1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Chính sách thuế thu nhập cá nhân của trung quốc và bài học kinh nghiệm cho việt nam

123 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chính sách thuế thu nhập cá nhân của trung quốc và bài học kinh nghiệm cho việt nam
Tác giả Nhóm tác giả
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Thị Xuân Hương
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh tế đối ngoại
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2014
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 811,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN 1 TR¦êNG §¹I HäC KINH TÕ QUèC D¢N ( ( ( ®Æng thÞ dÞu chÝnh s¸ch thuÕ thu nhËp c¸ nh©n cña trung quèc vµ bµi häc kinh nghiÖm cho viÖt nam Chuyªn ngµnh Kinh tÕ ®èi ngo¹i[.]

Trang 1

đặng thị dịu

chính sách thuế thu nhập cá nhân của

trung quốc và bài học kinh nghiệm cho việt nam

Chuyên ngành: Kinh tế đối ngoại

Ngời hớng dẫn khoa học: pgs.ts nguyễn thị xuân hơng

Hà Nội, 2014

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn thạc sỹ kinh tế “Chính sách thuế thu nhập cá nhân của Trung Quốc và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” là do tự bản thân

thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Thị Xuân Hương và không saochép các công trình nghiên cứu của người khác để làm sản phẩm của riêng mình Các

số liệu được sử dụng trong luận văn có nguồn gốc và được trích dẫn rõ ràng Tôi hoàntoàn chịu trách nhiệm về tính xác thực và nguyên bản của luận án

Tác giả luận văn

Trang 3

DANH MỤC TỪ VIÊT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

TÓM TẮT LUẬN VĂN

LỜI MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: CHÍNH SÁCH THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN CỦA TRUNG QUỐC VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM RÚT RA 5

1.1 Những vấn đề cơ bản về chính sách thuế TNCN 5

1.1.1 Khái quát chung về thuế TNCN 5

1.1.2 Những nội dung cơ bản của thuế TNCN 7

1.2 Chính sách thuế TNCN của Trung Quốc 13

1.2.1 Nội dung cơ bản về chính sách thuế TNCN hiện hành tại Trung Quốc 131.2.2 Kết quả thực hiện chính sách thuế TNCN ở Trung Quốc 23

1.2.3 Ưu, nhược điểm của chính sách thuế TNCN của Trung Quốc 30

1.3 Những bài học kinh nghiệm rút ra sau nghiên cứu chính sách thuế TNCN củaTrung Quốc 38

1.3.1 Kịp thời điều chỉnh các mức khấu trừ 38

1.3.2 Phân loại thu nhập nhằm giảm động cơ gian lận thuế 38

1.3.3 Chế tài xử phạt cần quy định rõ và thực hiện nghiêm minh 39

1.3.4 Bài học về đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao nhận thức của người dân về thuếTNCN39

1.3.5 Không ngừng hoàn thiện hệ thống thanh toán của nền kinh tế 40

CHƯƠNG 2: SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA CHÍNH SÁCH THUẾ TNCN CỦA VIỆT NAM VÀ CHÍNH SÁCH THUẾ TNCN CỦA TRUNG QUỐC 41

2.1 Chính sách thuế TNCN của Việt Nam 41

2.1.1 Nội dung cơ bản của chính sách thuế TNCN hiện hành tại Việt Nam 412.1.2 Những kết quả của việc thực hiện thuế TNCN từ 01/01/2009 55

2.2 Sự tương đồng và khác biệt giữa chính sách thuế TNCN của Việt Nam và chínhsách thuế TNCN của Trung Quốc 65

Trang 4

TNCN của Trung Quốc 70

CHƯƠNG 3: KHUYẾN NGHỊ HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH THUẾ TNCN CỦA VIỆT NAM TỪ BÀI HỌC RÚT RA SAU KHI NGHIÊN CỨU CHÍNH SÁCH THUẾ TNCN CỦA TRUNG QUỐC 80

3.1 Mục tiêu hoàn thiện chính sách thuế TNCN đến năm 2020 80

3.1.1 Thuế TNCN phải đảm bảo là nguồn thu cho ngân sách nhà nước 803.1.2 Thuế TNCN phải đảm bảo là công cụ góp phần điều tiết công bằng xã hội 803.1.3 Thuế TNCN là công cụ quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế 82

3.1.4 Thuế TNCN là công cụ để nhà nước thực hiện việc kiểm soát, thống kê thunhập của các tầng lớn dân cư 83

3.1.5 Góp phần khắc phục một số nhược điểm của các loại thuế khác 833.1.6 Góp phần hạn chế thất thu thuế thu nhập doanh nghiệp 84

3.1.7 Thuế thu nhập cá nhân phải đảm bảo tính hiệu quả 84

3.1.8 Thuế thu nhập cá nhân phải phù hợp với thông lệ quốc tế, tạo điều kiện thuậnlợi cho quá trình hội nhập 85

3.2.Bài học kinh nghiệm của Trung Quốc có thể áp dụng ở Việt Nam86

3.2.1 Bài học về điều chỉnh các mức khấu trừ 86

3.2.2 Bài học điều chỉnh thuế suất 87

3.2.3 Bài học về phân loại thu nhập 87

3.2.4 Bài học về thay đổi các chế tài xử phạt 88

3.3 Khuyến nghị hoàn thiện chính sách thuế TNCN từ bài học rút ra sau khi nghiêncứu chính sách thuế TNCN của Trung Quốc 88

3.3.1 Khuyến nghị hoàn thiện chính sách thuế 88

3.3.2 Khuyến nghị nâng cao nhận thức của người nộp thuế về thuế TNCN 923.3.3 Khuyến nghị nâng cao năng lực cán bộ thuế, cải thiện cơ sở vật chất nghànhthuế và hiện đại hóa công tác kê khai, thu nộp thuế 94

KẾT LUẬN 100 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 5

CHỮ VIÊT TẮT NỘI DUNG VIẾT TẮT

Trang 6

Bảng 1.1: Diễn biến điều chỉnh mức miễn trừ cơ bản của Trung Quốc 18Bảng 1.2: Biểu thuế áp dụng đối với thu nhập từ các khoản tiền công và lương

Bảng 2.1: Biểu thuế suất lũy tiến từng phần tại Việt Nam 47

Bảng 2.2: Biểu thuế suất toàn phần tại Việt Nam 48

Bảng 2.3: Khả năng nộp thuế của Người nộp thuế qua các năm từ 2009-2012

56

Bảng 2.4: Tiền thuế thu được do điều tiết đối với các khoản thu từ đầu từ vốn,chuyển nhượng vốn, thu nhập từ thừa kế, quà tặng 57

Bảng 2.5: Số thu thuế TNCN từ 2008 đến 2012 58

Bảng 2.6: So sánh thu nhập chịu thuế của Trung Quốc và Việt Nam 71

Bảng 2.7: So sánh mức giảm trừ gia cảnh của Trung Quốc và Việt Nam 77Bảng 2.8: So sánh biểu thuế suất của Trung Quốc và Việt Nam 78

Trang 7

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Thuế thu nhập cá nhân đã được ra đời và áp dụng rộng rãi trên thế giới, tínhđến nay đã có 180 nước, từ các quốc gia phát triển như Mĩ, Anh, Pháp, cho đến cácquốc gia đang phát triển như Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia Đây không chỉ làmột trong những nguồn thu quan trọng cho ngân sách nhà nước, mà còn là một công

cụ hữu hiệu để thực hiện công bằng xã hội thông qua việc phân phối lại thu nhậpgiữa các tầng lớp dân cư Chính bởi những lí do đó, mà việc xây dựng, áp dụng vàhoàn thiện thuế TNCN trở thành yêu cầu tất yếu quan trọng đối với các quốc gia

Với Việt Nam, một nước có dân số đông, mức thu nhập bình quân đang tăngqua các năm, và sự chênh lệch lớn giữa thu nhập của các tầng lớp nhân dân, thuếTNCN càng khẳng định vai trò to lớn trong việc tạo nguồn thu cho ngân sách nhànước và thực hiện công bằng xã hội Tuy nhiên thực tế, Pháp lệnh về thuế thu nhậpvới người có thu nhập cao 1990 và sau này được sửa đổi thành Luật thuế thu nhập

cá nhân có hiệu lực từ 01/01/2009, mới đạt được những kết quả rất nhỏ trong bướcđầu đi vào thực tiễn Điều này có thể lí giải do chính sách thuế TNCN, công tácquản lí thuế của Nhà nước, nhận thức của người dân vẫn còn những vấn đề tồn tại

Đề tài nghiên cứu muốn hướng đến các mục đích là góp phần tìm ra nhữnggiải pháp hoàn thiện chính sách thuế thu nhập cá nhân hiện hành của Việt Nam dựavào nghiên cứu chính sách thuế thu nhập cá nhân của Trung Quốc để rút ra nhữngnhận xét và từ đó đưa ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là chính sách thuế TNCN của Trung Quốc

và Việt Nam trong khoảng thời gian từ 1980 đến 06/2013 và tầm nhìn đến năm 2020

Ngoài phần mở đầu, két luận, danh mục bảng biểu, danh mục các chữ viết tắt

và tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm 3 chương như sau:

Chương 1: Chính sách thuế TNCN của Trung Quốc và bài học kinh nghiệmkinh nghiệm rút ra

Chương 2: Sự tương đồng và khác biệt giữa chính sách thuế TNCN của ViệtNam và chính sách thuế TNCN của Trung Quốc

Trang 8

Chương 3: Khuyến nghị hoàn thiện chính sách thuế TNCN của Việt Nam từbài học rút ra sau khi nghiên cứu chính sách thuế TNCN của Trung Quốc

Trong chương 1, luận văn trình bày cơ sở lý luận về thuế thu nhập cá nhân,

chính sách thuế thu nhập cá nhân của Trung Quốc và từ đó rút ra các bài học kinhnghiệm cho việc hoàn thiện và thực hiện hiệu quả chính sách thuế thu nhập cá nhân

Về cơ sở lý luận thuế TNCN, luận văn đưa ra khái niệm về thuế TNCN và các nộidung cơ bản của thuế TNCN Về chính sách thuế TNCN của Trung Quốc và bài họckinh nghiệm rút ra, luận văn trình bày về các nội dung của chính sách thuế TNCNcủa Trung Quốc, kết quả đạt được khi thực hiện chính sách thuế TNCN tại TrungQuốc, ưu và nhược điểm của chính sách thuế này của Trung Quốc và cuối cùng làrút ra các bài học kinh nghiệm Trọng tâm của chương 1 là nội dung chính sách thuếTNCN của Trung Quốc và các bài học kinh nghiệm rút ra sau khi nghiên cứu chínhsách thuế TNCN của nước này

Nội dung chính sách thuế TNCN của Trung Quốc đã được thể hiện khá rõtheo từng nội dung cụ thể:

Đối tượng nộp thuế: chính sách thuế TNCN của Trung Quốc quy định đối

tượng nộp thuế gồm cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú Trong đó Cá nhânkhông cư trú là cá nhân không có nơi ở thường xuyên và không có mặt tại TrungQuốc hoặc không có nơi ở thường xuyên nhưng có mặt tại Trung Quốc không đến

365 ngày và ngược lại là cá nhân cư trú

Thu nhập chịu thuế: chính sách thuế TNCN của Trung Quốc quy định thu

nhập chịu thuế TNCN bao gồm 11 loại: (1) Thu nhập từ tiền công, tiền lương, (2)Thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh của hộ kinh doanh cá thể, (3) Thu nhập

từ kinh doanh cho thuê, nhận thầu của các đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp, (4) Thunhập từ thù lao lao động, (5) Thu nhập từ nhuận bút, (6) Thu nhập từ phí sử dụngbản quyền, (7) Lợi tức, cổ tức từ cổ phiếu, trái phiếu, (8) Thu nhập từ việc cho thuêtài sản, (9) Thu nhập từ chuyển nhượng tài sản, (10) Thu nhập ngẫu nhiên (nhưtrúng thưởng, trúng xổ số và những thu nhập ngẫu nhiên khác), (11) Thu nhập khác:

là chỉ những thu nhập khác do Bộ Tài chính Quốc vụ viện xác định phải nộp thuế

Trang 9

Giảm trừ gia cảnh: Trung Quốc chỉ quy định một mức giảm trừ chung mà

không có phân biệt giảm trừ cho NNT và giảm trừ cho người phụ thuộc và có sựphân biệt về mức giảm trừ đối với cá nhân là người Trung Quốc và cá nhân là ngườinước ngoài Người nước ngoài có mức giảm trừ cao hơn so với người Trung Quốc.Mức giảm trừ hiện hành tại Trung Quốc đối với cá nhân là người Trung Quốc là

3500 NDT, đối với cá nhân là người nước ngoài thì mức giảm trừ là 4000 NDT

Thuế suất: Tùy theo từng loại thu nhập mà Trung Quốc áp dụng biểu thuế

suất lũy tiến từng phần hay áp dụng thuế suất toàn phần

Ngoài ra trong chương 1, luận văn đã phân tích những kết quả, ưu nhượcđiểm của chính sách thuế TNCN của Trung Quốc và từ đó đã rút ra được các bàihọc kinh nghiệm: bài học về điều chỉnh mức giảm trừ, bài học về điều chỉnh thuếsuất, bài học về thay đổi các chế tài xử phạt, bài học về dẩu mạnh tuyên truyền nângcao nhận thức của người dân về thuế TNCN và bài học về xây dựng hệ thống thanhtoán của nền kinh tế

Trong chương 2, sau một số giới thiệu về nội dung chính sách thuế TNCN

của Việt Nam, luận văn đi vào nội dung chính là phân tích sự tương đồng và khácbiệt giữa chính sách thuế TNCN của hai nước Trung Quốc và Việt Nam Phần phântích tập trung vào những nội dung của chính sách thuế TNCN của hai nước như là:đối tượng nộp thuế, thu nhập chịu thuế, thu nhập không chịu thuế, mức giảm trừ giacảnh, biểu thuế suất

Nội dung chính sách thuế TNCN của Việt Nam gồm các nội dung như sau:

Đối tượng nộp thuế: chính sách thuế TNCN của Việt Nam quy định đối

tượng nộp thuế bao gồm cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú Cá nhân cư trú làngười đáp ứng một trong các điều kiện sau: Có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trởlên tính trong một năm dương lịch hoặc tính theo 12 tháng liên tục kể từ ngày đầutiên có mặt tại Việt Nam hoặc có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam, bao gồm có nơi

ở đăng ký thường trú hoặc có nhà thuê để ở tại Việt Nam theo hợp đồng thuê cóthời hạn; cá nhân không cư trú là cá nhân không đáp ứng một trong hai điều kiệntrên

Trang 10

Thu nhập chịu thuế TNCN: thu nhập chịu thuế TNCN của Việt Nam bao

gồm 10 loại Cụ thể: (1) Thu nhập từ tiền lương, tiền công; (2) Thu nhập từ hoạtđộng sản xuất kinh doanh; (3) Thu nhập từ chuyển nhượng vốn; (4) Thu nhập từnhận thừa kế; (5) Thu nhập từ nhận quà tặng; (6) Thu nhập từ bản quyền; (7) Thunhập từ đầu tư vốn; (8) Thu nhập từ nhượng quyền thương mại; (9) Thu nhập từchuyển nhượng bất động sản; (10) Thu nhập từ trúng thưởng

Giảm trừ gia cảnh: chính sách thuế TNCN của Việt Nam có quy định mức

giảm trừ riêng đối với cá nhân người nộp thuế và người phụ thuộc Chính sách thuếTNCN năm 2009 quy định mức giảm trừ cho cá nhân NNT là 4 triệu đồng/người,mức giảm trừ cho mỗi người phụ thuộc là 1,6 triệu đồng

Thuế suất: chính sách thuế TNCN của Việt Nam có áp dụng hai loại thuế

suất đó là thuế suất lũy tiến từng phần áp dụng cho thu nhập từ tiền công, tiền lương

và thu nhập từ kinh doanh, các thu nhập khác áp dụng theo biểu thuế suất toàn phần

So sánh về nội dung chính sách thuế TNCN của Việt Nam và Trung Quốc,luận văn đã đưa ra những điểm tương đồng và khác biệt theo từng nội dung

Về đối tượng nộp thuế: chính sách thuế TNCN của hai nước Việt Nam và

Trung Quốc đều quy định đối tượng nộp thuế TNCN bao gồm cá nhân cư trú và cánhân không cư trú Tuy nhiên, quy định thế nào là cá nhân cư trú và cá nhân không

cư trú có hai nước có sự khác biệt

Về thu nhập chịu thuế: nhìn chung quy định về thu nhập chịu thuế trong

chính sách thuế TNCN của hai nước là tương đương nhau, có sự khác biệt là TrungQuốc phân biệt thu nhập từ tiền lương và tiền công với thu nhập từ thù lao lao độngcòn Việt Nam không có sự phân biệt này

Về thuế suất: Về biểu thuế thì chính sách thuế TNCN của Việt Nam và Trung

Quốc có sự tương đồng là đều sử dụng biểu thuế suất lũy tiến khi đánh vào thu nhậptính thuế Trung Quốc quy định hai biểu thuế suất riêng cho thu nhập từ tiền công,tiền lương và thu nhập từ sản xuất kinh doanh Việt Nam thì chỉ quy định một biểuthuế lũy tiến từng phần áp dụng cho cả thu nhập từ tiền công, tiền lương và thu nhập

từ sản xuất kinh doanh Biểu thuế suất áp dụng cho tiền công, tiền lương của Trung

Trang 11

Quốc có 9 bậc, nhiều bậc hơn so với Việt Nam (7 bậc) Mức thuế suất cao nhất củaTrung Quốc lên tới 45%, trong khi đó, mức thuế suất cao nhất của Việt Nam là35%, thấp hơn 10% so với Trung Quốc Mức thuế suất cao nhất này tương ứng vớithu nhập chịu thuế tương ứng của Trung Quốc là trên 100000 NDT (khoảng 163516USD), mức thu nhập chịu thuế của Việt Nam là trên 960000000 VND (khoảng

45512 USD)

Trong chương 3, sau khi khái quát mục tiêu hoàn thiện chính sách thuế

TNCN, tác giả đề xuất một số giải pháp hoàn thiện chính sách thuế TNCN của ViệtNam dựa trên những bài học rút ra từ nghiên cứu chính sách thuế TNCN của TrungQuốc

Giải pháp hoàn thiện chính sách thuế

- Về mức giảm trừ gia cảnh

Từ bài học của Trung Quốc trong việc chưa thực sự linh hoạt trong điềuchỉnh mức khấu trừ thu nhập chịu thuế, chưa có khấu trừ gia cảnh, chúng ta cần rútkinh nghiệm và điều chỉnh yếu tố này cho sát với sự biến đổi kinh tế Đây là yếu tốnhạy cảm và cần được nghiên cứu có căn cứ dựa trên tình hình kinh tế, các chỉ sốlạm phát và sự biến động của chỉ số giá tiêu dùng qua từng năm, để chính sáchthuế trở nên sát thực với cuộc sống của người dân Trong dài hạn, khi hệ thống thuế

đã được vận hành có hiệu quả, thì mức khấu trừ thu nhập chịu thuế, khấu trừ giacảnh còn có thể được điều chỉnh theo mức sống của người dân tại những địaphương khác nhau, giảm bớt gánh nặng thuế cho những người sống ở thành phố cómức sống cao mà phải chịu gánh nặng thuế lớn, nhất là những người chỉ có mức thunhập thấp và trung bình

Việc điều chỉnh mức giảm trừ gia cảnh cần tính tới chính sách và lộ trình cảicách tiền lương của nhà nước, tỷ lệ và mức tăng trưởng kinh tế, mức GDP bìnhquân đầu người, thu nhập và chi tiêu bình quân đầu người dự kiến vào năm Luật cóhiệu lực thi hành, đồng thời tham khảo chính sách và xu thế cải cách thuế TNCNcủa các nước trong khu vực

- Về sửa đổi biểu thuế luỹ tiến từng phần

Trang 12

Kinh nghiệm của Trung Quốc cho thấy, việc kết hợp điều chỉnh thuế suất từmột số nguồn thu nhập khi kết hợp với các công cụ kinh tế khác sẽ tạo ra tác dụngđiều tiết nhất định, do đó nhà nước cũng cần lưu ý đến vấn đề này Trước nhữngbiến động của kinh tế, để kích cầu, điều chỉnh các chỉ số tiêu dùng – tiết kiệm – đầu

tư hay để tạo điều kiện cho các ngành đầu tư nào có điều kiện phát triển, mức thuếsuất có thể điều chỉnh linh hoạt hơn so với các mức thuế suất hiện tại

Thuế TNCN là loại thuế trực thu nên việc đánh thuế suất cao dễ gây phảnứng mạnh từ phía người nộp thuế Theo đường cong Lafter thì việc đánh thuế suấtcao trên 50% trở lên hiệu suất thu thuế sẽ giảm xuống Nếu thuế suất thuế thu nhập

là 100% thì không ai muốn làm gì và thu thuế cũng bằng không Vì vậy, các nướcmuốn tận thu thuế tu nhập thì mức thuế suất thường xấp xỉ 50% Để hệ thống thuếthu nhập vừa mang tính hài hòa giữa các lợi ích của người nộp thuế và Nhà nướcnên có nghiên cứu khoa học cụ thể để đưa ra mức thuế suất thuế TNCN một cáchphù hợp

- Về các cơ chế xử phạt

Việc đưa ra và thực thi các chế tài xử phạt nghiêm minh và mang tính răn đemạnh mẽ hơn so với thực tại là một trong những sức ép khiến người dân có ý thứctrung thực hơn trong việc kê khai và nộp thuế TNCN Các chế tài xử phạt không chỉdừng lại ở việc truy thu thuế, nộp phạt hành chính gấp nhiều lần số thu nhập trốnthuế mà còn phải nâng cao thành những mức truy tố hình sự

Những trường hợp trốn thuế bị phạt vi phạm phải được công bố công khai vềmức độ vi phạm, hình phạt để mang tính chất răn đe với đông đảo người dân Chỉbằng cách xử lí nghiêm minh này, số đối tượng trốn thuế, khai gian thuế mới có thểgiảm bớt

Giải pháp bổ trợ

+ Tăng cường tuyên truyền nâng cao nhận thức về thuế của người dân

Việc xây dựng phong trào tuyên truyền nhận thức cho người dân nếu được tổchức với những nội dung, hình thức phong phú và rộng khắp qua các phương tiện

Trang 13

truyền thông và mạng lưới tuyên truyền viên của ngành thuế sẽ là giải pháp hữuhiệu để tăng tính phổ cập của thuế TNCN

Về nguồn nhân lực tuyên truyền viên, ngành thuế phải đào tạo những người

có kiến thức chắc về chuyên môn, nội dung, mục đích, chính sách thuế, đồng thời

có kĩ năng tuyên truyền và phản biện tốt để tổ chức các phong trào đến người dân

Về nội dung tuyên truyền, ngoài những nguyên tắc kê khai, hướng dẫn thựchiện, những quy định về thuế, những nội dung về lí do đóng thuế, mục đích đóngthuế cũng cần được đề cập một cách sinh động và gần gũi Những thông tin minhbạch hóa về chi tiêu ngân sách nhà nước vào những khoản mục đầu tư gì, phục vụđời sống cho nhân dân ra sao cũng là nội dung cần đề cập và truyền tải để tăng tínhthuyết phục với nhân dân

Hình thức tuyên truyền cần phải được vận dụng để tạo nên sự sôi nổi, có sứclan tỏa của công tác tuyên truyền

Những buổi tuyên truyền trực tiếp giữa các cán bộ thuế với đại diện cácdoanh nghiệp, với người dân có các nguồn thu nhập chịu thuế khác nhau cần được

tổ chức thường xuyên tại nhiều nơi để cùng tranh luận và tăng cường hiểu biết vềcác nội dung của luật thuế Đồng thời đây cũng là nơi để các cán bộ thuế lắng nghenhững bất cập, khó khăn của các đối tượng khi tham gia thực hiện luật thuế để cónhững điều chỉnh phù hợp

Các phương tiện thông tin đại chúng như tivi, báo giấy, báo mạng, đài phátthanh, cũng cần phát huy vai trò của mình trong việc phổ biến lợi ích của việc nộpthuế, cập nhật những điều chỉnh của luật và giải thích rõ mục đích

Internet là phương tiện cần được khai thác sức mạnh để truyền bá thông tintrong thời đại CNTT qua những diễn đàn và các mạng xã hội Một hình thức kháhay ở Trung Quốc trong tuyên truyền qua internet có thể học tập và lan tỏa đó làxây dựng những clip quảng cáo về thuế TNCN một cách hài hước và gần gũi để tiếpcận với người xem được truyền bá qua các trang mạng xã hội

Trang 14

Ngoài ra, xây dựng những chủ điểm để tranh luận trên các trang mạng xãhội, các diễn đàn là hình thức có thể ứng dụng trong tuyên truyền nhận thức, hiểubiết để xây dựng niềm tin và thuyết phục người dân

Bên cạnh đó, việc nâng cao hiểu biết về luật pháp nói chung và luật thuếTNCN của người dân Việt Nam đã và đang là vấn đề cải cách của giáo dục Vì vậy,trong công cuộc cải cách nhận thức này, ngành giáo dục cũng cần tham gia đóng gópvai trò qua việc chuyển tải nội dung tuyên truyền vào giáo trình cấp III và đại học

+ Khuyến khích, đẩy mạnh các hoạt động tư vấn, cung cấp dịch vụ về thuế, kế toán, kiểm toán, đại lý thuế

Xây dựng khung pháp lý đẩy mạnh hoạt động tư vấn, dịch vụ thuế, kế toán,kiểm toán và đại lý thuế nhằm giúp người nộp thuế hiểu rõ các quy định của phápluật về thuế, làm tốt công tác kế toán, thực hiện đúng nghĩa vụ và trách nhiệm củamình Ở nước ta thói quen sử dụng tư vấn hay luật sư riêng chưa phổ biến nên cầnphải có giải pháp xây dựng các hoạt động tư vấn, đại lý thuế, kế toán, kiểm toán Do

đó cần khuyến khích xây dựng pháp lý cho loại hình dịch vụ này nhằm giúp chocông việc kê khai, nộp thuế của NNT thuận lợi hơn

+ Nâng cao năng lực cán bộ thuế

Như đã phân tích thực trạng ở Việt Nam và Trung Quốc, năng lực cán bộthuế có vai trò rất quan trọng trong thực thi luật thuế TNCN bởi họ là những người

tổ chức thu thuế, tiếp nhận và kiểm tra các tờ khai, xây dựng các hồ sơ thuế TNCNvới khối lượng công việc rất lớn

Việc tăng cường công tác đào tạo và bồi dưỡng mang tính chất thườngxuyên, liên tục sẽ giúp cho chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý thuế TNCN nói riêng

và của toàn nghành thuế nói chung phát triển bền vững

Việc nâng cao năng lực cán bộ thuế cần phải kết hợp cải cách của chínhngành thuế với cải cách giáo dục Hiện nay, như ở Hà Nội, những trường đại họchiện tại đang đào tạo các cán bộ thuế còn ít khiến nhân lực ngành này đứng trướcnhững thức thách rất lớn Vai trò của cán bộ thuế, tiềm năng phát triển ngành lànhững kiến thức cần phải được đưa vào những nội dung tuyên truyền hướng nghiệp

Trang 15

cho học sinh khi lựa chọn trường học, ngành học tương lai của mình Để đáp ứngnhu cầu nhân lực lớn chất lượng cao, ngành thuế cần nghĩ tới những biện pháp dàihơi hơn đó là đầu tư theo hướng kết hợp xây dựng chương trình đào tạo, kết hợpgiảng dạy, rèn luyện chuyên môn kĩ năng cho sinh viên chuyên ngành thuế

Việc cải tiến dần luật thuế theo hướng phát triển hơn phù hợp với sự thay đổicủa môi trường kinh tế Việt Nam, cũng như yêu cầu của quá trình hội nhập đòi hỏicán bộ thuế thường xuyên được đào tạo, nâng cao nghiệp vụ qua những khóa tậphuấn, và thậm chí là học hỏi các chuyên gia nước ngoài đến Việt Nam hay đi họctập tại nước ngoài để nghiên cứu và học hỏi kinh nghiệm Những sự đầu tư vềnguồn nhân lực này là điều kiện cần cho việc nâng cao hiệu quả chung của toànngành thuế cũng như của công tác triển khai thuế TNCN

Xây dựng những quy trình đánh giá năng lực, trình độ kết hợp thực hiệnnhững chế tài răn đe, cũng như các hình thức khen thưởng, tuyên dương với chínhnhững cán bộ trong ngành thuế cũng là những hình thức và phương pháp cần xâydựng để sát hạch chất lượng nguồn nhân sự của ngành này

+ Cải thiện cơ sở vật chất của ngành

Việc ứng dụng ngày càng nhiều công nghệ thông tin vào việc quản lí hànhthu thuế TNCN đòi hỏi ngành thuế nói chung phải được đầu tư ở mức độ hiện đạihóa cao Chỉ có cách đó mới giúp ngành nâng cao được hiệu quả trong sát sao xâydựng cơ sở dữ liệu, hồ sơ thuế của từng cá nhân để quản lí thu nhập và số thuếTNCN của hàng chục triệu cá nhân được chính xác

Khoản đầu tư cho mạng lưới thông tin của toàn ngành, và những liên kết vớicác đơn vị phối hợp như hành chính, ngân hàng, doanh nghiệp là khoản đầu tưkhông nhỏ nhưng có giá trị lâu dài cho tương lai phát triển của ngành khi luật thuếngày càng phát triển và phức tạp hơn, và những hành vi trốn thuế ngày càng tinh vihơn Xét về lâu dài, đây là phương án đầu tư tiết kiệm thời gian và chi phí rất nhiều

+ Hiện đại hóa công tác kê khai, thu nộp

Những biện pháp kê khai, thu nộp thông qua các phương tiện điện tử nhưkinh nghiệm của các nước đi trước đã mang lại nhiều lợi ích cho người dân cũng

Trang 16

như các cơ quan quản lí thuế Để hiện đại hóa công tác kê khai, thu thuế, không thểthiếu việc triển khai ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lí thuế TNCN Quytrình quản lí thuế TNCN bằng việc cấp mã số thuế và các ứng dụng CNTT đã thựcthi bước đầu triển khai ở nước ta cần được tiếp tục xây dựng Không chỉ dừng lại ở

mã số thuế, các tờ khai, quyết toán thuế liên quan đến người nộp thuế cũng phảiđược xử lí bằng CNTT Ước tính trong năm nay, số tờ khai quyết toán thuế TNCN

sẽ đạt tới 4-5 triệu tờ khai Với số lượng khổng lồ như vậy, áp dụng CNTT và cácbiện pháp lưu trử xử lí thông tin hiện đại là yêu cầu bắt buộc đối với ngành thuế

Để dần nâng cấp trình độ áo dụng CNTT vào công tác quản lí thuế, trướcmắt cần nhanh chóng triển khai các công việc nghiên cứu, nắm bắt các nội dung củaluật, nhằm xác định quy mô, phạm vi, đối tượng quản lí để phân tích, xây dựng quytrình quản lí thuế, theo đó lập lộ trình tin học hóa quản lí thuế TNCN Do đặc thùcủa thuế TNCN là một cá nhân có thể có thu nhập từ nhiều nguồn khác nhau, thuộccác khu vực địa lí khác nhau, nên ngành thuế cần nhanh chóng triển khai mô hình

xử lí tập trung, nghĩa là sẽ tập trung toàn bộ dữ liệu tại cấp trung ương và xử lí sốthu thuế, còn các cấp dưới chỉ thực hiện nhập và cập nhật thay đổi của dữ liệu

Việc hiện đại hóa công tác kê khai, thu nộp thu thuế đã trở thành yêu cầu bắtbuộc với ngành thuế Việt Nam để bắt kịp sự phát triển của ngành thuế trên thế giới,như nhận định của Nhật Bản, quá trình này sẽ giúp Việt Nam hoàn thiện ngành thuếtrong vòng 20 năm thay vì 45 năm như nước này

+ Tăng cường thanh tra thuế

Thực tế hiện nay cho thấy, những nỗ lực của ngành thuế trong việc chốngthất thu thuế còn chưa có hiệu quả, do đó hiện tượng trốn thuế vẫn phổ biến ảnhhưởng tiêu cực đến mục tiêu tạo nguồn thu ngân sách cũng như đảm bảo tính côngbằng của thuế

Vì vậy, thanh tra thuế cần tăng cường phát hiện những đối tượng có hành vitrốn thuế, những sai phạm của chính cơ quan thuế, các cán bộ thuế để tiến hành xử

lí với các chế tài nghiêm minh, tạo ra tính răn đe trong thi hành luật và giảm ý định

Trang 17

trốn thuế của đối tượng nộp thu cũng như thái độ làm việc thiếu trách nhiệm, cáctrường hợp thông đồng câu kết với người nộp thuế của các cán bộ thuế

Tăng cường thanh tra cũng là biện pháp giúp tìm ra những sơ hở, hạn chếtrong chính sách thuế hiện hành và kịp thời có những đề xuất và điều chỉnh, củng cố

sự tiến bộ của luật

Đặc biệt, công tác thanh tra cần phát huy vai trò quan trọng trong quản lí thunhập của các đối tượng hành nghề tự do như các ca sĩ

Hiện nay, các ca sĩ tự kê khai theo mẫu, có bổ sung chi tiết về thu nhập chịuthuế hàng tháng vì đối tượng nộp tờ khai quyết toán năm có thu nhập từ nhiều nơi.Việc khai báo đủ các nguồn thu từ trong và ngoài nước, từ quy mô lớn cho tới cácphòng trà kèm theo các hóa đơn chứng từ để đối chiếu của đối tượng này còn chưathể hiện rõ, vì vậy, việc thanh tra với các ca sĩ cũng như với các phòng trà, cơ quan

tổ chức sự kiện cần được tiến hành phổ biến hơn để phát hiện sai phạm và xử phạt.Những trường hợp xử phạt sẽ tạo nên một phần sức ép thực thi nghiêm túc đối vớicác cá nhân và đơn vị tổ chức này

+ Phát triển hệ thống thanh toán và thu thuế TNCN thông qua ngân hàng

Trong tương lai, việc xây dựng một hệ thống ngân hàng hoàn thiện và liênthông là cần thiết, ở đó, mỗi người dù có nhiều tài khoản ở các ngân hàng khác nhau thìcũng chỉ tồn tại một mã số tài khoản cũng như một mã số thuế tương ứng để tăng nănglực quản lí, tiết kiệm chi phí giám sát cho ngành thuế và cho nền kinh tế nói chung

Khi xây dựng được hệ thống này, mô hình cơ quan thuế - ngân hàng sẽ trởnên hiệu quả trong việc kiểm soát được thu nhập của người dân bởi ngành thuế sẽ

dễ dàng thực hiện thống kê, phân loại thu nhập của cá nhân thông qua hệ thốngquản lí của các ngân hàng, từ đó, việc tiến hành khấu trừ cá nhân, miễn trừ gia cảnhtheo hồ sơ thuế của cá nhân đó tại các cơ quan trả thu nhập cũng hiệu quả hơn

Việc áp dụng mô hình trên cần phải được khởi đầu bằng những quy địnhtrong hệ thống thanh toán hiện tại như thực hiện chi trả các khoản thu nhập qua hệthống ngân hàng, phát triển hệ thống thanh toán thẻ,

Trang 18

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thuế thu nhập cá nhân đã được ra đời và áp dụng rộng rãi trên thế giới, tínhđến nay đã có 180 nước, từ các quốc gia phát triển như Mĩ, Anh, Pháp, cho đến cácquốc gia đang phát triển như Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia Đây không chỉ làmột trong những nguồn thu quan trọng cho ngân sách nhà nước, mà còn là một công

cụ hữu hiệu để thực hiện công bằng xã hội thông qua việc phân phối lại thu nhậpgiữa các tầng lớp dân cư Chính bởi những lí do đó, mà việc xây dựng, áp dụng vàhoàn thiện thuế TNCN trở thành yêu cầu tất yếu quan trọng đối với các quốc gia

Với Việt Nam, một nước có dân số đông, mức thu nhập bình quân đang tăngqua các năm, và sự chênh lệch lớn giữa thu nhập của các tầng lớp nhân dân, thuếTNCN càng khẳng định vai trò to lớn trong việc tạo nguồn thu cho ngân sách nhànước và thực hiện công bằng xã hội Tuy nhiên thực tế, Pháp lệnh về thuế thu nhậpvới người có thu nhập cao 1990 và sau này được sửa đổi thành Luật thuế thu nhập

cá nhân có hiệu lực từ 01/01/2009, mới đạt được những kết quả rất nhỏ trong bướcđầu đi vào thực tiễn Điều này có thể lí giải do chính sách thuế TNCN, công tácquản lí thuế của Nhà nước, nhận thức của người dân vẫn còn những vấn đề tồn tại

Để tìm ra những giải pháp hoàn thiện chính sách thuế thu nhập cá nhân hiệnhành của Việt Nam, khóa luận này sẽ tập trung tìm hiểu về chính sách thuế thu nhập

cá nhân của Trung Quốc để rút ra những nhận xét và từ đó đưa ra bài học kinhnghiệm cho Việt Nam Đây là một nước có nhiều đặc điểm kinh tế xã hội giống vớinước ta, như nền kinh tế tăng trưởng nhanh, nguồn thu nhập của người dân cải thiệnqua từng năm, thậm chí là những tồn tại trong sự kém hiệu quả của bộ máy quản

lí thuế và nhận thức của người dân về thuế TNCN Những kết quả khi thực thithuế TNCN của nước này từ năm 1980 cho đến nay, qua năm lần sửa đổi sẽ lànhững bài học kinh nghiệm quý báu cho nước ta từ những thành tựu đã đạt đượccũng như những hạn chế đang tồn tại

Trang 19

Nhận thức được vấn đề trên, tôi đã tham gia tìm hiểu, nghiên cứu về chính

sách thuế TNCN và thực hiện đề tài: “Chính sách thuế TNCN của trung Quốc và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam”, với mong muốn góp một phần sức nhỏ bé của

mình vào sự nghiệp phát triển kinh tế của Việt Nam

2 Tình hình nghiên cứu

2.1 Tình hình nghiên cứu của tác giả nước ngoài

Luật thuế TNCN của Trung Quốc đã được một số nhà nghiên cứu của nướcnày tìm hiểu và phân tích, tổng hợp các luận án thạc sĩ kinh tế như:

“Nghiên cứu hoàn thiện Luật thuế TNCN nước ta” của tác giả Đồ Văn Lệ,Đại học Vũ Hán, năm 2008 Tác phẩm nghiên cứu, phân tích về luật thuế TNCNhiện hành của Trung Quốc và đưa ra giải pháp hoàn thiện luật thuế TNCN của nướcnày

“Bàn về việc hoàn thiện Luật thuế TNCN nước ta trên nguyên tắc thu thuếcông bằng” của tác giả Trương Đồng, Đại học kinh tế tài chính Thiên Tân, năm

2009 Tác phẩm bàn luận về luật thuế TNCN của Trung Quốc dựa trên nguyên tácthu thuế công bằng, từ đó rút ra những điểm chưa hợp lý để hoàn thiện luật thuế

“Nhìn nhận phương hướng cải cách Luật thuế TNCN từ thực trạng mất cânbằng trong phân phối thu nhập” của tác giả Dương Quýnh, Đại học Phúc Đán, năm

2005 Tác phẩm phân tích các phương hướng cải cách luật thuế TNCN dựa trênthực trạng mất cân bằng trong phân phối thu nhập và đưa ra giải pháp hoàn thiện,điều chỉnh luật thuế nhằm đảm bảo cân bằng trong phân phối thu nhập; …

Tuy nhiên, trong các nghiên cứu trên những phân tích và nhận định mới chỉdừng lại trong nội tại của chính sách cũng như quá trình áp dụng chính sách thuếTNCN tại nước này chứ chưa có những liên hệ đến Việt Nam Đề tài tôi lựa chọn cónghiên cứu về chính sách thuế TNCN của Trung Quốc và từ đó rút ra bài học kinhnghiệm để hoàn thiện chính sách thuế cho Việt Nam

Trang 20

2.2 Tình hình nghiên cứu của tác giả trong nước

Trong các công trình nghiên cứu ở Việt Nam, thuế TNCN của Trung Quốccũng đã được đề cập đến như trong cuốn sách:

“Thuế TNCN trên thế giới và định hướng vận dụng ở Việt Nam” của PGS

TS Lê Văn Ái và TS Đỗ Đức Minh, NXB Bộ Tài Chính 2002 Tác phẩm nghiêncứu về thuế TNCN của các nước trên thế giới và đưa ra định hướng vẫn dụng choViệt Nam

Và một số bài viết như “Thuế TNCN – những vấn đề lí luận và kinh nghiệmthế giới” trên tạp chí Tài chính, số 9 năm 2000, của TS Đỗ Đức Minh Bài viết cónội dung về thuế TNCN của một số nước trên thế giới trong đó có Trung Quốc vàkinh nghiệm của các nước này trong thực hiện thuế TNCN

Trong các nghiên cứu này, thuế TNCN của Trung Quốc chưa được nghiêncứu cụ thể về nội dung hay những kết quả đạt được trong những năm áp dụng chínhsách thuế TNCN ở nước này Trong đề tài của tôi có nghiên cứu cụ thể về nội dungchính sách, thực trạng áp dụng, kết quả đạt được trong những năm triển khai thuếTNCN của Trung Quốc và từ đó rút ra bài học kinh nghiệm trong thực hiện chínhsách thuế TNCN

3 Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở lý luận và thực tiễn về chính sách thuế TNCN của Trung Quốc,đưa ra những nhận xét đánh giá về kết quả đạt được cũng như những hạn chế còntồn tại và nguyên nhân của chúng trong quá trình xây dựng và thực hiện chính sáchthuế TNCN tại Trung Quốc, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm trong xây dựng

và thực hiện chính sách thuế TNCN

Ngoài ra đề tài còn dựa trên cơ sở nghiên cứu thực trạng chính sách thuếTNCN của Việt Nam để từ đó đưa ra những điểm tương đồng và khác biệt giữachính sách thuế TNCN của Việt Nam và Trung Quốc Từ đó đưa ra những khuyếnnghị hoàn thiện chính sách thuế TNCN cho Việt Nam dựa trên những bài học kinhnghiệm rút ra sau khi nghiên cứu chính sách thuế TNCN của Trung Quốc

Trang 21

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là:

- Lý luận về thuế TNCN

- Chính sách thuế TNCN của Trung Quốc

- Chính sách thuế TNCN của Việt Nam

- Thực trạng thực hiện thuế TNCN của Trung Quốc và Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu: chính sách thuế TNCN của Trung Quốc từ 1980 đến

2012 và tầm nhìn đến năm 2020, các kết quả đạt được trong quá trình áp dụng vàothực tiễn từ khi chính sách này được ban hành và áp dụng

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận văn là phương pháp tổnghợp, thống kê, phân tích phân tích tổng hợp dựa trên các tài liệu, bài viết, bài báo,các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, các báo cáo có liên quan về thuếTNCN, các số liệu thống kê từ Tổng cục thống kê, Tổng cục Thuế, Tổng cụcHải Quan và một vài nguồn dữ liệu sơ cấp, thứ cấp khác

Trên cơ sở lý luận, các tài liệu, các số liệu thực tế tổng hợp được, tác giả sửdụng các phương pháp thống kê, đối chiếu, so sánh để phân tích, đánh giá thựctrạng chính sách thuế TNCN của Trung Quốc, phân tích để đưa ra các bài học,khuyến nghị hoàn thiện chính sách thuế TNCN của Việt Nam

6 Nội dung chính của Luận văn ngoài phần mở đầu và kết luận gồm

o Chương 1: Chính sách thuế TNCN của Trung Quốc và bài học kinh

nghiệm kinh nghiệm rút ra

o Chương 2: Sự tương đồng và khác biệt giữa chính sách thuế TNCN của

Việt Nam và chính sách thuế TNCN của Trung Quốc

o Chương 3: Khuyến nghị hoàn thiện chính sách thuế TNCN của Việt Nam

từ bài học rút ra sau khi nghiên cứu chính sách thuế TNCN của TrungQuốc

Trang 22

CHƯƠNG 1 CHÍNH SÁCH THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN CỦA TRUNG

QUỐC VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM RÚT RA

Những vấn đề cơ bản về chính sách thuế TNCN

Khái quát chung về thuế TNCN

Thuế thu nhập cá nhân là loại thuế điều tiết trực tiếp thu nhập thực tế của các

cá nhân và các tổ chức trong xã hội trong một khoảng thời gian nhất định (thường làmột năm) Về nguyên tắc, bất kỳ một thể nhân nào khi nhận được thu nhập dưới bất

cứ hình thái nào (hiện vật hay giá trị) và bất kể từ nguồn nào (do lao động, hay đầutư ) đều phải trích một phần từ thu nhập đó để nộp cho nhà nước dưới dạng thuếthu nhập

Thuế TNCN có một số đặc điểm nổi bật như sau:

Thuế TNCN là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập của cá nhân, vào lượngtiền thu được (dưới cả hình thái tiền tệ và hiện vật) trong một khoảng thời gian nào

đó (thường là một năm)

Thuế TNCN có diện đánh thuế rất rộng Thuế thu nhập cá nhân có diện thuthuế rất rộng, tất cả các cá nhân có thu nhập bao gồm: công dân nước sở tại vàngười nước ngoài cư trú thường xuyên hay không thường xuyên tại nước đó và hầunhư tất cả số thu nhập có được của các cá nhân đều phải tính thuế không kể nguồnthu nhập phát sinh trong nước hay ngoài nước Chính vì vậy, khả năng tạo nguồnthu cho ngân sách của thuế thu nhập cá nhân rất cao

Thời gian tính thuế TNCN thường là một năm dương lịch do thu nhập thôngthường được xác định mỗi năm một lần Tuy nhiên, để có số thu vào ngân sách nhànước kịp thời, tùy từng nước quy định chế độ tạm thu hàng tháng, quý, hoặc 6 thángmột lần

Việc đánh thuế thu nhập cá nhân thường áp dụng theo nguyên tắc thuế suấtlũy tiến từng phần Đặc điểm này xuất phát từ vai trò chủ yếu của thuế thu nhập cá

Trang 23

nhân là điều tiết mạnh người có thu nhập cao, góp phần thực hiện công bằng xã hội.

Do vậy, việc sử dụng thuế suất lũy tiến từng phần sẽ đáp ứng được nhu cầu đó vìphần thu nhập tăng thêm càng cao thì sẽ phải tính thuế suất càng cao

Điểm đặc biệt mà chỉ có thuế TNCN mới có đó là tính đến khả năng nộpthuế của đối tượng nộp thuế bằng việc quy định một số khoản được khấu trừ có tínhchất xã hội trước khi tính số thuế phải nộp Các khoản này bao gồm: thu nhậpkhông chịu thuế, thu nhập miễn thuế, các khoản giảm trừ gia cảnh Đặc điểm nàyxuất phát từ mục tiêu công bằng xã hội của thuế này, do đó, thuế TNCN luôn gắnvới chính sách xã hội của mỗi quốc gia, sự khác nhau chỉ ở chỗ mức độ đưa ranhiều hay ít các chính sách xã hội khác vào chính sách thuế

Về góc độ kĩ thuật: thuế TNCN là loại thuế phức tạp vì diện đánh thuế rộng,khi tính toán thường phải gắn với hoàn cảnh của mỗi cá nhân và luôn kết hợp vớichính sách xă hội

Về phương diện pháp lý, thuế TNCN cũng mang hai đặc điểm cơ bản củacác loại thuế:

- Tính cưỡng chế: thuế nói chung và thuế TNCN nói riêng là một hình thứccưỡng chế theo luật pháp, được nhà nước ban hành dưới hình thức luật, pháp lệnh,ngoài ý muốn chủ quan của người dân để đảm bảo ngân sách chi tiêu cho hoạt độngquản lý cũng như các chương trình xã hội, phúc lợi công cộng

- Tính không hoàn trả trực tiếp: khác với các dịch vụ thông thường và cáckhoản đóng góp bắt buộc khác, khi nộp thuế, người nộp thuế không hề nhận đượcmột dịch vụ đối ứng trực tiếp nào, mà chỉ có thể nhận được một cách gián tiếp quaviệc tiêu dùng hàng hóa công cộng, như hưởng một xã hội an ninh tốt, một môitrường trong sạch

Do nhu cầu chi tiêu ngày càng tăng của nhà nước, sự giảm dần của thuế quan

do yêu cầu tự do hóa thương mại để phát triển kinh tế của các nước tư bản chủnghĩa đòi hỏi phải tăng nguồn thu tài chính nhà nước thông qua các loại thuế khácnhư thuế hàng hóa, thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế TNCN

Trang 24

Thuế TNCN được sử dụng như một công cụ linh hoạt điều tiết vĩ mô, kíchthích tiêu dung hoặc đầu tư để phát triển kinh tế Một trong những lý thuyết căn bảncủa Kenyes về tính hữu dụng giảm dần của thu nhập cho rằng mức thu nhập càngcao thì tính hữu dụng của nó càng thấp Do vậy, để tăng phúc lợi xã hội cần thiếtphải điều tiết bớt thu nhập của những đối tượng có thu nhập thấp hơn.

Bên cạnh đó, thông qua chính sách miễn giảm, ưu đãi, thuế thu nhập có thểtác động trực tiếp đến định hướng tiêu dùng và đầu tư theo hướng có lợi, thực hiệnmục tiêu điều chỉnh kinh tế của Nhà nước

Những nội dung cơ bản của thuế TNCN

Thu nhập chịu thuế

Thu nhập chịu thuế của một cá nhân có thể hiểu là toàn bộ thu nhập bằngtiền, bằng hiện vật mà người chịu thuế đã thực hiện được trong một thời gian xácđịnh và được tùy ý sử dụng

Thu nhập chịu thuế có các đặc điểm sau:

Thứ nhất, tất cả các khoản thu nhập phát sinh dù bằng tiền hay hiện vậtkhông phân biệt từ nguồn sản xuất kinh doanh hay lao động, đầu tư đều có thể xếpvào thu nhập chịu thuế sau khi trừ đi các khoản do pháp luật quy định không phảichịu thuế thu nhập

Thứ hai, thu nhập chịu thuế phải là thu nhập ròng nghĩa là thu nhập sau khi

đã trừ đi các khoản chi phí để tạo ra nó và các khoản được phép giảm trừ Đối vớithuế TNCN thì thu nhập chịu thuế là thu nhập sau khi đã trừ các chi phí cần thiết đểtạo ra thu nhập đó

Thứ ba, việc xác định thu nhập chịu thuế phải khả thi cho công tác quản lí.Một số nhà kinh tế đưa ra quan điểm là nên đánh thuế trên cơ sở thu nhập hoànchỉnh, tức là thu nhập hiện hữu cộng lãi vốn Tuy nhiên ý tưởng đánh thuế vào thunhập hoàn chỉnh có tính khả thi kém do sự phức tạp và không chắc chắn của việcxác định thu nhập chịu thuế Mặt khác, để có thu nhập hoàn chỉnh thì mỗi chủ thểtạo ra thu nhập lại có các chi phí khách quan khác nhau, chẳng hạn chi phí để khắcphục rủi ro, chi phí chữa bệnh… Nếu dựa vào chi phí hoàn chỉnh để làm cơ sở đánh

Trang 25

thuế thì vi phạm nguyên tắc công bằng Do đó, đa số nhà hoạch định chính sáchthuế đều nhất trí cho rằng thu nhập chịu thuế chỉ nên giới hạn trong phạm vi thunhập hiện hữu mà thôi

Việc xác định thu nhập chịu thuế được xác định trên cơ sở khấu trừ các chiphí trực tiếp, liên quan đến việc tạo ra thu nhập cá nhân, và các khoản mang tínhchất xã hội Sau khi khấu trừ tất cả các khoản đó, ta mới có thu nhập chịu thuế đểtiến hành tính thuế

Có thể xác định thu nhập chịu thuế theo công thức sau:

- Thu nhập từ tiền lương, tiền công, tiền hưu trí, trợ cấp xã hội và các khoảntương tự Thu nhập có thể được nhận trực tiếp bằng tiền hoặc bằng hiện vật phảiquy ra tiền Để bớt thiệt thòi cho người làm công ăn lương, người ta không đưa toàn

bộ thu nhập loại này vào thu nhập chịu thuế mà cho phép trừ ra một mức nào đó baogồm các khoản đóng góp xã hội như bảo hiểm xã hội, từ thiện, và các khoản chi phíkhác theo quy định

Trang 26

- Thu nhập từ lãi cổ phần, lãi cho vay, lãi tiền gửi và các loại tương tự: thunhập chịu thuế là số lãi thu được trừ bớt chi phí liên quan thường là chi phí mua cácchứng khoán có giá

- Thu nhập từ thừa kế: là khoản thu nhập chịu thuế có tính chất đặc biệt dongười thừa kế phải chịu trách nhiệm cả những nợ nần của người quá cố Do đó, thunhập chịu thuế là số chênh lệch dương của tài sản thừa kế và các khoản nợ củangười thừa kế

Thứ hai, các khoản khấu trừ do chi tiêu xã hội, khoa học, nhân đạo và nhữngthu nhập mang tính chất trợ cấp xã hội, giúp đỡ người có hoàn cảnh khó khăn,người già, người tàn tật… Đó là một trong những đặc điểm của thuế TNCN

Những khoản chi của cá nhân được xem xét khấu trừ khi tính thu nhập chịuthuế là:

- Những chi phí đặc biệt

+ Chi phí bảo hiểm

+ Các khoản đóng góp bắt buộc theo luật định như tiền nuôi bố mẹ, tiềnđóng góp BHXH

Các khoản chi này có thể được khấu trừ không hạn chế hoặc có giớihạn cho từng khoản tùy theo chính sách xã hội của mỗi quốc gia Cáckhoản được khấu trừ có giới hạn thường là các khoản chi như BHYT,BHXH

+ Các khoản tiền trả thay lương như trợ cấp ốm đau, lương hưu, trợ cấptai nạn lao đông, trợ cấp thất nghiệp, …

+ Các khoản phúc lợi xã hội thường được hưởng chế độ ưu tiên về thuếcho nên phúc lợi xã hội càng tăng, nguồn thu về thuế thu nhập cànggiảm, ảnh hưởng đến tính trung lập và công bằng của thuế TNCN Do

đó, OECD cũng đang nghiên cứu để có thái độ rõ ràng đúng đắn hơnđối với các khoản phúc lợi xã hội

- Những chi phí bắt buộc:

Trang 27

+ Các khoản chi phí cá nhân nhằm tái tạo sức lao động, chi phí bảo đảmđiều kiện sống tối thiểu của cá nhân cũng được xét miễn thuế Khởiđiểm chịu thuế chỉ bắt đầu từ mức sống tối thiểu không chỉ là ăn, mặc,thuần túy mà còn có nội dung về đời sống văn hóa - xã hội Mức thunhập thực tế phù hợp với mức sống tối thiểu được xem xét làm căn cứxây dựng khởi điểm tính thuế phải được điều chỉnh trong hoàn cảnhmức sống bình quân xã hội thay đổi

+ Các khoản chi phí nuôi con, mang tính chất gánh nặng gia đình cũngđược quy định thành một khoản được trừ tùy theo quan điểm của nhànước cần khuyến khích gia đình đông con hay không Mức khấu trừtính theo mức thu nhập đồng loạt cho từng trẻ em, không phân biệtgiữa người có thu nhập thấp hay cao

Đối tượng nộp thuế

Đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân bao gồm cá nhân cư trú và cá nhânkhông cư trú có thu nhập chịu thuế theo như trình bày ở mục 4.1 Thông thường cácnước quy định người được coi là cư trú là người mang quốc tịch hoặc người có thờigian sinh sống ở nước sở tại quá 183 ngày trong một năm, tính theo năm dươnglịch Tuy nhiên, không phải tất cả các nước đều quy định mốc thời gian là 183 ngày,như Mỹ quy định người cư trú là người có thời gian sinh sống ở Mỹ trên 1 năm,hoặc có nước quy định thời hạn quá 183 ngày trong 365 ngày liên tiếp kể từ ngàyđến nước sở tại, không tính theo năm dương lịch

Thuế suất

Thuế suất là tiêu thức để hình thành nên các mức thuế Thường có hai loạithuế suất: thuế suất cố định bằng một số tuyệt đối và thuế suất tỉ lệ phần trăm Đốivới thuế TNCN để đảm bảo tính linh hoạt hầu hết các nước sử dụng thuế suất theo tỉ

lệ phần trăm Các thuế suất được tập hợp thành biểu thuế suất Với thuế TNCN, loạithuế điều tiết trực tiếp vào thu nhập nên biểu thuế suất được xây dựng là biểu thuếsuất lũy tiến từng phần

Trang 28

Việc quy định và xây dựng biểu thuế suất cụ thể cần phải tuân theo một sốnguyên tắc:

- Mức thuế đưa ra phải phù hợp với thu nhập chung của toàn xã hội theo từnggiai đoạn lịch sử

- Phải giữ được tính trung lập của thuế khóa, không ảnh hưởng việc ổn địnhkinh tế và tăng trưởng

- Đảm bảo các mối quan hệ hài hòa giữa tăng thu và khuyến khích phát triểnkinh tế trong từng giai đoạn cụ thể

Khi nghiên cứu về thuế TNCN và tác động của nó tới tăng trưởng kinh tế nóichung, đối với nguồn thu của ngân sách nhà nước nói riêng, người ta đã đưa ra quanđiểm là: nếu thuế suất quá cao thu nhập của những người có thu nhập cao bị điềuhòa và chia sẻ quá mức gây ra tâm lí chán nản, không có động cơ làm việc và lànguyên nhân của suy thoái và lạm phát Đây là mâu thuẫn cơ bản trong nền kinh tếthị trường mà chính sách thuế TNCN phải giải quyết Tất nhiên, giữa những người

có tài sản và thu nhập lớn với người lao động nghèo cũng có những mối quan hệphụ thuộc để tồn tại Nghĩa là vẫn có một giới hạn phân phối lại, mà ở đó nhữngngười có thu nhập cao sẵn sàng đóng góp một phần thu nhập cho các nhu cầu xã hội

mà không thay đổi các dự án tăng trưởng của mình Một nhóm các nhà kinh tế học

Mỹ do Athur Laffer lãnh đạo đã nghiên cứu và nhấn mạnh tầm quan trọng của thuếsuất đối với các thành tựu kinh tế, và đưa ra lý thuyết đường cong Laffer để làmcông cụ phân tích nghiên cứu Lý thuyết này đã được nhiều nước sử dụng để làm cơ

sở lý luận khi hoạch định chính sách tài chính quốc gia, cũng như để thực hiện cảicách hệ thống thuế trong đó có thuế TNCN

Giảm trừ gia cảnh

Hầu hết pháp luật thuế TNCN của các nước đều có quy định về mức giảmtrừ gia cảnh theo các hình thức và cách thức khác nhau Về phân loại, các khoảngiảm trừ gia cảnh TNCN các nước áp dụng được chia thành ba nhóm sau:

- Giảm trừ chung cho cá nhân người nộp thuế;

Trang 29

- Các khoản giảm trừ cho người phụ thuộc, như giảm trừ cho con, cho vợ hoặcchồng, cho bố mẹ;

- Các khoản giảm trừ có tính chất đặc thù (ví dụ, giảm trừ cho chi phí y tế,giáo dục…)

Cụ thể như sau:

- Các khoản giảm trừ chung: Đây là khoản được loại trừ ra khỏi thu nhập tínhthuế ở mức tương tự nhau, không xem xét đến “hành vi” sử dụng thu nhậpcủa cá nhân người nộp thuế (khác với các khoản giảm trừ đặc thù trình bàydưới đây) Trên phương diện lý thuyết, lý do áp dụng các khoản giảm trừchung thường xuất phát từ lập luận cho rằng mỗi cá nhân cần phải có mộtmức thu nhập nhất định nhằm đáp ứng được nhu cầu thiết yếu của cuộcsống, vì thế thu nhập đến ngưỡng này nên được miễn thuế Việc áp dụngcác khoản giảm trừ chung ở nhiều nước còn hướng tới mục tiêu loại trừ cácđối tượng có thu nhập thấp ra khỏi diện phải nộp thuế TNCN, qua đó giảmbớt gánh nặng cho cơ quan thuế trong việc kê khai, quyết toán thuế, nhất làkhi số thuế thu được từ các đối tượng có thu nhập dưới ngưỡng thườngchiếm tỷ trọng nhỏ trong khi chi phí quản lý thu đối với các đối tượng nàythường không nhỏ Do nhu cầu sống của các cá nhân người nộp thuế rấtkhác nhau (nhu cầu tiêu dùng khác nhau, đặc điểm tiêu dùng của mỗi vùngkhác nhau…), việc đưa ra mức giảm trừ bao giờ cũng là vấn đề thường cónhiều ý kiến khác nhau (dư luận xã hội bao giờ cũng muốn có quy định ởmức cao)

- Các khoản giảm trừ cho người phụ thuộc: Là các khoản giảm trừ áp dụng chonhững người mà đối tượng nộp thuế phải nuôi dưỡng (người phụ thuộc).Tuy nhiên, phạm vi người phụ thuộc của các nước cũng có sự khác biệt và

có các tiêu chí khác nhau Mức giảm trừ quy định cho người phụ thuộcthường được quy định thấp hơn so với mức giảm trừ cho cá nhân người nộpthuế Song cũng có nước quy định mức giảm trừ cá nhân cho người nộpthuế cũng tương tự như người phụ thuộc Nhiều nước khống chế số lượng

Trang 30

người phụ thuộc được tính giảm trừ, song cũng có nước không khống chế.Cũng có nước không quy định riêng mức giảm trừ cho người phụ thuộc vàcho cá nhân người nộp thuế mà quy định một mức chung

- Các khoản giảm trừ đặc thù: Đây là các khoản giảm trừ mà đối tượng nộpthuế được hưởng khi đáp ứng được một số tiêu chí nhất định, ví dụ như chitiêu cho các khoản mục mà nhà nước cần khuyến khích (ví dụ cho y tế, giáodục…) Theo đó, phạm vi các khoản giảm trừ này cũng rất đa dạng Cóquốc gia cho phép giảm trừ các khoản đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm ytế để khuyến khích người dân tham gia các dịch vụ này; có quốc gia chophép giảm trừ chi phí giáo dục của con hoặc là có quốc gia cho phép giảmtrừ đối với các khoản lãi tiền vay mua nhà trả góp (để khuyến khích ngườidân sở hữu nhà) hay là các khoản đóng góp từ thiện Khi xây dựng cáckhoản giảm trừ đặc thù, phần lớn các nước đều khống chế mức tối đa cho từngloại giảm trừ, ví dụ như cho giáo dục, y tế… Để được hưởng các khoản giảmtrừ này, người nộp thuế phải xuất trình được các chứng từ liên quan

Chính sách thuế TNCN của Trung Quốc

Nội dung cơ bản về chính sách thuế TNCN hiện hành tại Trung Quốc

Đối tượng nộp thuế

Thuế thu nhập cá nhân là một trong những sắc thuế có diện áp dụng rộngnhất trong số các sắc thuế đóng góp vào nguồn ngân sách nhà nước Thuế thu nhập

cá nhân không chỉ điều chỉnh đối với cá nhân là công dân của nước đó mà còn điềuchỉnh đối với cả những cá nhân nước ngoài sinh sống và làm việc trên lãnh thổ củaquốc gia đó dựa trên sự phân biệt đối tượng cư trú và đối tượng không cư trú Phầnlớn các nước đều xác định đối tượng nộp thuế theo tiêu thức “nơi cư trú” và TrungQuốc cũng là một trong số đó

Pháp luật của Trung Quốc quy định đối tượng cư trú ở Trung Quốc phải nộpthuế đối với toàn bộ thu nhập của người đó nhận được từ trong và ngoài nước TrungQuốc Còn cá nhân không cư trú thì phải nộp thuế TNCN cho các khoản thu nhậpchịu thuế phát sinh trong lãnh thổ Trung Quốc

Trang 31

Theo Luật của Trung Quốc, điều kiện để xác định cá nhân cư trú như là cánhân có chỗ ở hoặc không có chỗ ở trong nước Trung Quốc, mà cư trú tại TrungQuốc đủ 1 năm Cá nhân không cư trú là cá nhân không có nơi ở thường xuyên vàkhông có mặt tại Trung Quốc hoặc không có nơi ở thường xuyên nhưng có mặt tạiTrung Quốc không đến 365 ngày

Cá nhân không cư trú tại Trung Quốc, trong một năm tính thuế không ởTrung Quốc đến 90 ngày thì những thu nhập phát sinh trong và ngoài nước nàyđược miễn thuế thu nhập cá nhân

Thu nhập chịu thuế

Ở Trung Quốc, thu nhập chịu thuế được quy định gồm 11 loại:

(1) Thu nhập từ tiền công, tiền lương

(2) Thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh của hộ kinh doanh cá thể(3) Thu nhập từ kinh doanh cho thuê, nhận thầu của các đơn vị sự nghiệp,doanh nghiệp

(4) Thu nhập từ thù lao lao động

(5) Thu nhập từ nhuận bút

(6) Thu nhập từ phí sử dụng bản quyền

(7) Lợi tức, cổ tức từ cổ phiếu, trái phiếu

(8) Thu nhập từ việc cho thuê tài sản

(9) Thu nhập từ chuyển nhượng tài sản

(10) Thu nhập ngẫu nhiên (như trúng thưởng, trúng xổ số và những thu nhậpngẫu nhiên khác)

(11) Thu nhập khác: là chỉ những thu nhập khác do Bộ Tài chính Quốc vụviện xác định phải nộp thuế

Thu nhập không chịu thuế, miễn, giảm thuế

Mặc dù Luật Thuế TNCN mới được áp dụng ở Trung Quốc từ những năm 80của thế kỷ 20, tuy nhiên đã đem lại nguồn thu đáng kể cho NSNN và được đa sốngười dân đồng tình ủng hộ Vì vậy việc nghiên cứu Luật Thuế TNCN của TrungQuốc và áp dụng có chọn lọc đối với Việt Nam sẽ đem lại những kết quả tốt nhất

Trang 32

Cụ thể, về các khoản thu nhập không chịu thuế, Luật Thuế TNCN Trung Quốc quyđịnh gồm:

- Tiền thưởng do chính quyền nhân dân cấp tỉnh, các ngành thuộc Quốc vụviện, đơn vị quân đội cấp quân đoàn và các tổ chức ngoại giao, tổ chức quốc

tế cấp thưởng cho về các mặt khoa học, giáo dục, kỹ thuật, văn hoá, y tế, thểdục, bảo vệ môi trường

- Lợi tức tiền gửi tiết kiệm, lợi tức trái phiếu do Bộ Tài chính cho phép pháthành và trái phiếu tín dụng do Quốc vụ viện cho phép phát hành

- Tiền phụ cấp, trợ cấp được chính quyền phát cho theo quy định của Quốc vụviện và tiền phụ cấp, trợ cấp được Quốc vụ viện quy định miễn thuế

- Tiền phúc lợi, tiền dưỡng lão, tiền cứu tế

- Tiền bồi thường bảo hiểm

- Tiền chuyển ngành, tiền phục viên của quân nhân

- Tiền được Nhà nước quy định thống nhất phát cho cán bộ viên chức về ổnđịnh chỗ ở, thôi việc, lương hưu

- Thu nhập của các đại diện ngoại giao, nhân viên lãnh sự và các nhân viênkhác thuộc các đại sứ quán, lãnh sự quán tại Trung Quốc, được miễn thuếtheo Luật pháp hữu quan quy định

- Thu nhập được quy định miễn thuế trong các công ước quốc tế, các hiệp định

ký kết mà Chính phủ Trung Quốc tham gia

- Thu nhập được ngành tài chính cho phép miễn thuế

Miễn thuế:

- Lợi tức tiền gửi tiết kiệm giáo dục (chỉ áp dụng đối với cá nhân mở tài khoảntại Ngân hàng chỉ định, gửi tiền dùng vào việc chuyên dùng cho giáo dục)

- Tiền thưởng hoặc hiện vật được thưởng cho những người dũng cảm vì nghĩa

do hội nghĩa dũng hoặc tổ chức tương tự tặng thưởng, các tổ chức này đượcchính quyền nhân dân cấp xã, thị trấn trở lên, hoặc được ngành chủ quản củachính quyền nhân dân huyện cho phép thành lập

Trang 33

- Trợ cấp viện sỹ, viện sỹ thông tấn của Viện hàn lâm khoa học Trung Quốc vàViện công trình Trung Quốc

- Quỹ phát triển nhà ở, phí bảo hiểm y tế cơ bản, phí bảo hiểm dưỡng lão cơbản, phí bảo hiểm thất nghiệp do các doanh nghiệp và cá nhân căn cứ theo tỷ

lệ của Nhà nước hoặc chính quyền địa phương quy định, trích ra và gửi vàomột tổ chức tín dụng được chỉ định, được miễn thu thuế thu nhập cá nhân

- Công nhân viên chức thay đổi cương vị công tác theo yêu cầu của cải cách,

đi làm các ngành dịch vụ dân cư ở phố phường, có thu nhập kinh doanh vàthù lao dịch vụ cũng được định kỳ miễn thu thuế thu nhập cá nhân

- Các cá nhân sau khi bán nhà ở của mình trong vòng 1 năm đi mua nhà ở theogiá cả thị trường thì được xem xét toàn bộ hay 1 phần giá trị của nhà ở mớimua lại để miễn thu thuế thu nhập cá nhân

Tạm miễn thu thuế thu nhập cá nhân:

- Thu nhập về tiền công, tiền lương của các chuyên gia nước ngoài phù hợpvới quy định của Nhà nước (như các nhân viên công tác do Ngân hàng thếgiới cử đến Trung Quốc theo hiệp định tín dụng của Ngân hàng này, cácnhân viên công tác do Liên hợp quốc trực tiếp cử đến Trung Quốc, các nhânviên công tác do nước viện trợ cử đến Trung Quốc chuyên trách khoản việntrợ không hoàn lại của nước này, một số chuyên gia đến Trung Quốc làmviệc mà tiền lương do phía bên nước ngoài gánh chịu)

- Một số thu nhập của các cá nhân quốc tịch nước ngoài (bao gồm các khoảnthu nhập bằng hình thức không dùng tiền mặt hoặc bằng hình thức thực chithực thanh, như trợ cấp nhà ở, trợ cấp ăn uống, chi phí di chuyển, chi phí giặtlà; trợ cấp đi công tác được nhận theo tiêu chuẩn hợp lý; các chi phí đượcnhận về thăm thân nhân, chi phí về học ngôn ngữ, chi phí học tập của concái đã được cơ quan chủ quản thuế vụ duyệt những phần hợp lý; các khoảnđược nhận từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài như lợi tức cổ phần,hoa hồng )

Trang 34

- Tiền thưởng cá nhân được nhận về việc khai báo, điều tra hành vi phạmpháp, phạm tội

- Thủ tục phí cá nhân được nhận do làm thủ tục về khấu trừ thay, nộp thay tiềnthuế theo quy định

- Thu nhập nhận được về chuyển nhượng nhà ở tự dùng để sinh hoạt gia đìnhcủa cá nhân có duy nhất và đã sử dụng trên 5 năm

- Thu nhập về tiền công, tiền lương trong thời gian hoãn thôi chức, nghỉ hưucủa các chuyên gia, học giả đã đến tuổi thôi chức, nghỉ hưu, nhưng do nhucầu công tác mà lưu nhiệm, được hưởng trợ cấp đặc biệt của chính quyền

- Thu nhập về chuyển nhượng cổ phiếu, quỹ đầu tư chứng khoán

- Tiền thưởng về chuyển hoá thành quả khoa học kỹ thuật của cơ quan nghiêncứu khoa học kỹ thuật, trường cao đẳng, cho cá nhân bằng hình thức quyềnlợi cổ đông như cổ phần, tỷ lệ góp vốn

- Tiền thưởng mỗi lần không vượt quá 10.000Y cho cá nhân mua phiếu quyêntặng có thưởng, sổ xố thể dục mang tính chất phúc lợi xã hội

- Khi doanh nghiệp có chế độ sở hữu tập thể chuyển thành doanh nghiệp theochế độ hợp tác cổ phần, các tài sản được lượng hoá thuộc quyền sở hữu củadoanh nghiệp mà cá nhân công nhân viên chức được nhận bằng hình thức cổphần

Các khoản được giảm trừ (Triết trừ gia cảnh)

Ở Trung Quốc, mức giảm trừ có sự phân biệt giữa cá nhân người nộp thuế làngười Trung Quốc và người nước ngoài, trong đó người nước ngoài có mức giảm trừcao hơn

Việc điều chỉnh mức giảm trừ gia cảnh thường có sự khác biệt ở các nhómnước Ở các nước phát triển do chính sách thuế TNCN là một sắc thuế quan trọngnhất trong hệ thống thuế nên tần suất khá thường xuyên và thường điều chỉnh mỗinăm một lần và có nước nguyên tắc điều chỉnh được quy định trong Luật Đối với

Trang 35

các nước đang phát triển, qua tham khảo về những thay đổi chính sách thuế TNCN

ở các nước này trong 10 năm qua cho thấy tần suất điều chỉnh các khoản giảm trừ ítthường xuyên hơn so với các nước phát triển và thường duy trì ổn định trong mộtthời gian nhất định Phần lớn các nước đang phát triển không quy định nguyên tắcđiều chỉnh mức giảm trừ như một số nước phát triển mà việc điều chỉnh thườngđược thực hiện thông qua việc sửa đổi chính sách thuế TNCN Và Trung Quốc làmột trong các nước đang phát triển đó

Trung Quốc kể từ khi ban hành chính sách thuế TNCN đến nay cũng đã 7 lầnđiều chỉnh mức miễn trừ cơ bản, trong đó có cả lần điều chỉnh giảm Lần điều chỉnhgiảm mức giảm trừ là năm 1986, trong năm này Trung Quốc đã thực hiện thay đổimức miễn trừ cơ bản từ 800 NDT xuống 400 NDT với mục đích để mở rộng đốitượng nộp thuế, tăng số lượng người nộp thuế Diễn biến điều chính mức miễn trừ

cơ bản của Trung Quốc được thể hiện chi tiết ở bảng dưới

Bảng 1.1: Diễn biến điều chỉnh mức miễn trừ cơ bản của Trung Quốc

STT Năm điều chỉnh Mức miễn trừ cơ bản (NDT/tháng)

Biểu thuế

Biểu thuế suất lũy tiến áp dụng đối với thu nhập từ các khoản tiền công vàtiền lương

Trang 36

Bảng 1.2: Biểu thuế áp dụng đối với thu nhập từ các khoản tiền công và lương

Bậc

thuế Thu nhập tính thuế

Thuế suất (%)

Trừ nhanh (NDT)

(Nguồn: chính sách thuế TNCN của Trung Quốc)

Biểu thuế áp dụng đối với thu nhập hoạt động kinh doanh của các cơ sở tựkinh doanh và thu nhập từ quản lý theo hợp đồng hoặc cho thuê đối với các doanhnghiệp hoặc tổ chức

Bảng 1.3: Biểu thuế áp dụng với thu nhập từ hoạt động kinh doanh và quản lý

(Nguồn: chính sách thuế TNCN của Trung Quốc)

Mức thuế suất tỷ lệ cố định 20% được áp dụng đối với thu nhập từ tiền thùlao tác giả với 30% thu nhập chịu thuế được miễn thuế

Mức thuế suất tỷ lệ 20% được áp dụng đối với thu nhập từ tiền thù lao dịch

vụ lao động; đối với các khoản thu nhập một lần ở mức rất cao, thuế suất có thểđược nhân hệ số

Mức thuế suất tỷ lệ 20% được áp dụng đối với thu nhập từ bản quyền, tiềnlãi, lợi tức, các khoản tiền thưởng, thu nhập từ cho thuê tài sản, thu nhập từ bản tàisản, thu nhập không thường xuyên và các khoản thu nhập khác

Trang 37

1.2.1.6 Cách tính thuế TNCN

Đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công

Thu nhập tính thuế hàng tháng = Thu nhập hằng tháng – (Bảo hiểm dưỡng lão + bảo hiểm y tế + bảo hiểm thất nghiệp + tiền nhà theo tiêu chuẩn do chính quyền

cấp tỉnh quy định) – mức miễn trừ cơ bản

Trong đó:Mức miễn trừ cơ bản theo luật hiện hành (01/09/2011) đối vớiNNT là người Trung Quốc: 3500 NDT/Tháng và 4800 NDT/Tháng đối với NNT làngười nước ngoài

Thuế phải nộp hàng tháng = Thu nhập chịu thuế hàng tháng x thuế suất – khoản trừ nhanh

Trong đó: khoản trừ nhanh là là khoản quy định theo từng mức thuế suấttrong biểu thuế lũy tiến

Đối với thu nhập từ sản xuất kinh doanh

Thu nhập tính thuế hàng năm = Doanh thu năm – giá thành – chi phí – tổn thất Thuế phải nộp hàng năm = Thu nhập chịu thuế hàng năm x Thuế suất – khoản trừ

nhanh

Các loại thu nhập khác: Thuế thu nhập từ hợp tác kinh doanh hoặc cho thuêdoanh nghiệp; thuế thu nhập từ dịch vụ cá nhân, quyền tác giả, bản quyền, cho thuê tàisản; thuế thu nhập từ chuyển nhượng tài sản và các khoản thu nhập được miễn thuế

- Thu nhập từ hợp tác kinh doanh hoặc cho thuê doanh nghiệp: thu nhập từhợp tác kinh doanh hoặc cho thuê doanh nghiệp được đánh thuế dựa trên chênh lệchgiữa tổng thu nhập hàng năm trừ đi khoản giảm trừ (hiện nay là 800 nhân dân tệ mỗitháng) và áp dụng mức thuế suất như biểu thuế suất áp dụng cho thu nhập của cánhân kinh doanh

- Thu nhập từ dịch vụ cá nhân, quyền tác giả, bản quyền, cho thuê tài sản,khoản thu nhập này được tính cho mỗi lần thanh toán thu nhập như sau:

+ Nếu khoản thu nhập nhỏ hơn hoặc bằng 4.000 nhân dân tệ, thì thu nhậptính thuế là khoản còn lại sau khi trừ đi 800 nhân dân tệ

+ Nếu khoản thu nhập lớn hơn 4.000 nhân dân tệ, thì khoản thu nhập tínhthuế là khoản thu nhập còn lại sau khi trừ đi 20% khoản thu nhập này

Trang 38

+ Thuế suất áp dụng là 20%

+ Công thức tính thuế như sau:

Thu nhập tính thuế = Thu nhập ròng – 800 NDT (hoặc 20% thu nhập)

Thuế phải nộp = Thu nhập tính thuế X 20%

- Thu nhập từ chuyển nhượng tài sản:

+ Thu nhập này được đánh thuế dựa trên giá chuyển nhượng trừ đi giá vốncủa tài sản và trừ đi các chi phí hợp lý Thuế suất áp dụng là 20%

+ Công thức tính thuế như sau:

Thu nhập tính thuế = Giá chuyển nhượng – Giá vốn – Chi phí

Thuế phải nộp = Thu nhập tính thuế X 20%

Ví dụ:

(VD1) Ông A có lương tháng là 9.000 NDT Tổng cộng chi phí bảo hiểm

dưỡng lão + bảo hiểm y tế + bảo hiểm thất nghiệp + tiền nhà là 1000 NDT

Thu nhập tính thuế của ông A hằng tháng = 9.000 – 1.000 – 3.500 = 4.500 NDTThuế thu nhập ông A phải đóng hằng tháng = 4.500 x 15% - 125 = 550 NDT

(VD2) Ông A được đăng một bài viết trên tạp chí, tiền nhuận bút là 3.000 NDT

Số thuế ông A phải đóng = (3.000-800) ×20%×(1-30%)=308 NDT

(VD3) Ông A có thù lao lao động một lần là 40.000 NDT

Các đơn vị và cá nhân chi trả số thu nhập chịu thuế cho các cá nhân có nghĩa

vụ khấu trừ, nộp thay thuế thu nhập cá nhân, đồng thời gửi tới cơ quan thuế biểubáo cáo nộp thay thuế thu nhập cá nhân Đối tượng nộp thuế có thu nhập tiền công,

Trang 39

tiền lương ở hai nơi nhưng không có người có nghĩa vụ nộp thay thì đối tượng nộpthuế có nghĩa vụ tự mình khai báo nộp thuế

Thời hạn nộp thuế:

- Thuế phải nộp đối với thu nhập của hộ công thương cá thể, tính theo năm

và chia theo tháng để tạm nộp trước vào ngày 7 của tháng sau Ba tháng sau khi hếtnăm sẽ tổng hợp quyết toán, thừa thì hoàn thiếu thì nộp bù

- Thuế phải nộp đối với thu nhập từ hành nghề độc lập thì chia làm 2 loại đểxác định thời hạn nộp thuế: Một là có thu nhập đều trong năm thì chia thành số lầnnộp theo tháng như đối với hộ công thương cá thể Hai là, đối tượng nộp thuế có thunhập chịu thuế vào cuối năm hoặc thu nhập mang tính chất 1 lần thì trong 30 ngàysau khi có thu nhập, phải nộp khoản thuế theo quy định vào kho bạc

- Thu nhập nhận được từ bên ngoài nước Trung Quốc, trong vòng 30 ngàysau khi hết năm phải nộp khoản tiền thuế theo quy định vào kho bạc và gửi báo cáonộp thuế tới cơ quan thuế

- Các khoản thu nhập khác, bất kể số thuế phải nộp là do người có nghĩa vụkhấu trừ nộp, khấu trừ hộ, nộp hộ hay là do người có nghĩa vụ nộp thuế tự mìnhkhai báo nộp, đều phải trong 7 ngày của tháng sau đem khoản thuế phải nộp hoặckhoản thuế khấu trừ nộp vào kho bạc

Địa điểm nộp thuế:

- Đối với người tự khai và nộp thuế, thì khai báo và nộp thuế tại cơ quan thuếđịa phương nơi phát sinh thu nhập

- Đối với người có nghĩa vụ khấu trừ kê khai và khấu trừ thuế, thì nộp thuếtại cơ quan thuế địa phương sở tại

- Đối với thu nhập phát sinh ngoài lãnh thổ Trung Quốc, thì khai báo và nộpthuế tại cơ quan thuế địa phương nơi có hộ khẩu hoặc cơ quan thuế được chỉ định

Trang 40

- Đối với thu nhập phát sinh từ hai nơi trở lên, thì người nộp thuế xin phép vàđược cơ quan thuế phê duyệt thì sẽ khai báo và nộp thuế tại cõ quan thuế ở mộttrong số những nõi đó

- Nếu người nộp thuế xin chuyển địa điểm nộp thuế thì phải được cơ quanthuế chủ quản trước đây đồng ý

Công tác hoàn thuế

Luật thuế Trung Quốc không có quy định cụ thể về việc hoàn thuế thu nhập

cá nhân, tuy nhiên trong trường hợp nộp thừa thuế TNCN, vẫn có thể làm thủ tụchoàn thuế, nhưng thường rất phức tạp Những cá nhân/đơnvị muốn được hoàn thuếcần nộp cho cơ quan thuế quản lý: đơn xin hoàn thuế, giấy chứng nhận đăng ký thuế(bản copy) và những giấy tờ liên quan khác để chứng minh việc nộp sai thuế nhưgiấy chứng nhận số tiền đã nộp thuế, giấy tờ chứng minh số tiền thuế cần phải nộp,bảng khai báo quyết toán

Kết quả thực hiện chắnh sách thuế TNCN ở Trung Quốc

Về đóng góp vào tổng thu ngân sách nhà nước

Từ năm 1994, khi mới thực hiện chắnh sách thuế TNCN, tổng số thu thuế củaloại thuế này tại Trung Quốc luôn đạt những bước tăng trưởng cao qua các năm:

- Năm 1994 đạt 7,267 tỷ NDT

- Năm 2008 tăng lên đến mức 372,2 tỷ NDT, tương đương mức tăng trưởngtrung bình hàng năm là 34%

- Năm 2010 tổng thu từ thuế TNCN của Trung Quốc là 480 tỷ NDT

- Năm 2012 tổng thu từ thuế TNCN của Trung Quốc đạt 582 tỷ NDT,chiếm 5,8% của tổng số thu ngân sách

Qua số liệu trên ta có thể thấy quy mô của thuế TNCN được mở rộng dần vàngày càng đóng góp nhiều vào tổng thu thuế Sự tăng trưởng này đã khiến thuế thunhập cá nhân dần nâng cao vai trò trong hệ thống thuế nói chung, thể hiện qua tỉ lệđóng góp trong tổng số thu thuế

Ngày đăng: 26/02/2023, 16:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
12. Bộ Tài chính (2009), Thông tư số 164/2009/TT-BTC ngày 13/08/2009 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế TNCN đối với người trúng thưởng trong các trò chơi tại điểm vui chơi giải trí có thưởng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 164/2009/TT-BTC ngày 13/08/2009 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế TNCN đối với người trúng thưởng trong các trò chơi tại điểm vui chơi giải trí có thưởng
Tác giả: Bộ Tài chính
Nhà XB: Bộ Tài chính
Năm: 2009
21. Cao Anh Tuấn (2013), Điều chỉnh thuế thu nhập của Việt Nam trong điều kiện Việt Nam là thành viên WTO Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều chỉnh thuế thu nhập của Việt Nam trong điều kiện Việt Nam là thành viên WTO
Tác giả: Cao Anh Tuấn
Năm: 2013
22. Chính phủ nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa (1980), Luật thuế thu nhập cá nhân của Trung Quốc ngày 10/09/1980 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật thuế thu nhập cá nhân của Trung Quốc ngày 10/09/1980
Tác giả: Chính phủ nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa
Năm: 1980
24. Chính phủ nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa (2008), Luật thuế thu nhập cá nhân sửa đổi của Trung Quốc ngày 01/03/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật thuế thu nhập cá nhân sửa đổi của Trung Quốc ngày 01/03/2008
Tác giả: Chính phủ nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa
Năm: 2008
25. Chính phủ nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2007), Luật Thuế thu nhập cá nhân của Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 2, số 04/2007/QH12 ngày 21/11/2007, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Thuế thu nhập cá nhân của Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 2, số 04/2007/QH12 ngày 21/11/2007
Tác giả: Chính phủ nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2007
26. Chính phủ nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2008), Nghị định số 100/2008/NĐ-CP ngày 08/9/2008 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế TNCN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 100/2008/NĐ-CP ngày 08/9/2008 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế TNCN
Tác giả: Chính phủ nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2008
28. Dương Quýnh (2005), Nhín nhận phương hướng cải cách luật thuế TNCN từ thực trạng mất cân bằng trong phân phối thu nhập, NXB Đại học Phúc Đán, Trung Quốc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhín nhận phương hướng cải cách luật thuế TNCN từ thực trạng mất cân bằng trong phân phối thu nhập
Tác giả: Dương Quýnh
Nhà XB: NXB Đại học Phúc Đán
Năm: 2005
29. Đồ Văn Lệ (2008), Nghiên cứu hoàn thiện luật thuế TNCN nước ta, NXB Đại học Vũ Hán, Trung Quốc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu hoàn thiện luật thuế TNCN nước ta
Tác giả: Đồ Văn Lệ
Nhà XB: NXB Đại học Vũ Hán, Trung Quốc
Năm: 2008
30. Đỗ Đức Minh (2000), Thuế TNCN – những vấn đề lý luận và kinh nghiệm thế giới, NXB Tài Chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuế TNCN – những vấn đề lý luận và kinh nghiệm thế giới
Tác giả: Đỗ Đức Minh
Nhà XB: NXB Tài Chính
Năm: 2000
31. Đỗ Đức Minh – Lê Văn Ái (2002), Thuế TNCN trên thế giới và định hướng vận dụng ở Việt Nam, NXB Bộ Tài Chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuế TNCN trên thế giới và định hướng vận dụng ở Việt Nam
Tác giả: Đỗ Đức Minh, Lê Văn Ái
Nhà XB: NXB Bộ Tài Chính
Năm: 2002
32. Nguyễn Thị Liên - Nguyễn Văn Hiệu (2008), Giáo trình nghiệp vụ thuế, NXB Tài Chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình nghiệp vụ thuế
Tác giả: Nguyễn Thị Liên, Nguyễn Văn Hiệu
Nhà XB: NXB Tài Chính
Năm: 2008
33. Quách Đức Pháp (1999), Thuế công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế, NXB Xây Dựng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuế công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế
Tác giả: Quách Đức Pháp
Nhà XB: NXB Xây Dựng
Năm: 1999
34. Quốc vụ viện nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa (1986), Quy định tạm thời về thuế thu nhập của các hộ kinh doanh cá thể thành thị, Trung Quốc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định tạm thời về thuế thu nhập của các hộ kinh doanh cá thể thành thị
Tác giả: Quốc vụ viện nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa
Nhà XB: Trung Quốc
Năm: 1986
36. Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (2010), Giáo trình chính sách kinh tế, NXB Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chính sách kinh tế
Tác giả: Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Nhà XB: NXB Khoa học và kỹ thuật
Năm: 2010
37. Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (2011), Giáo trình thương mại quốc tế, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình thương mại quốc tế
Tác giả: Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Nhà XB: NXB Đại học Kinh tế Quốc dân
Năm: 2011
38. Tổng cục Thuế (2011), Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011 – 2015, NXB Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011 – 2015
Tác giả: Tổng cục Thuế
Nhà XB: NXB Tài chính
Năm: 2011
39. Tổng cục Thuế (2009) – Đề án triển khai chính sách Thuế thu nhập cá nhân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án triển khai chính sách Thuế thu nhập cá nhân
Tác giả: Tổng cục Thuế
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2009
9. Bộ Tài chính (2009), Thông tư số 62/2009/TT-BTC ngày 27/03/2009 của Bộ Tài chính hướng dẫn sửa đổi, bổ sung Thông tư số 84/2008/TT-BTC ngày 30/9/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế TNCN và hướng dẫn thi hành Nghị định số 100/2008/NĐ-CP ngày 08/9/2008 quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế TNCN, Hà Nội Khác
10. Bộ Tài chính (2009), Thông tư số 160/2009/TT-BTC ngày 12/8/2009 của Bộ Tài chính hướng dẫn miễn thuế TNCN năm 2009 theo Nghị quyết số 32/2009/QH12 ngày 19/06/2009 của Quốc hội về việc điều chỉnh mục tiêu tổng quát, một số chỉ tiêu kinh tế, Ngân sách Nhà nước, phát hành bổ sung trái phiếu Chính phủ năm 2009 và miễn, giảm thuế TNCN, Hà Nội Khác
11. Bộ Tài chính (2009), Thông tư số 161/2009/TT-BTC ngày 12/08/2009 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế TNCN đối với một số trường hợp chuyển nhượng, nhận thừa kế, nhận quà tặng là bất động sản, Hà Nội Khác

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w