1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo " Thẩm quyền áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời của toà án hành chính " pdf

8 639 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 158,47 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở đây, có hai câu trả lời không đồng nhất với nhau: Câu trả lời thứ nhất là các quy tắc này mặc dù không phải do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nhưng nó lại được nhà nước xá

Trang 1

TS NguyÔn Quèc Hoµn * rong hệ thống các khái niệm của lí luận

về pháp luật, quy phạm pháp luật

(QPPL) là khái niệm có ý nghĩa rất lớn cả về

mặt lí luận và thực tiễn Thông qua khái

niệm này, chúng ta có thể tìm hiểu cụ thể

hơn về pháp luật với các khái niệm khác như

giả định, quy định chế tài Cũng nhờ có lí

thuyết về QPPL mà trong thực tiễn hoạt

động xây dựng pháp luật, các chủ thể có

thẩm quyền mới có thể xác định được hình

thức thể hiện các QPPL với tư cách là sự

biểu đạt cụ thể ý chí của nhà nước trong các

văn bản QPPL

Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của hệ

thống lí luận về pháp luật, những quan điểm

lí luận về QPPL đã bộc lộ nhiều bất cập, đòi

hỏi phải có sự nghiên cứu một cách đầy đủ và

toàn diện hơn Bài viết này nhằm chia sẻ với

các nhà luật học đặc biệt là các nhà nghiên

cứu lí luận về pháp luật một số vấn đề trong

lí thuyết về QPPL

1 Về khái niệm quy phạm pháp luật

Hiện nay, nhiều nhà luật học cho rằng

QPPL là quy tắc xử sự (hoặc quy tắc hành vi)

mang tính bắt buộc chung được nhà nước đặt

ra hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện và để

điều chỉnh các quan hệ xã hội

Định nghĩa này đã phản ánh được những

đặc trưng rất cơ bản của QPPL với tư cách là

tế bào của hệ thống pháp luật Đó là khuôn

mẫu cho xử sự của con người và mang tính

quyền lực nhà nước Tuy nhiên, khi đặt khái

niệm này trong mối quan hệ với khái niệm pháp luật cũng như sự tồn tại của các QPPL trên thực tế thì có một số vấn đề cần phải được nghiên cứu và làm sáng tỏ hơn

Thứ nhất là tính bắt buộc chung trong khái niệm QPPL Việc nhấn mạnh tính bắt buộc chung trong khái niệm QPPL một mặt nhằm thể hiện sức mạnh vốn có của pháp luật với tư cách là công cụ điều chỉnh quan hệ xã hội có thể tác động vào các quan hệ xã hội Mặt khác, việc nhấn mạnh tính chất này của QPPL còn thể hiện khả năng tác động của pháp luật đối với các quan hệ xã hội trong phạm vi nhất định Tuy nhiên, nếu cho rằng

“tính bắt buộc chung được hiểu là bắt buộc đối với tất cả những ai nằm trong điều kiện

mà QPPL đã quy định” hoặc “mọi tổ chức, cá nhân ở vào những hoàn cảnh, điều kiện mà QPPL đã quy định đều bắt buộc phải thực hiện nó” thì dường như chưa thực sự khái quát và toàn diện Thực tế tồn tại của các QPPL cho thấy không phải mọi QPPL đều bắt buộc các chủ thể phải thực hiện Có rất nhiều QPPL mà nội dung của nó không buộc chủ thể phải thực hiện, chẳng hạn như các

QPPL cho phép Ví dụ: "Trong thời hạn bảo

hành nếu bên mua phát hiện được khuyết tật của vật mua bán, thì có quyền yêu cầu bên bán sửa chữa không phải trả tiền, giảm giá,

T

* Giảng viên Khoa hành chính - nhà nước Trường đại học luật Hà Nội

Trang 2

đổi vật có khuyết tật lấy vật khác hoặc trả lại

vật và lấy lại tiền" (Điều 439 Bộ luật dân

sự) Quy định này không bắt buộc chủ thể

phải thực hiện

Mặt khác, việc khẳng định là tất cả các cá

nhân, tổ chức khi ở vào điều kiện và hoàn

cảnh mà QPPL xác định đều thực hiện QPPL

cũng cần phải được xem xét kĩ hơn xuất phát

từ lí thuyết về hiệu lực của văn bản QPPL và

thực tế trình bày các QPPL trong các văn bản

QPPL Khi nghiên cứu về các văn bản QPPL

và các QPPL, chúng ta thấy rằng các văn bản

QPPL và các QPPL không tác động đến tất

cả mọi cá nhân và tổ chức bởi nó điều chỉnh

các quan hệ xã hội khác nhau vì thế có cơ cấu

loại chủ thể khác nhau Mỗi văn bản QPPL

cũng như mỗi QPPL đều có đối tượng tác

động nhất định mà chính văn bản QPPL hoặc

QPPL xác định Do đó, chỉ những chủ thể

nào được QPPL hoặc văn bản chứa đựng

QPPL đó xác định thì mới xử sự theo cách

thức đã được QPPL quy định khi những chủ

thể đó ở vào những điều kiện và hoàn cảnh

được QPPL xác định

Thứ hai là việc khẳng định tính quyền lực

nhà nước của QPPL Một trong những đặc

trưng rất cơ bản của pháp luật nói chung

cũng như của QPPL nói riêng là tính quyền

lực nhà nước Tính quyền lực đó được thể

hiện ở chỗ pháp luật do nhà nước đặt ra hoặc

thừa nhận và được nhà nước đảm bảo thực

hiện Đặc trưng này thể hiện sự khác biệt cơ

bản giữa QPPL và các quy phạm xã hội khác

Khi phân tích và làm sáng tỏ nội dung

"nhà nước đảm bảo thực hiện", có quan điểm

khẳng định rằng QPPL được đảm bảo thực

hiện bằng sự cưỡng chế của nhà nước hay

các QPPL được đảm bảo bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước Tuy nhiên, khi nghiên cứu pháp luật nói chung cũng như hệ thống các biện pháp đảm bảo cho pháp luật được thực hiện chúng ta thấy rằng các biện pháp cưỡng chế của nhà nước không phải là những biện pháp duy nhất Bên cạnh các biện pháp cưỡng chế nhà nước như các chế tài để

áp dụng đối với chủ thể vi phạm pháp luật, nhà nước còn sử dụng các biện pháp khác nhằm động viên, khuyến khích mọi người thực hiện pháp luật như các biện pháp khen thưởng

Vì vậy, nếu chỉ dừng lại ở khẳng định về sự đảm bảo thực hiện QPPL bằng các biện pháp cưỡng chế của nhà nước chưa toàn diện và sẽ dẫn đến bất cập trong lí thuyết về cơ cấu của QPPL Mặc khác, việc khẳng định như vậy

có thể dẫn đến việc thu hẹp nội dung chức năng giáo dục của pháp luật

Thứ ba là vấn đề thừa nhận các quy tắc

xử sự Hầu như chưa có công trình nào giải quyết một cách thấu đáo vấn đề thừa nhận các quy tắc xử sự để chúng trở thành các QPPL Khi đặt ra vấn đề thừa nhận các quy tắc xử sự chúng ta cần phải trả lời được câu hỏi: Nhà nước thừa nhận các quy tắc xử sự dưới những hình thức nào? Nếu trả lời được câu hỏi này thì mới có thể xác định được các QPPL được thừa nhận tồn tại trên thực tế như thế nào

Có quan điểm cho rằng việc thừa nhận một quy tắc xử sự nào đó cần phải được tuyên bố một cách chính thức của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong một văn bản QPPL Ở quan điểm này cũng còn có những

ý kiến khác nhau về hình thức tuyên bố thừa nhận quy tắc xử sự Đó là dưới hình thức xác

Trang 3

định một nguyên tắc chung, chẳng hạn Điều

14 Bộ Luật dân sự quy định: “Trong trường

hợp pháp luật không có quy định và các bên

không có thỏa thuận thì có thể áp dụng tập

quán hoặc quy định tương tự của pháp luật,

nhưng không trái với những nguyên tắc quy

định trong Bộ luật này” hay là phải xác định

đối với từng trường hợp cụ thể như tập quán

về việc xác định dân tộc (Điều 30 Bộ luật dân

sự); tập quán về họ của trẻ sơ sinh (Điều 55

Bộ luật dân sự); tập quán về bồi thường thiệt

hại trong trường hợp súc vật thả rông theo tập

quán gây ra (Điều 629 Bộ luật dân sự)

Cũng có quan điểm cho rằng việc thừa

nhận quy tắc xử sự nào đó có thể là sự tuyên

bố một cách chính thức trong một văn bản

QPPL hoặc chỉ thông qua việc cơ quan có

thẩm quyền áp dụng quy tắc nào đó khi giải

quyết vụ việc cụ thể thì quy tắc đó được coi

là đã được thừa nhận Rõ ràng, đây là vấn đề

rất phức tạp cần được làm sáng tỏ Vấn đề

còn rắc rối hơn rất nhiều khi chúng ta nghiên

cứu các quy tắc được hình thành trong quá

trình giải quyết các vụ việc cụ thể ở các nước

thuộc hệ thống pháp luật Common law

Với cách đặt vấn đề như vậy thì câu hỏi

khác được đặt ra xuất phát từ nội dung này là

những quy tắc xử sự không phải do nhà nước

ban hành nhưng nhà nước xác định nghĩa vụ

của các chủ thể phải thực hiện các quy tắc xử

sự đó hoặc nhà nước đảm bảo việc thực hiện

các quy tắc xử sự đó thì chúng có phải là

QPPL hay không? Ở đây, có hai câu trả lời

không đồng nhất với nhau:

Câu trả lời thứ nhất là các quy tắc này

mặc dù không phải do các cơ quan nhà nước

có thẩm quyền ban hành nhưng nó lại được

nhà nước xác định nghĩa vụ của chủ thể pháp luật phải tuân thủ quy tắc đó và trong những trường hợp cần thiết nhà nước cũng xác định biện pháp chế tài đối với chủ thể vi phạm các quy tắc xử sự này, vì vậy phải coi đó như là hình thức thừa nhận của nhà nước đối với quy tắc xử sự Do đó, các quy tắc này phải

được coi là QPPL Ví dụ, khoản 6 Điều 6

Pháp lệnh cán bộ, công chức quy định nghĩa

vụ của cán bộ công chức: “Có ý thức tổ chức

kỉ luật và trách nhiệm trong công tác; thực hiện nghiêm chỉnh nội quy của cơ quan, tổ chức ” Quy định này xác định nghĩa vụ phải thực hiện nội quy cơ quan của cán bộ, công chức, vì vậy với cách lí giải nêu trên thì nội quy đó đã được nhà nước thừa nhận Nếu một cán bộ, công chức không thực hiện nội quy của cơ quan mình thì hành vi đó được coi là vi phạm pháp luật, căn cứ pháp lí để xác định tính trái pháp luật của hành vi này chính là các điều khoản trong nội quy của cơ quan vì các quy tắc trong nội quy đó là QPPL Câu trả lời thứ hai là cần phải lưu ý việc đưa ra các biện pháp đảm bảo thực hiện cho các quy tắc này không phải là sự thừa nhận các quy tắc đó là các QPPL mà các quy phạm xác định nghĩa vụ tuân thủ các quy tắc xử sự

đó mới là các QPPL, vì thế nếu chủ thể nào

đó vi phạm các quy tắc này bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế của nhà nước là do họ

vi phạm QPPL xác định nghĩa vụ phải thực hiện đúng và đầy đủ các quy tắc mà không phải do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đặt ra Với cách lí giải này, nếu công chức không thực hiện đúng nội quy của cơ quan, bị

xử lí kỉ luật thì căn cứ pháp lí để xác định hành vi vi phạm pháp luật của công chức này

Trang 4

chính là khoản 6 Điều 6 Pháp lệnh cán bộ,

công chức nêu trên vì họ đã không thực

hiện đúng nghĩa vụ của mình mà pháp luật

quy định Căn cứ pháp lí để xác định tính

trái pháp luật của hành vi này không phải là

các điều khoản trong nội quy của cơ quan

bởi vì quy phạm trong nội quy đó không

phải là QPPL

2 Về cơ cấu của quy phạm pháp luật

Hiện nay, phần lớn các nhà luật học xác

định ba bộ phận của các QPPL là giả định,

quy định và chế tài Trong đó, bộ phận giả

định nêu lên hoàn cảnh, điều kiện khi chủ thể

ở vào điều kiện, hoàn cảnh đó thì xử sự theo

cách thức được xác định trong phần quy

định; bộ phận quy định nêu lên cách xử sự

của chủ thể khi ở vào điều kiện và hoàn cảnh

được nêu trong phần quy định còn bộ phận

chế tài xác định biện pháp áp dụng đối với

chủ thể vi phạm pháp luật tức là không thực

hiện đúng yêu cầu được nêu trong phần quy

định Việc xác định các bộ phận của QPPL

như vậy cho phép chúng ta nghiên cứu được

từng nội dung cụ thể trong khái niệm của quy

phạm phạm pháp luật và nó là cơ sở để

nghiên cứu kĩ hơn về pháp luật với các khái

niệm như giả định, quy định, chế tài

Tuy nhiên, chúng ta thấy ngoài các chế

tài, nhà làm luật còn đưa ra những biện pháp

khen thưởng đối với chủ thể thực hiện tốt các

quyền và nghĩa vụ của mình Như đã phân

tích ở trên thì những biện pháp này cũng là

những biện pháp để đảm bảo cho pháp luật

được thực hiện Ví dụ: Điều 38 Pháp lệnh cán

bộ, công chức quy định: “Cán bộ, công chức

quy định tại các điểm 2,3,4 và 5 Điều 1 Pháp

lệnh này lập thành tích xuất sắc trong việc

thực hiện nhiệm vụ, công vụ thì được xét nâng ngạch, nâng bậc lương trước thời hạn theo quy định của chính phủ” Nếu theo logic nêu trên thì phần xác định các biện pháp khen thưởng không thể thuộc vào phần chế tài và cũng không thể thuộc vào phần quy định của QPPL

Một số tác giả khác cho rằng QPPL bao gồm hai bộ phận là những điều kiện tác động của QPPL - phần giả định và các hậu quả pháp lí - có thể là phần quy định và có thể là phần chế tài Quan điểm này giải quyết được vấn đề về cấu trúc "cơ học" của QPPL và dễ dàng xác định được các bộ phận của một QPPL trong một điều luật Mặt khác, việc cho rằng QPPL có hai bộ phận như vậy thuận lợi cho việc phân chia hệ thống QPPL thành các ngành luật theo lí thuyết về hệ thống pháp luật truyền thống Trong đó mỗi ngành luật là một hệ thống các QPPL với đầy đủ các thành phần cấu trúc của nó Tuy nhiên, ngay trong quan niệm về cấu trúc của QPPL như vậy thì cũng chưa thể hiện được nội dung phần khen thưởng thuộc bộ phận nào trong QPPL Mặt khác, việc cho rằng cơ cấu của QPPL có hai bộ phận thì đối với QPPL chỉ bao gồm phần giả định và phần chế tài lại không phù hợp với nội dung của khái niệm QPPL Nội dung chính của QPPL là quy tắc

xử sự hay cách xử sự mẫu của các chủ thể chứ không phải là biện pháp để áp dụng đối với chủ thể vi phạm pháp luật Nếu chúng ta hiểu quy tắc xử sự là khuôn mẫu cho hành vi của con người gắn liền với những điều kiện

và hoàn cảnh nhất định thì một điều luật nào

đó chỉ nêu lên phần chế tài để áp dụng đối với chủ thể vi phạm pháp luật mà coi đó là

Trang 5

QPPL thì dường như chưa thực sự phù hợp

với quan niệm về QPPL là “quy tắc xử sự”

Nếu cho rằng với cơ cấu giả định - chế tài

thì quy phạm này là quy tắc cho hoạt động

áp dụng pháp luật của cơ quan có thẩm

quyền thì không đảm bảo tính lôgíc của các

bộ phận trong QPPL bởi vì quy tắc đó phải

được đặt ra cho chủ thể được nêu trong phần

giả định của nó

Hơn nữa, ngay cả khi cho rằng nó là quy

tắc xử sự của chủ thể được nêu lên trong

phần giả định của QPPL, nếu nghiên cứu một

cách thấu đáo chúng ta có thể thấy nhiều biện

pháp chế tài pháp luật quy định khi chủ thể vi

phạm pháp luật phải gánh chịu nhưng đó

không phải là hành vi hay cách xử sự mà chủ

thể vi phạm phải thực hiện Ví dụ, các hình

phạt như cảnh cáo, tước một số quyền công

dân trong lĩnh vực pháp luật hình sự hay cảnh

cáo, pháp luật hành chính hoặc khiển trách,

cảnh cáo trong lĩnh vực pháp luật lao động

3 Về phân loại quy phạm pháp luật

Việc phân loại QPPL có ý nghĩa rất lớn

đối với việc nghiên cứu và làm sáng tỏ các

khái niệm khác trong lí luận về pháp luật như

ngành luật, chế định pháp luật Trong các

công trình khoa học ở nước ta hiện nay, các

tác giả cũng đã xác định những tiêu chí nhất

định để phân loại các QPPL Dựa vào các

tiêu chí đó, các QPPL đã được phân chia

thành các loại khác nhau Các cách phân loại

hiện nay phần nào đã giải quyết được những

vấn đề cơ bản khi nghiên cứu từng loại

QPPL cụ thể phù hợp với những vấn đề lí

luận về hệ thống pháp luật, ngành luật và

chế định pháp luật Tuy nhiên, khi đặt những

tiêu chí phân loại đó trong mối quan hệ với

khái niệm và cấu trúc của QPPL thì có nhiều vấn đề cần phải được nghiên cứu một cách toàn diện hơn

Thứ nhất là xem xét việc phân loại QPPL trong mối quan hệ với khái niệm QPPL Trong các tài liệu về vấn đề này, nhiều nhà luật học đã xác định một loại QPPL được gọi

là quy phạm định nghĩa hay quy phạm quy định khái niệm pháp lí Các tác giả này đều cho rằng QPPL định nghĩa hay quy định khái niệm là “quy phạm quy định khái niệm pháp

lí nào đó ví dụ như Điều 8 Bộ luật hình sự” Nếu chúng ta quay trở lại khái niệm về QPPL

là "quy tắc xử sự" thì những điều luật nêu lên một khái niệm pháp lí không phải là QPPL bởi vì trong đó nó không chứa đựng bất kì một quy tắc xử sự nào và vì thế không thể coi các điều luật này là một QPPL Mặc khác, chúng ta cũng không thể xác định cơ cấu giả định, quy định và chế tài của QPPL trong nội dung của quy phạm định nghĩa nêu trên như

lí thuyết về cấu trúc của QPPL Với cách lập luận như vậy, thì dường như nhận định không phải tất cả các điều luật trong một văn bản QPPL đều chứa đựng các bộ phận của QPPL

là có cơ sở Bởi vì, có những điều luật trong một văn bản QPPL không phải là QPPL cũng như không phải là một bộ phận nào của QPPL Các điều luật nên lên một khái niệm pháp lí hoặc giải thích một thuật ngữ nào đó trong các văn bản QPPL là những ví dụ điển hình của các trường hợp như vậy

Tương tự như vậy, cần phải nghiên cứu một cách cụ thể hơn đối với việc xác định loại “quy phạm bảo vệ” - có nội dung xác định các biện pháp cưỡng chế nhà nước liên quan đến trách nhiệm pháp lí hoặc xác định

Trang 6

biện pháp cưỡng chế nhà nước đối với hành

vi vi phạm pháp luật Nếu trong điều luật chỉ

xác định hành vi vi phạm pháp luật và biện

pháp chế tài áp dụng đối với chủ thể thực

hiện hành vi đó (ví dụ: Các điều luật trong

phần các tội phạm cụ thể của Bộ luật hình sự)

thì chúng ta cũng sẽ thấy rằng điều đó không

hoàn toàn phù hợp với quan niệm về cấu trúc

của QPPL cũng như là nó không hoàn toàn

phù hợp với quan niệm QPPL là “quy tắc xử

sự” như đã được phân tích ở trên Mặt khác,

nếu cho rằng đối với các điều luật đưa ra biện

pháp chế tài đối với chủ thể vi phạm, nhờ vào

việc quy định biện pháp chế tài, nhà làm luật

đã đưa ra phần quy định của QPPL (một số

tác giả gọi là quy định “ẩn”) thì cũng không

hoàn toàn thuyết phục vì: Thứ nhất, bản thân

nhà làm luật đặt ra điều luật chỉ với phần giả

định và chế tài là chỉ nhằm vào việc xác định

các điều kiện cụ thể cho việc áp dụng chế tài

đó chứ không nhằm mục đích đặt ra cách xử

sự cho chủ thể trong điều luật đó, mặc dù,

thông qua quy định này, chủ thể có thể xác

định được trong những điều kiện, hoàn cảnh

nào mình phải xử sự như thế nào Chẳng hạn,

Điều 1 Bộ luật hình sự không đặt ra quy tắc

xử sự cho người phạm tội mà nó “quy định

tội phạm và hình phạt đối với người phạm

tội” Thứ hai, việc cho rằng có quy định “ẩn”

như vậy dường như cố gắng áp đặt một cách

cứng nhắc các bộ phận của một QPPL được

trình bày gắn liền với nhau trong một điều

luật Điều này lại không phù hợp với lí thuyết

về cách trình bày của QPPL Một QPPL có

thể được trình bày trong nhiều điều luật tức là

các bộ phận của QPPL nằm trong các điều

luật khác nhau của cùng một văn bản hoặc ở

các văn bản khác nhau Trong thực tế, chúng

ta có thể tìm thấy các bộ phận của một QPPL trong các điều luật khác nhau tức là bộ phận

“ẩn” của QPPL được thể hiện một cách rõ ràng trong điều luật khác Nói một cách khái quát, việc cho rằng có bộ phận quy định “ẩn”

trong một số QPPL chỉ là việc cố gắng tìm kiếm đầy đủ các bộ phận của QPPL trong một điều luật mà thôi Vì vậy, việc cho rằng điều luật xác định biện pháp chế tài đối với chủ thể khi họ vi phạm pháp luật là một QPPL độc lập chỉ chứa đựng bộ phận chế tài

và giả định cho phần chế tài của một QPPL

nào đó thì chưa hoàn toàn thuyết phục, ví

dụ: Khoản 1 Điều 102 Bộ luật hình sự quy

định: “Người thấy người khác đang ở trong

tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, tuy có khả năng cứu giúp mà không cứu giúp dẫn

đến hậu quả người đó chết, thì bị phạt cảnh

cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc bị phạt tù từ hai tháng đến hai năm”, còn phần quy định và giả định cho phần quy định của QPPL này lại nằm trong điều luật khác, khoản 3 Điều 32 Bộ luật dân sự quy

định: “Khi một người bị tai nạn, bệnh tật

mà tính mạng bị đe doạ, thì người phát hiện

có trách nhiệm đưa đến cơ sở y tế; các cơ

sở y tế của nhà nước, tập thể và tư nhân không được từ chối việc cứu chữa mà phải tận dụng mọi phương tiện, khả năng hiện

có để cứu chữa” Nội dung thứ hai liên quan đến việc phân loại QPPL cần phải được giải quyết là mối quan hệ giữa lí thuyết phân loại QPPL với lí thuyết về cơ cấu của QPPL Một trong những căn cứ để phân loại QPPL là dựa vào đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh

Trang 7

của pháp luật, các QPPL được phân chia

thành các loại tương ứng với các ngành luật

Tuy nhiên, nếu cho rằng mỗi ngành luật là

một hệ thống QPPL có đối tượng điều chỉnh

riêng thì dường như mất đi mối liên hệ giữa

các QPPL của các ngành luật khác nhau Ví

dụ cụ thể sau đây là sự minh hoạ cho nhận

định này:

Khoản 2 Điều 4 Luật hôn nhân và gia

đình năm 2000 quy định: “Nghiêm cấm việc

tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, cản trở hôn nhân

tự nguyện tiến bộ; cấm kết hôn giả tạo, lừa

dối để kết hôn, li hôn; cấm cưỡng ép li hôn, li

hôn giả tạo, cấm yêu sách của cải trong việc

cưới hỏi” và Điều 146 Bộ luật hình sự quy

định: “Người nào cưỡng ép người khác kết

hôn trái với sự tự nguyện của họ, cản trở hôn

nhân tự nguyện tiến bộ bằng cách hành hạ

ngược đãi, uy hiếp tinh thần, yêu sách của

cải hoặc bằng thủ đoạn khác đã bị xử phạt vi

phạm hành chính về hành vi này mà còn vi

phạm, thì vị phạt cảnh cáo, cải tạo không

giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba

tháng đến ba năm” Nếu theo quan điểm về

sự phân chia ngành luật nêu trên thì hai điều

luật này chứa đựng hai QPPL của hai ngành

luật khác nhau, còn nếu nghiên cứu về cấu

trúc của QPPL và cách thức trình bày các

QPPL thì hai điều luật này chỉ là các phần

khác nhau của một QPPL được trình bày ở

hai điều luật khác nhau của hai văn bản

QPPL khác nhau

Khi nghiên cứu mối quan hệ giữa việc

phân loại QPPL và cơ cấu của QPPL chúng

ta cũng có thể thấy được sự không nhất quán

ở một khía cạnh khác, đó là vấn đề cơ cấu

của loại QPPL bảo vệ Nếu cho rằng QPPL là

quy tắc xử sự và trong đó với cơ cấu bao gồm phận giả định, quy định và chế tài và phần chế tài nêu lên biện pháp nhà nước tác động đối với chủ thể vi phạm pháp luật thì có nên tách phần chế tài của QPPL riêng thành một QPPL được gọi là QPPL bảo vệ có nội dung xác định các biện pháp cưỡng chế nhà nước liên quan đến trách nhiệm pháp lí hay không Cũng lấy hai điều luật nêu trên làm ví dụ, nếu chúng ta cho rằng có hai loại QPPL điều chỉnh và QPPL bảo vệ thì hai điều luật trên là hai QPPL độc lập với nhau còn nếu xuất phát

từ cơ cấu logic của QPPL như đã phân tích ở trên thì chỉ có một QPPL với bao gồm hai điều luật đó gộp lại

Như vậy, xét tất cả các khía cạnh từ khái niệm QPPL đến lí thuyết về cấu trúc của QPPL và phân loại QPPL, chúng ta đều thấy việc khẳng định có loại QPPL bảo vệ chưa có đầy đủ cơ sở và điều đó có thể làm mất đi tính thống nhất trong toàn bộ các vấn đề lí luận về QPPL

Tuy nhiên, nếu thừa nhận tính hợp lí của cách phân tích trên thì sẽ gặp phải vấn đề rắc rối khi nghiên cứu và xây dựng lí thuyết về các ngành luật Trong nhiều trường hợp thì các phần khác nhau của một QPPL lại thuộc các ngành luật khác nhau Ví dụ nêu trên là

sự minh hoạ của sự phân tích này, tức là QPPL này sẽ bao gồm hai bộ phận mà mỗi

bộ phận đó lại là QPPL của hai ngành luật khác nhau theo quan niệm truyền thống Với cách nhìn nhận như vậy thì việc định nghĩa ngành luật là một hệ thống QPPL điều chỉnh các quan hệ xã hội cùng loại trong một lĩnh vực nhất định của đời sống xã hội cần phải được nghiên cứu để làm sáng tỏ hơn Vả lại,

Trang 8

mỗi QPPL khụng phải là điều chỉnh một

quan hệ xó hội mà mỗi quan hệ xó hội được

điều chỉnh bởi nhiều QPPL khỏc nhau

Vấn đề thứ ba liờn quan đến việc phõn

loại QPPL là căn cứ phõn loại và cỏc loại

QPPL Với cỏc căn cứ được đưa ra trong việc

phõn chia QPPL thành cỏc loại khỏc nhau, dự

dựa vào bất kỡ tiờu chớ nào thỡ một QPPL cụ

thể cũng đều cú thể xếp được vào một loại

nhất định Cỏc tiờu chớ để phõn loại được

trỡnh bày trong cỏc tài liệu liờn quan chưa đỏp

ứng được yờu cầu như vậy Điều 146 BLHS

là vớ dụ cụ thể để minh hoạ cho nhận định

này Nếu căn cứ vào vai trũ trong việc điều

chỉnh cỏc quan hệ xó hội hoặc căn cứ vào nội

dung của QPPL thỡ quy phạm trong Điều 146

nờu là QPPL bảo vệ Tuy nhiờn, nếu căn cứ

vào cỏch trỡnh bày QPPL hoặc dựa vào phạm

vi và khối lượng của sự tỏc động thỡ QPPL ở

điều luật này khụng thuộc vào loại QPPL nào

cả bởi vỡ nú khụng điều chỉnh một loại cỏc

quan hệ xó hội (quy phạm chung), khụng

điều chỉnh một dạng thuộc một loại quan hệ

xó hội (quy phạm chuyờn biệt), cũng khụng đưa ra một ngoại lệ nào của phỏp luật (quy phạm đặc biệt), bởi vỡ quy phạm này được đặt ra khụng phải để điều chỉnh quan hệ xó hội mà được đặt ra để “bảo vệ” cỏc quan hệ

xó hội

Túm lại, những vấn đề lớ luận về QPPL

cú ý nghĩa rất lớn đối với việc xõy dựng cỏc khỏi niệm trong hệ thống khoa học phỏp lớ núi chung Việc phõn tớch những bất cập trong lớ thuyết hiện hành về QPPL cho phộp

mở ra một hướng nghiờn cứu đối với cỏc vấn

đề lớ luận về phỏp luật núi chung và QPPL núi riờng Kết quả của những nghiờn cứu này

sẽ cú ý nghĩa rất lớn đối với việc hoàn thiện cỏc khỏi niệm khỏc trong lớ luận về phỏp luật như ngành luật, chế định phỏp luật, cơ chế điều chỉnh phỏp luật Tất nhiờn, việc xõy dựng và hoàn thiện quan điểm lớ luận về QPPL cú thể sẽ dẫn đến việc xem xột những vấn đề nảy sinh trong quan niệm truyền thống về cỏc phạm trự khỏc của phỏp luật./

Cơ sở của luật lao động

(Tiếp theo trang 59)

Việc tham gia cỏc cụng ước quốc tế một

mặt tạo cho Việt Nam chỗ đứng trong hệ

thống cỏc chủ thể của luật phỏp quốc tế, mặt

khỏc, giỳp Việt Nam cú điều kiện tăng cường

giao lưu, hợp tỏc, học tập kinh nghiệm quý

bỏu về mọi mặt, trong đú cú lĩnh vực lao động

và phỏp lớ quốc tế Hơn nữa, Việt Nam mong

muốn và tỏ quyết tõm sẵn sàng chuyển đổi hệ

thống phỏp luật lao động núi riờng và hệ thống

phỏp luật núi chung theo xu hướng hội nhập

phỏp lớ để hội nhập kinh tế

Trờn cơ sở việc kớ kết, tham gia cỏc điều ước quốc tế về lao động, Việt Nam cú trỏch nhiệm chuyển hoỏ cỏc quy định đú vào hệ thống phỏp luật lao động quốc gia hoặc sử dụng vào việc điều chỉnh cỏc quan hệ lao động xó hội theo hướng ưu tiờn ỏp dụng trong trường hợp chưa cú sự chuyển hoỏ Nếu nhỡn nhận một cỏch bỡnh thường cũng cú thể dễ dàng nhận thấy cỏc quy định của luật lao động Việt Nam cú chiều hướng tiếp cận khỏ gần gũi với cỏc quy định của UNO và ILO Điều này chứng tỏ mối quan hệ cú tớnh hữu cơ giữa luật

lao động Việt Nam và phỏp luật quốc tế./

Ngày đăng: 31/03/2014, 12:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w