.2.1 Mô hình quản trị rủi ro tỷ giá tại các ngân hàng TMCP ở Việt Nam 29

2.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý rủi ro trong kinh doanh ngoại hối của các ngân hàng thương mại 30

2.2.3 Đánh giá những hạn chế trong công tác quản lý rủi ro thanh khoản tại các ngân hàng TMCP tại Việt Nam 33

Trang 5

2.3.2 Thực trạng kinh doanh ngoại hối tại PG Bank 402.4 Thực trạng công tác quản trị rủi ro tỷ giá tại PG Bank 44

CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG QUẢN TRỊ RỦI RO TỶ GIÁ TẠI PG BANK 48

3.1 Ứng dụng phương pháp VaR trong phân tích rủi ro tỷ giá của Ngân hàng TMCPXăng dầu Petrolimex 483.1.1 Giới thiệu phương pháp VaR trong phân tích tài chính 483.1.2 Ứng dụng phương pháp Toán kinh tế trong phân tích rủi ro tỷ giá tại PG Bank 513.2 Ứng dụng kết quả mô hình VaR trong công tác quản lý rủi ro tỷ giá tại PG Bank .663.3 Đề xuất các giải pháp nâng cao công tác quản lý rủi ro tỷ giá cho các NHTM CPtại Việt Nam xuất phát từ thực tiễn của PG Bank 67

KẾT LUẬN 68 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

ALCO Ủy ban Quản lý Tài sản nợ - Tài sản có

CD & KDNT Cân đối và Kinh doanh ngoại tệ

Dealer Chuyên viên kinh doanh

FED Cục dự trữ liên bang Mỹ

HDQT NH Hội đồng quản trị ngân hàng

IMF Quỹ tiền tệ thế giới

KDNT Kinh doanh ngoại tệ

NHTM Ngân hàng thương mại

Phòng FX Phòng Cân đối và Kinh doanh Ngoại tệ

PG Bank Ngân hàng Thương mại cổ phần Xăng dầu PetrolimexQLRRTT Quản lý rủi ro thị trường

VaR Giá trị chịu tổn thất tối đa

Trang 7

Bảng 1.1 Lãi/lỗ thuần từ hoạt động kinh doanh ngoại hối của một số NHTMCP

Việt Nam 6

Biểu đồ 2.1: Doanh số mua, bán ngoại tệ theo đối tượng khách hàng 41

Biểu đồ 2.2: Tỷ giá 6 tháng đầu năm 2013 43

Biểu đồ 2.3: Doanh số FX 6 tháng đầu năm 2013 43

Hình 2.1: Diễn biến tỷ giá liên ngân hàng và tỷ giá của NHTM theo ngày, 2007 - 2009 25 Hình 2.2: Diễn biến tỷ giá liên ngân hàng và tỷ giá của NHTM theo ngày, 2007 – 200925 Hình 2.3: Diễn biến tỷ giá USD/VND, giai đoạn 2010-nay 28

Trang 8

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Quản trị rủi ro tỷ giá, từ sau những năm 1970, đã là một vấn đề được quantâm đặc biệt trong công tác quản lý của các ngân hàng thương mại trên toàn thếgiới Nhận thức thấy tầm quan trọng của việc quản trị rủi ro tỷ giá, trong hiệp địnhBasel II đã đưa ra các mô hình tính toán và các giá trị giới hạn rủi ro mà các ngânhàng phải tuân thủ để đảm bảo an toàn trong hoạt động kinh doanh ngoại hối củamình Thực tế quản trị rủi ro tỷ giá tại các ngân hàng ở Việt Nam lại chủ yếu mangtính định tính, chưa ứng dụng các công cụ định lượng thích hợp để quản lý nên khirủi ro xảy đến, các ngân hàng không có các nguồn vốn dự phòng để chống đỡ gây raảnh hưởng nghiêm trọng đến kết quả kinh doanh cũng như kế hoạch lợi nhuận củangân hàng Nhận thấy, việc tìm ra các giải pháp để phòng ngừa và nâng cao hiệuquả quản lý rủi ro tỷ giá cho hoạt động kinh doanh ngoại hối của các ngân hàngthương mại là đặc biệt cần thiết, tác giả chọn đề tài “QUẢN TRỊ RỦI RO TỶ GIÁTẠI CÁC NGÂN HÀNG TMCP VIỆT NAM: TỪ THỰC TIỄN TẠI NGÂNHÀNG TMCP XĂNG DẦU PETROLIMEX” để làm đề tài nghiên cứu cho luậnvăn thạc sỹ

Kinh doanh ngoại hối là một trong những hoạt động của ngân hàng nhằmphục vụ cho nhu cầu đa dạng của nền kinh tế, tạo điều kiện cho các nhà kinh doanhxuất nhập khẩu hoạt động thuận lợi Theo định nghĩa, rủi ro tỷ giá là rủi ro phát sinh

do sự biến động tỷ giá làm ảnh hưởng đến giá trị kỳ vọng trong tương lai của danhmục đầu tư ngoại tệ Rủi ro tỷ giá phát sinh khi ngân hàng kinh doanh mua bánngoại tệ, hay nói một cách khác, rủi ro tỷ giá là rủi ro xuất hiện khi có sự dịchchuyển tỷ giá của các ngoại tệ mà NHTM nắm giữ dưới dạng tài sản Có, tài sản Nợhoặc cả hai tức là tạo trạng thái ngoại tệ mở để đầu cơ kiếm lãi khi tỷ giá thay đổi.Tại Việt Nam, trong các báo cáo tài chính của không ít các ngân hàng và tập đoànkinh tế lớn thể hiện các khoản lỗ khổng lồ do rủi ro ngoại hối gây ra

Trang 9

Cuối năm 2012, Ngân hàng TMCP Á Châu kinh doanh ngoại hối lỗ hơn1.863 tỷ đồng, ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam lỗ gần 300 tỷ Bướcsang năm 2013, cuối Quý II, ngân hàng Á Châu kinh doanh ngoại hối tiếp tục lỗ53,67 tỷ, Ngân hàng TMCP Phương Đông lỗ tiếp 88,96 tỷ, Ngân hàng TMCP Kỹthương Việt Nam Techcombank năm 2012 lỗ gần 139 tỷ đồng và cuối quý II năm

2013 lỗ hơn 61 tỷ đồng Các khoản lỗ này không những ảnh hưởng trực tiếp đến kếtquả kinh doanh mà còn gây ra sự sụt giảm kỳ vọng của các nhà đầu tư trong vàngoài nước vào các ngân hàng tại Việt Nam Xuất phát từ thực tiễn trên, quản trị rủi

ro tỷ giá trong kinh doanh ngoại hối ở các ngân hàng TMCP Việt Nam trở thànhvấn đề được các ban lãnh đạo ngân hàng đặc biệt quan tâm

Một hệ thống quản lý rủi ro được tổ chức tốt và vận hành hiệu quả sẽ giúpcác ngân hàng đứng vững và vượt qua những biến động lớn trong các giai đoạn khókhăn Các nhân tố gây nên rủi ro đối với hoạt động kinh doanh ngoại hối của ngânhàng diễn ra liên tục và bất thường nên hoạt động quản trị rủi ro tỷ giá của cácNHTM là một nội dung quan trọng và luôn cần thiết mà ban điều hành ngân hàngcần đặc biệt quan tâm

Quản trị rủi ro kinh doanh ngoại hối tốt giúp góp phần làm giảm thiểu chi phíhoạt động và hạn chế tổn thất cho các ngân hàng, từ đó sẽ giúp tối đa hóa lợi nhuận

và giá trị cho cổ đông của ngân hàng Quản lý rủi ro kinh doanh ngoại hối hiệu quảgóp phần tạo điều kiện làm lành mạnh tình hình tài chính, ngăn ngừa nguy cơ phásản và gia tăng uy tín cho các NHTM Qua đó, các NHTM góp phần tăng lòng tinnơi khách hàng và các đối tác trong và ngoài nước; đồng thời thúc đẩy tăng trưởng,phát triển kinh tế ổn định và bền vững cho đất nước

Ngoài ra, việc thực hiện quản lý rủi ro kinh doanh ngoại hối một cáchnghiêm túc giúp ngân hàng đảm bảo rằng vốn pháp định của ngân hàng không bịsuy giảm và khả năng chịu đựng rủi ro của ngân hàng đủ bù đắp tất cả các rủi ro mà

có thể dẫn đến tổn thất cho ngân hàng tại mọi thời điểm Bộ phận kiểm soát rủi rothực hiện việc theo dõi, đo lường tất cả các rủi ro của ngân hàng và đánh giá mức

Trang 10

độ đầy đủ của khả năng chịu đựng rủi ro Nếu khả năng chịu đựng rủi ro là khôngđảm bảo, ngân hàng sẽ có các biện pháp xử lý kịp thời.

Tại Việt Nam, công tác quản trị rủi ro tỷ giá ở các ngân hàng TMCP hiện nayvẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế Điều đó thể hiện ở một số điểm nổi bật như:

Tính tuân thủ chưa cao: đa số các ngân hàng TMCP ở Việt Nam khi theođuổi mục tiêu lợi nhuận cao đã sẵn sàng chấp nhận mức rủi ro cao và các đơn vịkinh doanh trong ngân hàng có thể không tuân thủ các quy định, quy trình về quản

lý rủi ro để đạt được mục đích lợi nhuận Điều này không những gây khó khăn chocông tác quản lý rủi ro của ngân hàng mà còn có khả năng gây ra các tổn thất rấtlớn

Ủy ban quản lý rủi ro chưa phát huy hết vai trò của mình: Trong mô hìnhhoạt động của các ngân hàng nước ngoài, ủy ban quản lý rủi ro là bộ phận kiểm soáthoạt động độc lập với bộ phận kinh doanh của ngân hàng, chịu trách nhiệm giám sátcác hoạt động kinh doanh của ngân hàng và sẵn sàng “ngăn cản” các hoạt động kinhdoanh tiềm chứa nhiều rủi ro cho ngân hàng Tuy nhiên, tại các ngân hàng TMCP ởViệt Nam, các ủy ban quản lý rủi ro thường chưa phát huy được hết vai trò củamình và thường là bộ phận hoạt động mang tính chất “hỗ trợ” cho bộ phận kinhdoanh Điều này xuất phát từ một thực tế là các ngân hàng ở Việt Nam được hìnhthành chưa lâu và thường tập trung phát triển mạnh về kinh doanh chứ chưa ý thứccao về vấn đề quản lý rủi ro

Các công cụ quản lý còn mang nặng tính định tính, chưa có công cụ quản lýđịnh lượng phù hợp: Các công cụ quản lý rủi ro tỷ giá hiện tại ở các ngân hàngTMCP Việt Nam chủ yếu xuất phát từ hai yêu cầu chính:

- Yêu cầu tuân thủ các giới hạn do Ngân hàng nhà nước đặt ra: giới hạn vềhạn mức trạng thái ngoại hối mở so với vốn tự có và giới hạn về biên độ giao dịchcủa tỷ giá đồng đô la Mỹ USD so với đồng Việt Nam VNĐ

- Yêu cầu tuân thủ các giới hạn kinh doanh của ngân hàng như: hạn mứckinh doanh, hạn mức dừng lỗ

Trang 11

Ở nhóm yêu cầu thứ 2, các hạn mức được xây dựng theo “khẩu vị rủi ro” củaHội đồng quản trị và dựa trên các báo cáo phân tích định tính, không có các phântích định lượng làm cơ sở xác minh và do đó ngân hàng rất khó trích lập đượcnguồn “vốn dự phòng” hợp lý cho các rủi ro gây nên từ hoạt động kinh doanh ngoạihối Điều này làm suy giảm sức chống đỡ của ngân hàng từ các biến động bất lợi dothị trường gây ra.

Hoạt động kinh doanh ngoại hối của PG Bank được tiến hành từ những ngàyđầu thành lập đến nay Tuy nhiên, cũng giống như tình hình chung của các ngânhàng TMCP ở Việt Nam, các hoạt động giao dịch ngoại hối của PG Bank thời kỳtrước năm 2006 chỉ mang tính chất phục vụ đối ứng nhu cầu của khách hàng Phảisau năm 2006, PG Bank mới mở rộng nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối theo cơ chế

tự doanh, tìm kiếm cơ hội mang lại lợi nhuận cho ngân hàng

Nguồn: Phòng Cân đối và Kinh doanh ngoại tệ - PG Bank

Tổng lợi nhuận năm 2012 thu được từ hoạt động KDNT của toàn hệ thống

ngân hàng là đạt 44.7 tỷ VNĐ

Thực trạng công tác quản trị rủi ro tỷ giá tại PG Bank: PG Bank thực hiệnquản lý nguồn vốn theo cơ chế tập trung Các hoạt động kinh doanh vốn và ngoại tệđều thông qua Hội sở Hội sở đứng ra là tổ chức mua/bán và kinh doanh vốn với cácchi nhánh

Trang 12

Các hoạt động giao dịch và kinh doanh ngoại tệ tại PG Bank đều được thôngqua Hội sở Chi nhánh có trách nhiệm thực hiện các giao dịch mua/bán ngoại tệ vớikhách hàng là các tổ chức kinh tế và tư nhân Hội sở thực hiện các giao dịch đối ứngvới chi nhánh thông qua thị trường Liên ngân hàng và các hoạt động tự doanh nhằmtìm kiếm lợi nhuận cho ngân hàng.

Hội đồng quản trị chịu trách nhiệm quản lý rủi ro tỷ giá cho ngân hàng Cáchạn mức kinh doanh, thiết lập vốn dự phòng đều do Hội đồng quản trị quyết định vàđược xác định lại thông qua các kỳ họp của ALCO

Hội đồng quản trị giao cho Phòng QLRRTT quản lý trực tiếp mảng rủi ro tỷgiá hàng ngày Phòng QLRRTT có trách nhiệm kiểm soát tính tuân thủ các hạn mứckinh doanh của các đơn vị kinh doanh trong quá trình hoạt động, cũng như đề xuấtcác công cụ quản lý định lượng, làm cơ sở xác định mức vốn dự phòng cho hoạtđộng kinh doanh ngoại hối trình Hội đồng quản trị phê duyệt

Các công cụ được PG Bank sử dụng trong công tác quản lý rủi ro tỷ giá là:công cụ định tính và công cụ định lượng Một trong những công cụ định lượng được

PG Bank triển khai hiện thời là công cụ tính toán VaR nhằm xác định mức tổn thấttối đa có thể gặp phải trong quá trình kinh doanh ngoại tệ và mức vốn dự phòngngân hàng cần trích lập

Phương pháp tính VaR hiện tại của PG Bank tương đối đơn giản và thuậntiện, dựa trên các giải thiết cơ bản là: các chuỗi lợi suất tỷ giá phân bố chuẩn, trungbình và phương sai không điều kiện của các chuỗi lợi suất không thay đổi

Ưu điểm của phương pháp trên là tương đối đơn giản, dễ hiểu phù hợp vớiđiều kiện quản trị của ngân hàng Tuy nhiên, các giả thiết tương đối chặt chẽ củaphương pháp trên thực tế không phù hợp với tình hình diễn biến của thị trườngngoại hối Việt Nam, các giá trị VaR đưa ra tương đối lớn, gây khó khăn cho việctrích lập vốn dự phòng của ngân hàng Việc tìm ra một phương pháp tính toán giátrị VaR mới là một yêu cầu cần thiết trong bài toán quản trị của ngân hàng, phươngpháp mới này đảm bảo tiêu chí không quá phức tạp, các giả thiết phù hợp hơn vớidiễn biến của thị trường và các kết quả nhận được phù hợp hơn với yêu cầu quản trịcủa ngân hàng

Trang 13

Phương pháp VaR được tác giả lựa chọn dựa trên cặp giả thiết: lợi suất củacác chuỗi tỷ giá phân bổ chuẩn, trung bình và phương sai có điều kiện của các chuỗilợi suất thay đổi theo thời gian Tác giả sử dụng các mô hình phân tích chuỗi thờigian để dự báo trung bình và phương sai của các chuỗi lợi suất.

Sử dụng phương pháp VaR tính toánh giá trị rủi ro cho danh mục đầu tưngoại tệ của PG Bank với 4 đồng ngoại tệ mạnh là: USD, EUR, AUD và GBP

Trong bản nghị quyết được Hội đồng ALCO thông qua về kế hoạch kinhdoanh của Ngân hàng trong 6 tháng cuối năm 2013, giá trị VaR cho danh mục ngoại

tệ là 1,5 tỷ/ngày Như vậy, với diễn biến thị trường và giá trị danh mục ngoại tệ hiệntại, Phòng Cân đối và Kinh doanh Ngoại tệ chưa phải đóng bớt trạng thái mở ngoại

tệ của Ngân hàng

Xác định mức vốn dự phòng cần trích lập cho hoạt động kinh doanh ngoạihối của Ngân hàng trong kỳ tiếp theo: ngân hàng cần trích lập mức vốn dự phòngcho danh mục đầu tư ngoại tệ tại thời điểm ngày 30/09/2013 là 1,3 tỷ đồng (ứng vớigiá trị VaR/ngày với độ tin cậy 99%) theo như điều lệ quy định trong nghị quyếtALCO

Từ thực tiễn quản lý rủi ro tỷ giá tại ngân hàng TMCP Xăng dầu Petrolimex,tác giả đề xuất một số giải pháp nâng cao công tác quản lý rủi ro tỷ giá cho cácNHTM CP tại Việt Nam như sau:

Trang 14

- Xây dựng bộ chỉ số VaR cho danh mục kinh doanh ngoại hối của ngânhàng hàng ngày.

- Ủy ban quản lý rủi ro của ngân hàng Đưa ra giới hạn dừng lỗ/lãi khi giá trịVaR vượt các hạn mức về rủi ro thị trường được Hội đồng ALCO duyệt cho từngthời kỳ

- Xác định mức vốn dự phòng cần trích lập cho hoạt động kinh doanh ngoạihối của Ngân hàng trong kỳ tiếp theo

Tầm quan trọng của công tác quản lý rủi ro tỷ giá đã được khẳng định từ lâutrong cộng đồng ngân hàng quốc tế Ủy ban Basel về Giám sát ngân hàng đã đưa ranhững khuyến nghị chính sách riêng cho lĩnh vực này trong các bản đề xuất củamình Ngân hàng Trung Ương các nước phát triển cũng đưa rất nhiều tài liệu hướngdẫn triển khai các khuyến nghị của Ủy ban Basel Các ngân hàng thương mại tại đócũng đã triển khai hệ thống quản lý rủi ro với các kỹ thuật ngày một tinh vi hơn dựatrên các nguyên tắc được khuyến nghị này

Tại Việt Nam, trong những năm gần đây, thị trường ngoại hối đã bắt đầuhình thành và từng bước phát triển Tuy nhiên, hoạt động kinh doanh ngoại hối lạitiềm ẩn nhiều rủi ro, nhất là rủi ro về tỷ giá ngoại tệ và giá vàng Hoạt động quản lýrủi ro lại bị mục tiêu kinh doanh lợi nhuận lấn át, dẫn đến tình trạng thua lỗ nghiêmtrọng của nhiều ngân hàng trong thời gian qua Do đó, nhiều ngân hàng thương mạitrong nước đã bắt đầu để ý tới quản lý rủi ro tỷ giá và đang trong quá trình xây dựngmột hệ thống quản lý rủi ro tiệm cận trình độ quốc tế

Ngân hàng TMCP Xăng dầu Petrolimex (PG Bank) là một ngân hàng nhỏkhông có nhiều sản phẩm về ngoại hối nhưng hoạt động tương đối an toàn và manglại nhiều lợi nhuận cho ngân hàng trong thời gian qua Tuy nhiên để đạt được kếtquả này không chỉ do hệ thống quản lý rủi ro hoạt động hiệu quả mà còn do chiếnlược kinh doanh thận trọng và sự cẩn trọng của bản thân các đơn vị kinh doanh

Luận văn này đã giải quyết được các vấn đề trong mục tiêu nghiên cứu, baogồm: làm rõ cơ sở lý luận về quản lý rủi ro trong kinh doanh ngoại hối tại các ngânhàng TMCP, thực trạng về quản lý rủi ro tỷ giá trong kinh doanh ngoại hối của cácngân hàng TMCP tại Việt Nam và đưa ra một công cụ định lượng mới nhằm nângcao công tác quản lý rủi ro tỷ giá và xác định mức vốn dự phòng cho ngân hàng

Trang 16

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Quản trị rủi ro tỷ giá, từ sau những năm 1970, đã là một vấn đề được quantâm đặc biệt trong công tác quản lý của các ngân hàng thương mại trên toàn thếgiới Với sự phát triển mạnh mẽ và rộng rãi của thị trường ngoại hối quốc tế, cácngân hàng tìm thấy cơ hội đầu tư thông qua việc trở thành một thành viên của thịtrường này Nhận thức thấy tầm quan trọng của việc quản trị rủi ro tỷ giá, trong hiệpđịnh Basel II đã đưa ra các mô hình tính toán và các giá trị giới hạn rủi ro mà cácngân hàng phải tuân thủ để đảm bảo an toàn trong hoạt động kinh doanh ngoại hốicủa mình Tại các ngân hàng lớn ở Châu Âu, hàng ngày đều có bộ phận kiểm soátrủi ro giám sát hoạt động kinh doanh thông qua các giới hạn đảm bảo và việc tuânthủ các giới hạn này của bộ phận kinh doanh, đồng thời các ủy ban giám sát cũngyêu cầu các ngân hàng trích lập các nguồn vốn dự phòng rủi ro cho hoạt động kinhdoanh ngoại hối nói riêng và các hoạt động kinh doanh tài chính nói chung

Tại Việt Nam, những năm trước đây, hoạt động của các ngân hàng chủ yếu tậptrung vào khâu tín dụng, có những ngân hàng hoạt động kinh doanh tín dụng chiếmđến hơn 90%, tỷ trọng dành cho hoạt động kinh doanh ngoại hối rất ít, hơn nữa, nhờchính sách can thiệp của nhà nước đã giúp cho lãi suất và tỷ giá hối đoái rất ổn định,vấn đề kinh doanh ngoại hối cũng như quản lý rủi ro tỷ giá chưa được các ngânhàng quan tâm đúng mức Chỉ đến thời gian gần đây, từ năm 2006, khi thị trườngchứng khoán sôi động, tỷ giá USD/VNĐ biến động nhanh, giá vàng biến độngmạnh, tỷ trọng kinh doanh tín dụng giảm dần, nhiều loại hình kinh doanh mới xuấthiện như đầu tư tài chính, kinh doanh ngoại hối, vàng… áp lực cạnh tranh trên thịtrường tăng cao, kéo theo nhiều rủi ro tiềm ẩn trong các hoạt động kinh doanh tàichính trong đó có kinh doanh ngoại hối và vàng thì các ngân hàng mới bắt đầu quantâm nhiều hơn đến việc sử dụng các công cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá cho hoạt độngkinh doanh ngoại hối Về phía các ngân hàng, hoạt động kinh doanh ngoại hối được

kỳ vọng là hoạt động mang lại lợi nhuận cao và nhanh chóng cho ngân hàng, tuy

Trang 17

nhiên, với các diễn biến khó đoán của tỷ giá và giá vàng thì đây cũng là hoạt độngtiềm ẩn nhiều rủi ro bất trắc và thường xuyên Thực tế quản trị rủi ro tỷ giá tại cácngân hàng ở Việt Nam lại chủ yếu mang tính định tính, chưa ứng dụng các công cụđịnh lượng thích hợp để quản lý nên khi rủi ro xảy đến, các ngân hàng không có cácnguồn vốn dự phòng để chống đỡ gây ra ảnh hưởng nghiêm trọng đến kết quả kinhdoanh cũng như kế hoạch lợi nhuận của ngân hàng Nhận thấy, việc tìm ra các giảipháp để phòng ngừa và nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro tỷ giá cho hoạt động kinhdoanh ngoại hối của các ngân hàng thương mại là đặc biệt cần thiết, tác giả chọn đề

tài “QUẢN TRỊ RỦI RO TỶ GIÁ TẠI CÁC NGÂN HÀNG TMCP VIỆT

NAM: TỪ THỰC TIỄN TẠI NGÂN HÀNG TMCP XĂNG DẦU PETROLIMEX” để làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sỹ.

2 Tổng quan về công trình nghiên cứu

Qua tìm hiểu trong thời gian qua, tác giả nhận thấy các đề tài có hướng nhiêncứu này chỉ có các tác giả khác thực hiện ở cấp thạc sỹ từ năm 2008 trở về trước vàmột luận án tiến sỹ thực hiện năm 2013 Ngoài ra còn có một số bài báo của cácchuyên gia trong và ngoài nước đề cập đến vấn đề này như bài báo của Th.S TrầnMạnh Hà ứng dụng phương pháp VaR – mô phỏng lịch sử trong việc cảnh báo vàgiám sát rủi ro thị trường đối với hệ thống NHTM Việt Nam

Các đề tài được thực hiện từ năm 2008 trở về trước nên thực trạng không cònphù hợp với tình hình hiện nay Luận án tiến sỹ thực hiện năm 2013 về đề tài này lạinghiên cứu trên góc độ quản lý định tính, mang nặng tính lý thuyết và khó giảiquyết được bài toán về “vốn dự phòng” cho hoạt động kinh doanh ngoại hối mà cácngân hàng đặt ra hiện nay Bài nghiên cứu của Th.S Trần Mạnh Hà tính toán giá trịVaR cho danh mục tài sản của ngân hàng theo phương pháp mô phỏng lịch sử vàchưa tiếp cận cho lĩnh vực kinh doanh ngoại hối của các NHTM Việt Nam Do đó,việc tìm ra một giải pháp căn bản và khả thi nhất nhằm tăng cường quản lý rủi rotrong hoạt động kinh doanh ngoại hối tại các NHTM là việc làm vô cùng cần thiết,trong đó cần có một mô hình áp dụng được trong hoạt động thực tiễn của ngân hàng

Trang 18

nhằm giúp cho các đơn vị có liên quan trong ngân hàng sử dụng được bất cứ khinào có nhu cầu kiểm soát và phòng ngừa rủi ro ngoại hối.

3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Đề tài nghiên cứu nhằm đạt được 4 mục tiêu sau đây:

- Xác định những nguyên nhân gây ra rủi ro trong kinh doanh ngoại hối củacác ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam

- Thực trạng quản lý rủi ro ngoại hối tại các ngân hàng thương mại cổ phần,những hạn chế còn tồn đọng

- Đề xuất mô hình áp dụng trong việc quản lý rủi ro và phòng ngừa rủi ro

- Kiến nghị những biện pháp nhằm hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh ngoại hối

và quản lý rủi ro trong kinh doanh ngoại hối

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài nghiên cứu thực trạng và các giảipháp trong việc quản lý rủi ro tỷ giá trong kinh doanh ngoại hối của các ngân hàngthương mại cổ phần tại Việt Nam, xuất phát từ thực tiễn tại Ngân hàng thương mại

cổ phần xăng dầu Petrolimex

Ngoại ra, trong hoạt động kinh doanh ngoại hối, luận văn chỉ giới hạn phạm vinghiên cứu là 4 loại ngoại tệ mạnh: USD, EUR, AUD và GBP

Mẫu điều tra phục vụ cho nghiên cứu là từ đầu năm 2008 đến cuối tháng 09năm 2013

5 Phương pháp nghiên cứu và thu thập phân tích dữ liệu

Là công trình nghiên cứu khoa học nên trong quá trình thực hiện đề tài, tác giảchủ yếu sử dụng các phương pháp phân tích, thống kê, quy nạp, diễn dịch, phươngpháp VaR để thực hiện nghiên cứu Trong quá trình nghiên cứu, có sự kết hợp giữa

Trang 19

lý luận và thực tiễn, đồng thời tham khảo các tài liệu, lý thuyết về tài chính – tiền tệ,ngân hàng, các công trình nghiên cứu của các tác giả trong ngoài nước liên quanđến nội dung nghiên cứu, cũng như sử dụng các số liệu tham khảo từ các cơ quanhữu quan.

Nghiên cứu tập trung vào hoạt động kinh doanh ngoại hối của các ngân hàngthương mại cổ phần tại Việt Nam nên dữ liệu lựa chọn được xác định trên các cơ sởsau:

- Số liệu về tình hình hoạt động và kết quả kinh doanh của các ngân hàng đượclấy trên các báo cáo tài chính và báo cáo thường niên công bố của các ngânhàng Đây là các số liệu có thực, đã được kiểm toán và dễ kiểm tra

- Số liệu về tỷ giá giao dịch của các đồng ngoại tệ là tỷ giá mua chuyển khoảncủa đồng ngoại tệ đó so với đồng Việt Nam đồng tại đầu ngày điều tra vàđược lưu giữ trên hệ thống dữ liệu của Reuter và Bloomberg

Dữ liệu thu thập sẽ được thống kê, tổng hợp, phân tích trong mô hình VaR đểminh họa và làm tăng độ tin cậy trong nghiên cứu

6 Kết cấu đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được trình bày

ba chương:

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VÀ NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO TỶ GIÁ TẠI CÁC NHTM

CP TẠI VIỆT NAM: THỰC TIỄN TỪ PG BANK

CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG QUẢN TRỊ RỦI RO TỶ GIÁ TẠI CÁC NHTMCP TẠI VIỆT NAM

Trang 20

CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN VÀ NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN

1.1 Rủi ro tỷ giá

Kinh doanh ngoại hối là một trong những hoạt động của ngân hàng nhằm phục

vụ cho nhu cầu đa dạng của nền kinh tế, tạo điều kiện cho các nhà kinh doanh xuấtnhập khẩu hoạt động thuận lợi Theo định nghĩa, rủi ro tỷ giá là rủi ro phát sinh do

sự biến động tỷ giá làm ảnh hưởng đến giá trị kỳ vọng trong tương lai Rủi ro tỷ giáphát sinh khi ngân hàng kinh doanh mua bán ngoại tệ, hay nói một cách khác, rủi ro

tỷ giá là rủi ro xuất hiện khi có sự dịch chuyển tỷ giá của các ngoại tệ mà NHTMgiữ dưới dạng tài sản Có, tài sản Nợ hoặc cả hai tức là tạo trạng thái ngoại tệ mở đểđầu cơ kiếm lãi khi tỷ giá thay đổi Rủi ro tài chính dễ gặp nhất của Ngân hàng khi

tỷ giá trên thị trường ngoại hối thay đổi là mối đe dọa bị tổn thất một phần vốn củamình và không đạt được lợi nhuận hay đòi hỏi các khoản chi phí bổ sung để thựchiện các nghiệp vụ tài chính nhất định

Trong nền kinh tế thị trường, tỷ giá luôn biến động, với sự biến động của tỷgiá hối đoái, bất kỳ một khoản nợ nào cho dù dài hay ngắn, đối với một đồng tiềnnhất định, đều có thể tạo cho ngân hàng phải đối mặt với rủi ro tỷ giá hối đoái Sựthay đổi tỷ giá dẫn đến sự thay đổi giá trị ngoại hối, cụ thể:

 Nếu ngân hàng có dư dật về ngoai tệ nào đó, khi ngoại tệ đó lên giá, ngânhàng sẽ có lãi, ngược lại ngân hàng sẽ lỗ khi ngoại tệ đó xuống giá

 Nếu ngân hàng ở vị đoản về loại ngoại tệ nào đó, khi ngoại tệ đó lên giá,ngân hàng sẽ lỗ và ngược lại ngân hàng sẽ có lãi nếu ngoại tệ đó xuống giá.Một trạng thái ngoại hối dù ở thế trường hay thế đoản đều có nguy cơ gây tổnthất cho các nhà giao dịch Dư dật về ngoại tệ càng lớn thì rủi ro càng cao khi tỷ giágiảm; ngược lại, khi ngân hàng ở vị thế đoản về ngoại tệ nào đó càng mạnh thì rủi

ro cũng không ít khi tỷ giá giảm Khi phân biệt tình hình lãi, lỗ ngoại hối theo vị thếngoại hối, người ta so sánh số lỗ, lãi thực tế xảy ra so với mức lỗ, lãi dự kiến, qua

đó đánh giá chất lượng quản lý rủi ro tỷ giá hối đoái của một ngân hàng

Trang 21

1.2 Tầm quan trọng của Quản trị rủi ro tỷ giá đối với Ngân hàng Thương mại

Theo Luật các tổ chức tín dụng, NHTM là tổ chức tín dụng được thực hiệntoàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mụctiêu lợi nhuận theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng và các quy định kháccủa pháp luật Trong môi trường toàn cầu hóa nền kinh tế hiện nay, lĩnh vực tàichính – ngân hàng cũng trong quá trình hội nhập mạnh mẽ thì kinh doanh ngoại tệ

là nghiệp vụ quan trọng trong hoạt động kinh doanh của các NHTM nhằm thỏa mãnnhu cầu của khách hàng và nâng cao khả năng sinh lời cho ngân hàng Việc thamgia các giao dịch ngoại hối ngày càng gia tăng đã đặt các NHTM trước nguy cơ rủi

ro tỷ giá do sự biến động của tỷ giá và do các ngân hàng thường xuyên không cânbằng về trạng thái ngoại tệ Trên thế giới, đã không ít các ngân hàng sụp đổ do rủi

ro tỷ giá gây nên, như: Sự phá sản của ngân hàng Herstatt năm 1974, sự sụp đổ củatập đoàn Barings hay cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ Đông Nam Á gần đây.Tại Việt Nam, trong các báo cáo tài chính của không ít các ngân hàng và tập đoànkinh tế lớn thể hiện các khoản lỗ khổng lồ do rủi ro ngoại hối gây ra

Bảng 1.1 Lãi/lỗ thuần từ hoạt động kinh doanh ngoại hối

của một số NHTMCP Việt Nam

Đơn vị :VNĐ

Ngân hàng 31/12/2012

Ngân hàng TMCP Á Châu (1,863,643,000,000)

Ngân hàng TMCP Phát triển TPHCM (43,304,784,267)

Ngân hàng TMCP Phương Đông (132,746,004,243)

Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam 330,057,000,000

Ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam (297,374,000,000)

Ngân hàng TMCP Phương Nam (45,813,485,218)

Ngân hàng TMCP Việt Á (47,480,272,803)

Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (117,164,000,000)

Ngân hàng TMCP An Bình (30,461,000,000)

Nguồn: Báo cáo tài chính của các NHTM cổ phần Việt Nam năm 2012

(Ghi chú: số trong () thể hiện khoản lỗ trong kết quả kinh doanh ngoại hối của ngân hàng)

Trang 22

Cuối năm 2012, Ngân hàng TMCP Á Châu kinh doanh ngoại hối lỗ hơn 1.863

tỷ đồng, ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam lỗ gần 300 tỷ Bước sangnăm 2013, cuối Quý II, ngân hàng Á Châu kinh doanh ngoại hối tiếp tục lỗ 53,67 tỷ,Ngân hàng TMCP Phương đông lỗ tiếp 88,96 tỷ, Ngân hàng TMCP Kỹ thương ViệtNam Techcombank năm 2012 lỗ gần 139 tỷ đồng và cuối quý II năm 2013 lỗ hơn

61 tỷ đồng Các khoản lỗ này không những ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả kinhdoanh mà còn gây ra sự sụt giảm kỳ vọng của các nhà đầu tư trong và ngoài nướcvào các ngân hàng tại Việt Nam

Thị trường ngoại hối là thị trường tài chính thanh khoản nhất trên thế giới hiệnnay Các ngân hàng tham gia thị trường ngoại hối không những để đáp ứng nhu cầukinh doanh của chính mình mà còn để đáp ứng nhu cầu giao dịch của khách hàng vàcác nghiệp vụ thanh toán khác Thị trường ngoại hối quốc tế với các đặc điểm riêng

có của mình gần như là một thị trường hàng hóa cạnh tranh hoàn hảo bất kể sự canthiệp tiền tệ của các Ngân hàng Trung Ương Tuy nhiên, tại thị trường Việt Nam, dochính sách điều hành tỷ giá cố định của Nhà nước những năm trước đã hình thànhnên một thị trường ngoại hối tự do với tỷ giá ngoại hối tự do có sự khác biệt so với

tỷ giá công bố chính thức Thị trường này tiềm ẩn nhiều rủi ro cho chính các nhàđầu tư trên thị trường Các ngân hàng TMCP với tư cách là các nhà đầu tư lớnkhông tránh khỏi các rủi ro này

Khi các hoạt động kinh doanh tín dụng của ngân hàng chịu sự cạnh tranhmạnh mẽ của các ngân hàng trong nước và nước ngoài thì kinh doanh ngoại hối làhoạt động kinh doanh được nhiều ngân hàng tập trung nhằm mục đích tìm kiếm lợinhuận cho ngân hàng Hoạt động kinh doanh này không chỉ diễn ra trên thị trườngtrong nước mà cả thị trường quốc tế Việc thiếu vốn, thiếu kinh nghiệm cũng nhưthiếu thông tin có thể khiến các ngân hàng TMCP của Việt Nam gặp phải những rủi

ro bất lợi trên thị trường

Khi ngân hàng huy động vốn hay đầu tư các tài sản có bằng ngoại tệ, việc tỷgiá thay đổi thường xuyên và bất lợi có thể ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn vốn củangân hàng từ đó ảnh hưởng đến các kế hoạch kinh doanh trong trung và dài hạn

Trang 23

Quản trị rủi ro tỷ giá trở thành vấn đề cấp thiết trong công tác quản trị của các ngânhàng.

Quản trị rủi ro tỷ giá tốt sẽ giúp các ngân hàng giải quyết được ba vấn đề lớn:

- Cảnh báo sớm các rủi ro có thể gặp phải trong hoạt động kinh doanh ngoạihối của ngân hàng

- Định hướng cho hoạt động kinh doanh ngoại hối, lập kế hoạch phòng ngừa

và giảm thiểu những hậu quả do rủi ro gây nên

- Xác định nguồn vốn dự phòng cần thiết cho hoạt động kinh doanh ngoại hối,giúp ngân hàng chủ động trước các diễn biến xấu của thị trường

1.3 Nguồn rủi ro tỷ giá

Rủi ro tỷ giá trong hoạt động kinh doanh của NHTM có thể xảy ra do tác độngcủa môi trường bên ngoài hay do chính các yếu tố xuất phát từ các hoạt động bêntrong của ngân hàng

Các yếu tố tác động của môi trường bên ngoài như môi trường kinh tế - chínhtrị - xã hội trong nước và trên thế giới, các thay đổi cung – cầu làm thay đổi giá củacác đồng ngoại tệ trên thị trường ngoại hối Các yếu tố này bao gồm cả các phảnứng của thị trường trước các chính sách điều hành tiền tệ của ngân hàng Trung ươngcác nước và nhiều tác động khác

Các hoạt động bên trong của ngân hàng gây ra các rủi ro về tỷ giá bao gồm 2nhóm hoạt động chính là: ngân hàng mua bán ngoại tệ phục vụ cho nhu cầu thanhtoán của khách hay nhu cầu kinh doanh của chính mình và ngân hàng đầu tư ngoại

tệ vào các tài sản có hay huy động vốn bằng ngoại tệ

1.3.1 Tác động của môi trường bên ngoài đến rủi ro trong kinh doanh ngoại hối

1.3.1.1 Các yếu tố tác động do môi trường Quốc tế

Các yếu tố này phát sinh do các điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội của cácnước trên thế giới ảnh hưởng đến nền kinh tế của một quốc gia nói chung và hoạtđộng kinh doanh ngoại hối của các NHTM ở quốc gia đó nói riêng Mức độ tácđộng này có thể tùy theo độ mở cửa của từng nền kinh tế khác nhau Tuy nhiên, với

Trang 24

sự phát triển mạnh mẽ của quá trình toàn cầu hóa hiện nay, cũng như sự mở rộng thịtrường ngoại hối đã vượt ra khỏi phạm vi một quốc gia thì tác động của các yếu tốnày thường mang tính chất nhanh chóng và trực tiếp.

Mỹ và EU là các nước có vị thế rất lớn trên trường quốc tế, bất kỳ một chínhsách tiền tệ nào được các nước này ban hành không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến thịtrường tài chính của các nước đó mà còn ảnh hưởng mạnh mẽ đến thị trường tàichính toàn cầu

Chính sách tiền tệ của một quốc gia tác động đến tỷ giá thông qua điều kiệncân bằng lãi suất theo tỷ giá kỳ vọng (uncovered interest rate parity) Nếu Ngânhàng Trung Ương một nước cắt giảm lãi suất cao hơn một nước khác, đồng nội tệcủa nước đó sẽ yếu hơn đồng nội tệ của nước kia nhằm mục đích khuyến khích xuấtkhẩu ròng và tổng cầu trong nền kinh tế, thì tỷ giá hối đoái giữa 2 đồng tiền sẽ thayđổi và có thể tạo ra các rủi ro không mong muốn đối với các nhà kinh doanh ngoạihối trên thị trường

Về thực nghiệm, có nhiều bằng chứng cho thấy mối tương quan thuận giữachính sách tiền tệ và tỷ giá Các nghiên cứu của Faust và Rogers (2003) và Faust et

al (2003) đã cho thấy tác động của quyết định tăng lãi suất của Fed đến tỷ giá đô la

Mỹ so với đồng Bảng Anh, Mark Đức và đồng Euro, tuy nhiên, cú sốc chính sáchtiền tệ này chỉ giải thích được một phần nhỏ biến động tỷ giá mà thôi Lobo et al.(2006) phát hiện rằng quyết định lãi suất của Fed có tương quan thuận với sự thayđổi giá trị đồng đô la Mỹ Ngoài ra, các tác giả còn phát hiện ra tác động bất cânxứng của quyết định lãi suất của Fed Quyết định cao hơn kỳ vọng thị trường có tácđộng mạnh hơn quyết định thấp hơn kỳ vọng đối với các cặp tỷ giá đô la Mỹ vàBảng Anh, Mark Đức và đô la Canada, tuy nhiên, quyết định thấp hơn kỳ vọng thịtrường lại có tác động mạnh hơn đối với cặp tỷ giá đô la Mỹ và Yên Nhật Gần đây,Fatum và Scholnick (2008) cũng phát hiện rằng phần ngoài kỳ vọng trong quyếtđịnh thắt chặt/nới lỏng tiền tệ của Fed có tác động làm tăng/giảm giá đồng đô la Mỹ

so với đồng Bảng Anh, Mark Đức và Yên Nhật

Trang 25

Tình hình kinh tế Mỹ và các nền kinh tế mạnh trên thế giới cũng ảnh hưởngmạnh mẽ đến giá đồng ngoại tệ của các quốc gia này và từ đó ảnh hưởng đến tỷ giáhối đoái trên thị trường ngoại hối Nếu những yếu tố cơ bản của nền kinh tế Mỹđang được cải thiện, mức độ triển vọng của nền kinh tế được đánh giá ở mức lạcquan thì đồng USD sẽ trở nên mạnh hơn do các nhà đầu tư trên thị trường ngoại hối

sẽ tiến hành mua đồng USD vào và điều này gây nên rủi ro tỷ giá cho các nhà đầu

tư đang ở vị thế đoản trong việc nắm giữ đồng tiền này Và ngược lại, nếu nền kinh

tế Mỹ đang suy yếu đi thì việc đồng USD mất giá sẽ gây ra những bất lợi cho cácnhà đầu tư đang ở vị thế trường

1.3.1.2.Các yếu tố tác động do môi trường trong nước

Đây là các yếu tố tác động từ nội tại nền kinh tế của một quốc gia, trong đócác yếu tố tác động chủ yếu bao gồm: lãi suất, lạm phát, thâm hụt cán cân thươngmại, tình trạng đô la hóa nền kinh tế, cơ chế điều hành tỷ giá và các hợp đồng giaodịch phát sinh ngoại hối

- Lãi suất

Lãi suất có vai trò quyết định đối với thị trường ngoại hối Những đồng tiềnđại diện cho những nền kinh tế có lãi suất cao có khuynh hướng mạnh hơn nhữngđồng tiền đại điện cho những nền kinh tế có lãi suất thấp hơn Nhà đầu tư luôn luôntìm kiếm những khoản lợi nhuận cao nhất có thể trên những khoản đầu tư của họ, vànhững nền kinh tế với lãi suất cao hơn thường có lợi tức đầu tư cao hơn Ví dụ, nếulãi suất khi bạn đầu tư vào nước Mỹ là 6%, lãi suất khi đầu tư vào Anh là 2% thìbạn sẽ thích đầu tư vào nước Mỹ hơn Vậy thì vấn đề lãi suất ảnh hưởng như thếnào đến đồng đô la Mỹ của nước Mỹ? Khi càng có nhiều người đổ tiền vào nước

Mỹ, đồng USD sẽ tăng giá do cầu về đồng tiền này tăng (Qui luật cung cầu) Nhàđầu tư thành công trên thị trường ngoại hối luôn biết phải thường xuyên theo dõi sátsao những động thái của NHTW để xem liệu NHTW sẽ tăng, giảm hay duy trì mộtmức lãi suất cố định trong tương lai

Trang 26

Lạm phát là chỉ số kinh tế quan trọng nhất mà NHTW xem xét khi đưa raquyết định về lãi suất Lạm phát một cách chung nhất được hiểu là sự tăng giá củahàng hóa và dịch vụ Lạm phát vừa phải được chấp nhận và xem như kết quả tựnhiên của sự phát triển kinh tế Tuy nhiên, lạm phát quá cao lại có thể làm tổnthương nền kinh tế Các NHTW luôn phải theo dõi sự gia tăng của lạm phát KhiNHTW nhận thấy lạm phát gia tăng vượt qua mức lạm phát vừa phải, họ sẽ thựchiện bất cứ biện pháp nào để kìm hãm sự tăng trưởng này Một công cụ để NHTWkìm hãm sự gia tăng của lạm phát là lãi suất – các NHTW có thể chống lại sự giatăng của lạm phát bằng cách tăng lãi suất Lãi suất cao sẽ gây khó khăn hơn chohoạt động kinh doanh và cho cá nhân trong việc vay mượn tiền để mua hoặc xâydựng mới, điều này sẽ làm chậm lại sự phát triển kinh tế, đồng thời, kìm chế lạmphát Và các chính sách liên quan đến lãi suất lại có tác động đến tỷ giá hối đoái vàrủi ro tỷ giá như đã phân tích ở trên.

Mặt khác, khi lạm phát không được kìm chế ở mức vừa phải làm cho suy yếugiá trị của đồng nội tệ, đồng thời làm tăng giá trị của hàng nhập khẩu và tạo thêm áplực lên CPI, rồi từ CPI lên cao sẽ gây áp lực mặt bằng lãi suất cao và làm đồng nội

tệ thêm mất giá Mức chênh lệch lạm phát giữa hai nước cũng ảnh hưởng đến sựbiến động của tỷ giá Giả sử trong điều kiện cạnh tranh lành mạnh, năng suất laođộng của hai nước tương đương như nhau, cơ chế quản lý ngoại hối tự do thì vớimột mức tỷ giá cân bằng, nước nào có tỷ lệ lạm phát cao hơn thì đồng tiền sẽ mấtgiá nhiều hơn Xuất phát từ công thức:

Trang 27

* P

P

Er  En

Dễ thấy, khi lạm phát ở trong nước tăng cao hơn so với lạm phát ở nước ngoài,CPI trong nước sẽ tăng cao hơn CPI* làm cho tỷ giá thực tế tăng Theo thuyết nganggiá sức mua của hai đồng tiền PPP (Purchasing Power Parity Theory), mức giá củamột nước tăng lên tương đối so với mức tăng giá của nước khác trong dài hạn sẽlàm cho đồng tiền của nước đó giảm giá và ngược lại Như vậy, yếu tố chênh lệchlạm phát sẽ có ảnh hưởng đến biến động của tỷ giá hối đoái trong dài hạn Một nềnkinh tế được đánh giá ở mức triển vọng khi duy trì được tỷ lệ tăng trưởng GDP thực

tế, tỷ lệ việc làm, cải thiện đời sống nhân dân ở mức ổn định cùng tỷ lệ lạm phátvừa phải Khi kỳ vọng lạm phát xảy ra sẽ khiến hành vi của các chủ thể trong nềnkinh tế trở nên không ổn định Có thể nói, mọi động thái bất thường và bất hợp lýcủa chỉ số lạm phát đều để lại những hiệu quả tiêu cực cho nền kinh tế, tạo ra nhiềurủi ro cho các hoạt động trên thị trường ngoại hối

- Thâm hụt cán cân thương mại

Nhập siêu hay tình trạng thâm hụt cán cân thương mại là sự mất cân đối giữanhập khẩu và xuất khẩu trong điều kiện nhập khẩu vượt quá xuất khẩu Nếu tìnhtrạng này duy trì trong dài hạn và vượt quá mức độ cho phép có thể ảnh hưởng tớicán cân tài khoản vãng lai và gây nên những biến động bất lợi đối với nền kinh tế

Tỷ giá chịu tác động rất lớn của tình hình cán cân thanh toán quốc tế của mộtquốc gia Việc nhập siêu kéo dài sẽ gây áp lực và làm cho cán cân thanh toán quốc

tế bị thiếu hụt, điều này có nghĩa là tổng số chi ngoại tệ lớn hơn tổng số thu ngoại

tệ, đồng ngoại tệ tăng giá và đồng nội tệ giảm giá, tỷ giá hối đoái giảm

Ngoài ra, nhập siêu ở mức cao kéo dài gây tác động tiêu cực đến nền kinh tế

và điều hành chính sách tiền tệ Nhập siêu tạo áp lực suy giảm dự trữ ngoại hối,thâm hụt cán cân thương mại tạo ra sự giảm lòng tin của người dân vào đồng tiềncủa một Quốc gia, tăng cầu về USD hay một loại ngoại tệ khác và tăng đầu tư vàovàng nhằm bảo tồn giá trị Với các đặc điểm trên, thâm hụt cán cân thương mạicàng làm cho tỷ giá của USD hay một ngoại tệ khác với đồng tiền của quốc gia đó

và giá vàng trong nước thường biến động theo chiều hướng tăng; cuối cùng tạo ra

Trang 28

nhiều rủi ro đối với các nhà đầu tư kinh doanh ngoại hối trên thị trường tài chính,bao gồm cả các NHTM.

- Tình trạng đô la hóa nền kinh tế

Theo IMF, đô la hóa là tình trạng mà tỷ trọng tiền gửi bằng ngoại tệ chiếmtrên 30% tổng khối tiền tệ mở rộng (M2) bao gồm: tiền mặt trong lưu thông, tiền gửikhông kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi ngoại tệ

Đô la hóa được hiểu theo cách đơn giản nhất là ngoại tệ USD được sử dụngrộng rãi bên cạnh đồng nội tệ làm đồng tiền thanh toán trong các giao dịch thươngmại Điển hình như, IMF đã xếp Việt Nam thuộc nhón quốc gia đô la hóa khôngchính thức, tức là đồng đô la được sử dụng rộng rãi trong nền kinh tế nhưng khôngđược quốc gia đó chính thức thừa nhận

Đôla hoá cũng có những lợi ích kinh tế nhất định, chẳng hạn như đôla hoá gắnchặt hơn nền kinh tế trong nước với nền kinh tế quốc tế, mở ra cơ hội cạnh tranh vớicác thị trường này; giảm chi phí in tiền cho ngân hàng trung ương Tuy nhiên, đôlahóa cũng có những ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế, nhất là khi nền kinh tế đangtrong giai đoạn lạm phát cao thì nó sẽ góp phần phá vỡ lòng tin đối với đồng bản tệ;

nó là nhân tố tiềm ẩn gây ra sự yếu kém của hệ thống ngân hàng, có thể gây ranhững biến động mạnh trên bảng cân đối tiền tệ của các NHTM Vì vậy, trong nềnkinh tế đôla hoá đòi hỏi chấp nhận những giải pháp kiểm soát hoạt động ngân hàngthận trọng; và nhất là đôla hoá làm cho điều hành chính sách tiền tệ trong nước phụthuộc nhiều vào chính sách tiền tệ của nước ngoài, việc điều hành chính sách tiền tệtrở nên khó khăn hơn

Đối với một quốc gia có tình trạng đô la hóa không chính thức, nhu cầu về nội

tệ không ổn định, trong trường hợp có biến động, người dân và các tổ chức kinh tếbất ngờ chuyển sang ngoại tệ có thể làm cho đồng nội tệ mất giá và bắt đầu một chu

kỳ lạm phát Khi người dân giữ một khối lượng lớn tiền gửi bằng ngoại tệ, nhữngthay đổi về lãi suất trong nước hay nước ngoài có thể gây sự chuyển dịch lớn từđồng tiền này sang đồng tiền khác hay còn gọi là hoạt động đầu cơ tỷ giá Nhữngthay đổi này sẽ gây khó khăn cho ngân hàng trung ương trong việc đặt mục tiêu

Trang 29

cung tiền trong nước và có thể gây ra những bất ổn định trong hệ thống ngân hàng

và hoạt động của thị trường ngoại hối

Tình trạng đô la hóa nền kinh tế còn gây áp lực tới việc ngân hàng nhà nướccan thiệp trên thị trường ngoại hối ngay cả khi tổng thể nền kinh tế không bị mấtcân đối cung cầu ngoại tệ, tại vì các khu vực trong nền kinh tế có xu hướng găm giữngoại tệ Tại Việt Nam, để ổn định giá trị đồng nội tệ và kiềm chế lạm phát, ngânhàng nhà nước phải bán USD ra thị trường ngoại hối ngay cả khi tổng thể nền kinh

tế có dư cung về ngoại tệ

- Quy định về Trạng thái ngoại tệ của các TCTD

Thông tư số 07/2012/TT-NHNN ngày 20/03/2012 do Ngân hàng nhà nước banhành về trạng thái của các TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, trạng thái ngoại

tệ là trạng thái nguyên tệ của ngoại tệ đó được quy đổi sang đồng Việt Nam theo tỷgiá quy đổi trạng thái Theo đó, giới hạn tổng trạng thái ngoại tệ dương cuối ngàydương (âm) cuối ngày của TCTD không được vượt quá 20% vốn tự có của TCTD(quy định trước đây là 30%), riêng các chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại ViệtNam có vốn tự có từ 25 triệu đôla Mỹ trở xuống thì giới hạn tổng trạng thái ngoại tệkhông được vượt quá 5 triệu đôla Mỹ Đây là một trong những công cụ điều hànhcủa ngân hàng nhà nước nhằm hạn chế khả năng đầu cơ ngoại tệ và hạn chế việcchuyển đổi các đồng tiền Mặt khác, việc các TCTD phải điều chỉnh lại trạng tháingoại tệ theo hạn mức mới đồng nghĩa với việc tổ chức phải mua lại nếu đang ởmức trạng thái lớn hơn hạn mức Nhu cầu mua lại có lẽ sẽ gây áp lực nhất định chothị trường ngoại hối vì tình trạng chênh lệch lãi suất vay USD và VND thời gianqua đã khuyến khích hoạt động chuyển vốn, chẳng hạn bán USD ra để đổi sangVND nhằm cho vay và điều nay sẽ gây ra những biến động bất lợi trên thị trườngngoại hối đối với một số nhà đầu tư và ảnh hưởng đến rủi ro trong hoạt động kinhdoanh ngoại hối của các NHTM

Trang 30

- Cơ chế điều hành tỷ giá của Ngân hàng nhà nước

Kể từ năm 1999, khi Việt Nam có sự thay đổi lớn trong cơ chế điều hành tỷgiá, bảng phân loại cơ chế tỷ giá của IMF xếp Việt Nam vào nhóm cơ chế tỷ giá thảnổi với mức phân định là cơ chế tỷ giá thả nổi có quản lý không định trước(Managed floating with no predeterminded for exchange rate) cùng với các nướctrong khu vực như Thái Lan, Singapore Ở cùng thời gian này, Malaysia và TrungQuốc vẫn được xếp vào nhóm cố định truyền thống (Conventinal peggedarrangement) tức là có cơ chế tỷ giá “cứng” hơn so với Việt Nam Tuy nhiên, từcuối năm 2004 trở lại đây, IMF xếp Việt Nam sang nhóm nước có cơ chế điều hành

tỷ giá cố định truyền thống vì nhận định rằng Việt Nam có thể sẽ neo biên độ tỷ giá

ở mức dưới 3%

Giai đoạn 1996 – 2006, Việt Nam chuyển từ cơ chế tỷ giá cố định sang cơ chế

tỷ giá thả nổi có điều tiết và đến năm 2007 đến nay, thì Ngân hàng trung ương thựchiện chính sách tỷ giá linh hoạt với việc điều chỉnh biên độ tỷ giá theo tưng thời kỳ.Tuy nhiên, việc điều hành chính sách tỷ giá hối đoái của Việt Nam đang bị đánh giá

là nặng về quản lý tỷ giá hối đoái danh nghĩa, thiếu các phân tích và đánh giáthường xuyên về tỷ giá hối đoái thực và mặc dù sau mỗi lần điều chỉnh, tỷ giá chínhthức đều lên kịch trần thì tỷ giá trên thị trường tự do vẫn nằm ngoài biên độ chophép của Ngân hàng Nhà nước, gây “méo mó” chính sách và tính không hiệu quảtrong việc điều hành Hiện nay, các chính sách điều hành vẫn thường là “chạy theothị trường” và chưa đạt được mục tiêu “định hướng” nên chưa giảm thiểu được rủi

ro cho các nhà đầu tư trên thị trường ngoại hối

1.3.2 Tác động gây ra rủi ro tỷ giá xuất phát từ chính hoạt động kinh doanh của ngân hàng

Có hai nguyên nhân chính làm phát sinh rủi ro trong hoạt động kinh doanhngoại hối của các NHTM bao gồm:

- Các Ngân hàng mua bán ngoại tệ phục vụ cho nhu cầu thanh toán của Kháchhàng hay phục vụ chính mục đích kinh doanh của ngân hàng

- Các ngân hàng đầu tư vào các tài sản có và huy động vốn bằng ngoại tệ hay vàng

Trang 31

Cả hai nguyên nhân trên đều tạo ra một xu hướng về trạng thái ngoại tệ ròngđối với hầu hết các NHTM hiện nay Tại Việt Nam, theo hướng dẫn của Thông tư07/2012/TT-NHNN thì trạng thái ngoại tệ ròng của một TCTD được xác định bằngtrạng thái nội bảng cộng trạng thái ngoại bảng, hay là bằng chênh lệch giữa tài sản

có và tài sản nợ bằng ngoại tệ cộng với chênh lệch giữa mua vào và bán ra bằngngoại tệ được ghi nhận ở ngoại bảng Các NHTM sẽ phải giới hạn tổng trạng tháingoại tệ cuối ngày của mình ở mức dưới 20% vốn tự có để giảm thiểu mức rủi ro dobiến động tỷ giá gây ra

Các NHTM thường có xu hướng tối đa hóa lợi nhuận của mình để đáp ứng cácchỉ tiêu kinh doanh nên cũng thường có xu hướng để trạng thái ngoại tệ lớn Điềunày cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro cho ngân hàng Cân nhắc giữa lợi nhuận và tổn thấtluôn là bài toán mà các NHTM gặp phải

1.4 Tác động của rủi ro tỷ giá

Rủi ro tỷ giá là những tổn thất có thể xảy ra đối với hoạt động kinh doanh củaNHTM khi có sự biến động của tỷ giá hối đoái Về bản chất, kinh doanh ngoại hối

tự nó chứa đựng rủi ro rất cao Ngoài các rủi ro thông thường mà các hoạt độngkhác cũng phải đối mặt như: rủi ro lãi suất, rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro

kỹ thuật, rủi ro hoạt động, rủi ro pháp lý và rủi ro quốc gia thì kinh doanh ngoại hốicòn chịu thêm một rủi ro đặc biệt, đó là rủi ro về tỷ giá ngoại tệ Do tỷ giá ngoại tệbiến động thường xuyên và bất thường nên rủi ro tỷ giá ngoại tệ được xem là rủi rothường trực, gắn liền và trở thành rủi ro đặc trưng trong hoạt động kinh doanh ngoạihối của các NHTM

Tác động của rủi ro tỷ giá đến kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàngnhiều hay ít phụ thuộc vào trạng thái ngoại hối mở của ngân hàng đó và độ biếnđộng của tỷ giá ngoại tệ trên thị trường ngoại hối Các tác động đáng kể của rủi ro

tỷ giá đến kết quả hoạt động kinh doanh của một ngân hàng thường thể hiện trêncác khía cạnh sau:

Trang 32

- Do tỷ giá biến động liên tục trong ngày, thị trường ngoại hối là thị trường tàichính rất nhạy cảm với các thông tin kinh tế trong và ngoài nước nên dễ xảy

ra các “cú sốc tỷ giá” gây ra các tổn thất nhanh và bất ngờ cho ngân hàng

- Lợi nhuận kinh doanh không như dự kiến, ngân hàng có khả năng mất mộtphần vốn do thua lỗ trong kinh doanh ngoại hối gây ra

- Sự sụt giảm lòng tin của các cổ đông và đối tác kinh doanh chiến lược củangân hàng

1.5 Quản lý rủi ro trong kinh doanh ngoại hối của các NHTM

1.5.1 Khái niệm quản lý rủi ro trong kinh doanh ngoại hối của các NHTM

Để kinh doanh ngoại tệ có lãi thì các NHTM phải tạo trạng thái ngoại hối mở

và tỷ giá phải biến động Muốn tránh hoàn toàn rủi ro tỷ giá thì nhà kinh doanh chỉviệc không tiến hành bất kỳ giao dịch ngoại hối nào hoặc nếu đã tạo trạng thái ngoạihối thì tiến hành các giao dịch đối ứng để đóng các trạng thái ngoại hối đó Tuynhiên, để phục vụ mục tiêu lợi nhuận và hoạt động kinh doanh của ngân hàng thìcác dealer thường tạo trạng thái ngoại hối và hy vọng tỷ giá ngoại tế biến động theochiều hướng có lợi cho ngân hàng Với việc tỷ giá luôn biến động thường xuyên vàbất thường thì cơ hội kiếm được lợi nhuận cũng như việc đối đầu với các rủi ro mấtvốn do kinh doanh ngoại hối tạo ra là liên tục và cũng là động lực kinh doanh củacác NHTM Tiềm năng thu lãi và tiềm ẩn rủi ro là đồng hành với nhau Lãi lố trongkinh doanh ngoại hối có thể phát sinh cùng với quy mô biến động tỷ giá, trong khi

tỷ giá biến động là không giới hạn thì mức độ phát sinh lãi lỗ là rất lớn Điều nàybuộc các NHTM phải có một cơ chế quản lý và giám sát hoạt động kinh doanhngoại tệ một cách chặt chẽ

Rủi ro kinh doanh ngoại hối chứa đựng các yếu tố khách quan rất nhiều nênviệc ngân hàng mong muốn loại trừ tất cả các rủi ro tỷ giá khi tham gia kinh doanhtrên thị trường ngoại hối là không thể Ngân hàng chỉ có thể đưa ra các biện pháp vàcông cụ nhằm hạn chế sự xuất hiện của rủi ro

Cho nên, theo tác giả, quản lý rủi ro trong kinh doanh ngoại hối tại các NHTM

là quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học, toàn diện và có hệ thống nhằm nhận

Trang 33

dạng, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu những tổn thất do rủi ro gây ra Quytrình quản lý rủi ro thông thường gồm năm bước: nhận dạng rủi ro, phân tích rủi ro,kiểm soát rủi ro, phòng ngừa rủi ro và tài trợ rủi ro.

1.5.2 Vai trò của quản lý rủi ro trong kinh doanh ngoại hối đối với NHTM

Một hệ thống quản lý rủi ro được tổ chức tốt và vận hành hiệu quả sẽ giúp cácngân hàng đứng vững và vượt qua những biến động lớn trong các giai đoạn khókhăn Các nhân tố gây nên rủi ro đối với hoạt động kinh doanh ngoại hối của ngânhàng diễn ra liên tục và bất thường nên hoạt động quản trị rủi ro tỷ giá của cácNHTM là một nội dung quan trọng và luôn cần thiết mà ban điều hành ngân hàngcần đặc biệt quan tâm

Quản trị rủi ro kinh doanh ngoại hối tốt giúp góp phần làm giảm thiểu chi phíhoạt động và hạn chế tổn thất cho các ngân hàng, từ đó sẽ giúp tối đa hóa lợi nhuận

và giá trị cho cổ đông của ngân hàng Quản lý rủi ro kinh doanh ngoại hối hiệu quảgóp phần tạo điều kiện làm lành mạnh tình hình tài chính, ngăn ngừa nguy cơ phásản và gia tăng uy tín cho các NHTM Qua đó, các NHTM góp phần tăng lòng tinnơi khách hàng và các đối tác trong và ngoài nước; đồng thời thúc đẩy tăng trưởng,phát triển kinh tế ổn định và bền vững cho đất nước

Quản lý rủi ro tỷ giá tốt giúp phát hiện kịp thời những nguyên nhân có thể gâynên rủi ro cho hoạt động kinh doanh ngoại hối, từ đó ngân hàng có những giải phápphòng ngừa và hạn chế rủi ro thích hợp

Quá trình này giúp xây dựng hình ảnh tốt đẹp cho ngân hàng, đáp ứng yêu cầucủa các quá định trong nước và các chuẩn mực quốc tế

Hệ thống quản lý rủi ro kinh doanh ngoại hối hiệu quả giúp các NHTM cóđược các nhân tố tích cực sau trong quá trình hoạt động của ngân hàng như có sựgiám sát và quản lý tích cực sau trong quá trình hoạt động của ngân hàng như cógiám sát và quản lý tích cực của Hội đồng quản trị và Ban điều hành; ban hành vàtriển khai đầy đủ của chính sách, quy trình quản lý rủi ro và các giới hạn rủi ro; thiếtlập hệ thống thông tin quản lý rủi ro phù hợp và thiết lập được hệ thống kiểm soátnội bộ và kiểm toán nội bộ hoạt động phù hợp

Trang 34

Ngoài ra, việc thực hiện quản lý rủi ro kinh doanh ngoại hối một cách nghiêmtúc giúp ngân hàng đảm bảo rằng vốn pháp định của ngân hàng không bị suy giảm

và khả năng chịu đựng rủi ro của ngân hàng đủ bù đắp tất cả các rủi ro mà có thểdẫn đến tổn thất cho ngân hàng tại mọi thời điểm Bộ phận kiểm soát rủi ro thựchiện việc theo dõi, đo lường tất cả các rủi ro của ngân hàng và đánh giá mức độ đầy

đủ của khả năng chịu đựng rủi ro Nếu khả năng chịu đựng rủi ro là không đảm bảo,ngân hàng sẽ có các biện pháp xử lý kịp thời

1.5.3 Các phương pháp quản lý rủi ro trong kinh doanh ngoại hối của các NHTM

Trên thế giới, các ngân hàng thường sử dụng các phương pháp sau đây đểquản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại hối của ngân hàng:

- Đặt hạn mức trạng thái ngoại hối mở qua đêm:

Hạn mức (position limits) là giới hạn trạng thái ngoại hối tối đa mà mỗi nhóm,

cá nhân KDNH được phép thực hiện Tùy theo kinh nghiệm, trình độ, mục đíchkinh doanh, năng lực tài chính và trang thiết bị mà hạn mức giữa các tổ chức, giữacác dealer là không giống nhau Việc quản lý hạn mức kinh doanh tại một NHTM

có thể căn cứ vào một số tiêu chí như sau:

+ Hạn mức chung cho cả phòng kinh doanh và cho từng dealer cụ thể

+ Hạn mức theo các đồng tiền kinh doanh

+ Hạn mức cho các loại nghiệp vụ cụ thể, ví dụ hạn mức cho từng nghiệp vụgiao ngay, kỳ hạn, tương lai, hoán đổi và quyền chọn

- Cân bằng trạng thái ngoại hối

Có hai nguyên nhân chính phát sinh rủi ro ngoại hối, đó là:

+ Ngân hàng duy trì sự không cân bằng trạng thái ngoại hối: do ngân hàngmua bán ngoại tệ phục vụ khách hàng và mua bán cho chính mình, và ngân hàngđầu tư và tài sản có và huy động vốn bằng ngoại tệ Cả hai nguyên nhân này tạo ramột xu hướng trạng thái ngoại tệ ròng (trường hoặc đoản) đối với hầu hết cácNHTM

Trang 35

+ Sự biến động của tỷ giá hối đoái, nếu ngân hàng duy trì trạng thái ngoại tệ

mở thì khi tỷ giá biến động càng mạnh thì cơ hội kiếm được lợi nhuận hay gánhchịu các rủi ro là càng lớn

- Sử dụng các kỹ thuật dự đoán tỷ giá

Kinh doanh ngoại tệ từ lâu đã không chỉ là một nghiệp vụ chuyên biệt của cácNHTM mà đã trở thành một kênh đầu tư phổ biến của các cá nhân và tổ chức trênthị trường tài chính thế giới và Việt Nam Việc sử dụng kỹ thuật dự đoán tỷ giáchiếm một vị trí quan trọng trong công tác quản lý rủi ro kinh doanh ngoại hối tạicác NHTM

Phương pháp được sử dụng phổ biến hiện nay là phân tích cơ bản nhữngngười sử dụng phương pháp này dựa vào những phân tích về “những nhân tố cơbản” như GDP, đầu tư, lạm phát, thặng dư thương mại…mang tính định tính, suydiễn và không được mô hình hóa bằng các mô hình kinh tế lượng để xem xét xuhướng biến động trong dài hạn của tỷ giá Bên cạnh phân tích cơ bản, phân tích kỹthuật cùng được nhiều nhà quản trị Ngân hàng sử dụng Phương pháp này ra đời vàokhoảng hơn một thế kỷ trước, đánh dấu bằng việc Charles Dow (1851-1902) sửdụng biến động giá chứng khoán trong quá khứ làm hướng dẫn cho những quyếtđịnh đầu tư Đây là phương pháp sử dụng các số liệu thị trường kết hợp với các đồthị biến động tỷ giá, mô hình hóa thành các “mô hình thị trường” để dự báo các yếu

tố mà nhà đầu tư quan tâm Kể từ thập niên 70, phương pháp này được sử dụngrộng rãi trong thị trường ngoại hối, đặc biệt là sau khi chế độ Bretton Wood sụp đổkhiến cho mức độ bất ổn của tỷ giá ngày một gia tăng Những nhà phân tích kỹthuật tin rằng thị trường về mặt nào đó là không hiệu quả và do đó có thể dự báotương lai dựa trên các dữ liệu từ quá khứ

Phương pháp phân tích kỹ thuật dựa trên nền tảng những lý thuyết sau:

+ Lý thuyết về chu kỳ thị trường: lý thuyết cho rằng thị trường có những xuhướng, có những xu hướng chính, xu hướng hiện tại và xu hướng phụ với mức độdài hạn và ngắn hạn khác nhau với từng xu hướng Và vì có những xu hướng khácnhau như vậy nên thị trường sẽ thường xuất hiện trường hợp đảo chiều xu hướng

Trang 36

(trend reversal) và vì vậy hình thành nên các “đỉnh” và “đáy” của các đồ thị giá.Nhiệm vụ của các nhà phân tích kỹ thuật là phải dự đoán được khi nào thị trườngđảo chiều, đỉnh và đáy ở đâu.

+ Lý thuyết thị trường tài chính và chu kỳ kinh doanh: các nhà đầu tư của thịtrường tài chính sẽ có những phản ứng tâm lý khác nhau với các thông tin cơ bản vềnền kinh tế, đồng thời bản thân họ cũng có những kỳ vọng về triển vọng nền kinh

tế Vì vậy, nhà đầu tư trên thị trường tài chính đặc biệt quan tâm đến chu kỳ kinhdoanh, nhất là giai đoạn nền kinh tế không ở trong trạng thái ổn định hoặc cân bằng– giai đoạn tìm kiếm lợi nhuận của các nhà đầu tư, việc nhận định diễn biến thịtrường trong giai đoạn này sẽ đưa ra các quyết định đầu tư tiềm ẩn nhiểu rủi ronhưng cũng có thể mang lại nhiều lợi nhuận nhanh chóng

+ Lý thuyết Dow: đây là lý thuyết lâu đời nhất về xác định các xu hướng chínhtrên thị trường Lý thuyết này có 6 nguyên tắc cơ bản Các nguyên tắc này có thểtóm tắt như sau: thay đổi trong mức giá đóng cửa phản ánh tất cả tâm lý và nhậnđịnh về thị trường của các thành viên tham gia; các thị trường đang tăng và giảm giá

có ba giai đoạn biến động: biến động chính; biến động thứ cấp và biến động phụ; tất

cả những dấu hiệu chỉ báo trong các giai đoạn này như đường biểu diễn giá, mốiquan hệ giá/khối lượng giao dịch cung cấp các chỉ dẫn hữu ích về việc đảo ngược

xu hướng thị trường; và những chỉ dẫn đó sẽ được khẳng định là hữu ích hay khôngthông qua việc phân tích đường trung bình Các công cụ để phân tích kỹ thuật đãphát triển trong hơn một thế kỷ qua, tuy nhiên, để thuận tiện cho việc sử dụng vàtruyền đạt thông tin, người ta có thể chia ra hai nhóm công cụ như sau: nhóm công

cụ về đồ thị và cách đọc đồ thị (charting) và nhóm công cụ về quy tắc quyết định(mechanical rules) Các nhà phân tích kỹ thuật bằng đồ thị thường xác định cácđỉnh, đáy và xu hướng của thị trường và điểm đảo ngược xu hướng Các nhà phântích này có thể sử dụng các phương pháp mẫu hình đồ thị (chart pattern), các đường

xu hướng, đường kháng cự và chống đỡ để dự báo và ra quyết định mua bán Bên cạnh

đó, hiện nay, phương pháp phân tích bằng đồ thị hình nến (candle stick) của người

Trang 37

Nhật cũng rất phổ biến Gần đây, một công cụ phân tích khác đang bắt đầu được sửdụng rất phổ biến là công cụ tính toán số Fibonacci kết hợp lý thuyết song Elliot.

- Sử dụng các công cụ tài chính phái sinh

Công cụ tài chính phái sinh được hình thành trên cơ sở những công cụ tàichính đã có nhằm nhiều mục tiêu khác nhau như phòng ngừa rủi ro, bảo toàn lợinhuận hoặc tìm kiếm lợi nhuận Giá trị của công cụ phái sinh bắt nguồn từ một sốcông cụ cơ sở khác như tỷ giá, lãi suất, giá cả hàng hóa, …công cụ tài chính pháisinh xuất hiện lần đầu tiên nhằm giảm thiểu hoặc loại bỏ hoàn toàn rủi ro, trong đóthường được sử dụng cao nhất là hợp đồng kỳ hạn (Forward contract), hợp đồngtương lai (Future contract) Những công cụ trên cũng có thể kết hợp với nhau tạothành các công cụ lai tạo

Các công cụ tài chính phái sinh ra đời với mục đích đầu tiên là phòng ngừa rủi

ro cho các công cụ tài chính cơ sở, tuy nhiên cùng với sự lớn mạnh và phức tạp củathị trường tài chính, các công cụ phái sinh cũng được sử dụng nhiều hơn để tìmkiếm lợi nhuận và thực hiện các hoạt động đầu cơ Chính vì những biến tướng nhưvậy nên không phải lúc nào sử dụng công cụ tài chính để phòng ngừa rủi ro cũnghiệu quả

Thị trường phái sinh là thị trường dành cho các công cụ tài chính phái sinh,những công cụ mang tính hợp đồng, mà kết quả của nó được xác định trên kết quảcủa một hoặc một số công cụ tài chính khác Các loại công cụ phái sinh khác nhaubao gồm: Hợp đồng kỳ han, hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền chọn, hợp đồnghoán đổi và các sản phẩm lai tạp

- Sử dụng công cụ VaR – Giá trị chịu rủi ro

+ Khái niệm về VaR

Trong toán tài chính và quản trị rủi ro tài chính, VaR được sử dụng rộng rãitrong đo lường rủi ro bị tổn thất của một danh mục cụ thể Với một danh mục chotrước xác suất và khoảng thời gian, VaR được xem như là một ngưỡng giá trị màkhả năng bị tổn thất trên giá trị điều chỉnh theo thị trường của danh mục đó trongkhoảng thời gian định trước vượt quá giá trị này (với giả dịnh diễn biến thị trường

Trang 38

như bình thường và không có giao dịch mua bán danh mục) chính là mức xác suất

đã được cho trước

Tính ứng dụng lớn nhất của VaR là biểu diễn rủi ro dưới dạng một con số duynhất VaR được định nghĩa là số tiền lớn nhất một danh mục có thể bị thua lỗ vớimột độ tin cậy xác định, thông thường ở mức 95% Ví dụ, một danh mục gồm cácsản phẩm là ngoại tệ có giá trị VaR trong 1 ngày là 1 triệu USD với mức tin cậy95% có nghĩa rằng với xác suất 95%, giá trị danh mục giảm không quá 1 triệu USDtrong 1 ngày Thực chất, khoản tổn thất 1 triệu USD hoặc cao hơn trên giá trị danhmục này được kỳ vọng chỉ xảy ra trên 1 ngày trong 20 ngày (5%) Khoản tổn thấtvượt quá ngưỡng VaR được gọi là “VaR break”

Trang 39

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO TỶ GIÁ TẠI CÁC NHTM CP TẠI VIỆT NAM: THỰC TIỄN TỪ PG BANK

2.1 Thị trường ngoại hối Việt Nam

Giai đoạn trước cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, 2008

Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bắt nguồn từ cuộc khủng hoảng nợ dướichuẩn của Mĩ đã khiến cho nền kinh tế toàn cầu chao đảo Kinh tế thế giới cuối năm

2008 và đầu năm 2009 suy giảm mạnh, các nước công nghiệp phát triển đang rơivào giai đoạn khủng hoảng tồi tệ nhất trong gần 70 năm qua khi tăng trưởng kinh tếthấp kỉ lục, giảm phát, hàng loạt các doanh nghiệp và ngân hàng rơi vào tình trạngphá sản Hàng loạt các gói kích cầu kinh tế được chính phủ các quốc gia tung ra vớigiá trị rất lớn nhằm thoát khỏi tác động tiêu cực của khủng hoảng này Việt Namcũng không nằm ngoài vòng xoáy của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu khi mànền kinh tế phải đối mặt với nhiều bất ổn kinh tế vĩ mô Đó là: (i) lạm phát tăng caolên mức kỉ lục 23% vào tháng 6 năm 2008; (ii) tăng trưởng kinh tế suy giảm; (iii)thị trường bất động sản và chứng khoán bị mất tới 40-50% giá trị so với thời kìbùng nổ; (iv) cán cân thương mại thâm hụt nặng nề, lãi suất tăng vọt, hàng loạtdoanh nghiệp bị phá sản…Trước tình hình đó, Chính phủ và NHNN đã thực thihàng loạt các biện pháp để vượt qua tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng, ổnđịnh kinh tế vĩ mô và đảm bảo an sinh xã hội Nhờ đó, nền kinh tế Việt Nam đãphục hồi khá ấn tượng sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu khi vẫn duy trìđược tốc độ tăng trưởng kinh tế ở mức 5,32%, lạm phát ở mức thấp nhất trong vòng

6 năm kể từ năm 2002– 6,88%

Kể từ khi gia nhập Tổ chức thương mại quốc tế WTO vào tháng 1/2007, ViệtNam đã dần dần thực hiện tự do hóa các thị trường theo đúng cam kết về mở cửakinh tế Sự bùng nổ của Thị trường chứng khoán cuối năm 2006 và năm 2007 đãkhiến cho Việt Nam được coi là một điểm đến vô cùng hấp dẫn đối với các nhà đầu

Trang 40

tư nước ngoài Thời điểm đầu năm 2007 diễn ra một hiện tượng khó quên đối vớicác nhà đầu tư chứng khoán khi mà họ có thể kiếm tiền một cách vô cùng dễ dàng.

Dù cho các nhà đầu tư có mua loại chứng khoán nào đi chăng nữa thì họ vẫn đượclời; tất cả các loại cổ phiếu từ niêm yết đến OTC đều được săn đuổi, tìm kiếm Cũngtrong năm 2007, lượng vốn đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp cũng như kiều hối đềuđạt mức kỉ lục dẫn đến hiện tượng “tiền tệ tràn ngập trên thị trường chứng khoán”.Chính điều này đã làm cho cung USD vượt quá cầu USD của nền kinh tế, gây áplực tăng giá VND vào cuối năm 2007 và đầu năm 2008:

Nguồn: Ngân hàng Nhà nước và tính toán của tác giả

Hình 2.1 Diễn biến tỷ giá liên ngân hàng và tỷ giá của NHTM theo ngày, 2007 - 2009

Nguồn: Ngân hàng Nhà nước và tính toán của tác giả

Hình 2.2 Diễn biến tỷ giá liên ngân hàng và tỷ giá của NHTM theo ngày, 2007 – 2009

Ngày đăng: 26/02/2023, 16:19

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w