1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo "Hội nhập kinh tế quốc tế và vai trò của luật pháp lao động về học nghề trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam " docx

7 385 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 143,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc đa dạng hoá các loại hình cơ sở dạy nghề sẽ mở ra nhiều khả năng đáp ứng nhu cầu đa dạng của người học trong nền kinh tế thị trường: Dạy các nghề phổ thông để giải quyết việc làm ch

Trang 1

TS §µo ThÞ H»ng *

1 Hội nhập kinh tế quốc tế có thể hiểu

theo các nghĩa rộng hẹp khác nhau và được

các nhà nghiên cứu đưa ra những quan niệm

chưa phải là đã có sự thống nhất Song thực

chất của hội nhập kinh tế quốc tế là sự phản

ánh tính quốc tế hoá của hoạt động kinh tế

quốc gia, sự tự do hoá kinh tế, trước hết là về

thương mại, đầu tư, dịch vụ Ở nhiều cấp

độ hoặc mức độ khác nhau dẫn đến có sự

đan xen, gắn bó, phụ thuộc lẫn nhau giữa thị

trường trong nước với thị trường quốc tế

Điều này được thực hiện thông qua việc

giảm thiểu các hàng rào thương mại về mọi

mặt kinh tế, kĩ thuật, hành chính và áp dụng

những biện pháp khuyến khích hỗ trợ nhằm

thúc đẩy tự do buôn bán hàng hoá giữa các

nước Xét về quy mô hay phạm vi, có hai

dạng hội nhập kinh tế quốc tế, đó là hội nhập

kinh tế khu vực và hội nhập kinh tế toàn cầu

mà mối quan hệ giữa chúng thể hiện tương

quan giữa phạm vi hẹp và phạm vi rộng của

quá trình hội nhập kinh tế quốc gia

Ngay từ cuối những năm 70, đầu những

năm 80 của thế kỉ trước nước ta đã tham gia

vào Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV) của

các nước xã hội chủ nghĩa với tư cách là

thành viên Việc tham gia này cùng với

những quan hệ song phương với nhiều nước

trên thế giới lúc bấy giờ được xem như bước

hội nhập kinh tế quốc tế đầu tiên của Việt

Nam Cùng với thời gian, nhất là trong những năm gần đây chính sách hội nhập kinh tế quốc tế đã được Việt Nam thực hiện tích cực Chẳng hạn, năm 1995 Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của ASEAN

và tham gia AFTA, thực hiện Hiệp định ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) từ

1996, theo dự kiến sẽ kết thúc vào năm 2005 (sớm hơn 1 năm so với dự định ban đầu là năm 2006); năm 1996 Việt Nam tham gia Diễn đàn hợp tác Á- Âu (ASEM) - diễn đàn liên lục địa được thiết lập nhằm thúc đẩy sự hiểu biết và quan hệ giữa các nước thành viên của hai châu lục rộng lớn Tương tự, một diễn đàn liên lục địa nữa có mục tiêu chính là tự do hoá thương mại, đầu tư và các hoạt động kinh tế cũng được Việt Nam tham gia vào năm 1998 là Diễn đàn hợp tác kinh

tế châu Á- Thái Bình Dương (APEC) Gần đây nhất, vào cuối năm 2001, Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kì đã được Quốc hội hai nước thông qua và đang được thực thi, bước đầu đã đạt được những kết quả đáng phấn khởi Đặc biệt, nhận thức được tầm quan trọng của xu thế toàn cầu hoá đang diễn ra mạnh mẽ trên thế giới và phù hợp với chủ trương muốn làm bạn với tất cả các dân tộc vì sự phát triển và tiến bộ chung,

* Trường đại học luật Hà Nội

Trang 2

cuối năm 1994 Việt Nam đã gửi đơn xin gia

nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO)

đồng thời khẩn trương có những bước chuẩn

bị tích cực để sớm được chính thức gia nhập

tổ chức thương mại rộng lớn toàn cầu này

Được gia nhập WTO, Việt Nam sẽ được tạo

cơ hội lớn nhất cho việc mở rộng thị trường,

đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu hàng

hoá Rõ ràng, chưa kể những hiệp định song

phương và đa phương khác với số lượng khá

đồ sộ, chỉ riêng những mốc lịch sử cơ bản

quan trọng nêu trên đã cho thấy tiến trình hội

nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam ngày

càng rộng lớn về quy mô, sâu sắc về mức độ

Quan hệ với ASEAN, APEC, WTO thể hiện

những phạm vi hội nhập kinh tế quốc tế khác

nhau, trong đó quan hệ với ASEAN và

APEC phản ánh hội nhập mang tính khu

vực, còn cam kết theo nguyên tắc WTO là

những cam kết mang tính toàn cầu Quá trình

đó gắn kết nền kinh tế Việt Nam ngày một

chặt chẽ vào nền kinh tế khu vực và thế giới

2 Tuy nhiên, đối với mỗi quốc gia nói

chung và Việt Nam nói riêng, hội nhập kinh

tế quốc tế đều có tác động hai mặt tích cực

và tiêu cực

Những cơ hội mà Việt Nam có thể nhận

được và thách thức có thể phải đương đầu

gắn liền trực tiếp với các cam kết quốc tế mà

Việt Nam đã kí kết Dù với những mức độ,

phạm vi rộng hẹp hoặc thời gian thực hiện

có thể khác nhau nhưng mục tiêu cuối cùng

của các cam kết quốc tế là nhằm tạo điều

kiện thuận lợi để các hàng hoá, dịch vụ lưu

chuyển một cách tự do trên thị trường rộng

mở của các quốc gia thành viên Biện pháp

thực hiện để đạt được mục tiêu này thường

là việc giảm bớt và tiến tới xoá bỏ các hàng

rào thương mại là hàng rào thuế quan và phi quan thuế Điều này sẽ dẫn đến việc đồng nhất hoá thị trường Việt Nam và thị trường các nước khác tạo việc mở rộng thị trường hàng hoá và dịch vụ, tăng năng lực hoạt động của các doanh nghiệp Đây chính là một trong những cơ hội lớn nhất của Việt Nam nói riêng cũng như của các quốc gia nói chung khi tiến hành hội nhập kinh tế Chẳng hạn, việc tham gia AFTA và thực hiện chương trình CEPT cho phép các doanh nghiệp Việt Nam có thể hoạt động trong thị trường rộng lớn có gần 500 triệu dân với mức thuế suất cao nhất là 5%; hàng hoá, dịch vụ của Việt Nam sẽ dễ dàng thâm nhập vào thị trường các nước láng giềng có khoảng cách vận chuyển không xa và có yêu cầu đòi hỏi về chất lượng cũng không phải quá cao này Nhiều ngành hàng, ngành sản xuất, dịch vụ mới có khả năng được mở ra hoặc mở rộng năng lực hoạt động của các doanh nghiệp hiện có nhằm tận dụng thị trường rộng mở Nguồn lao động nhàn rỗi trong thị trường có cơ hội được thu hút để sử dụng Tuy nhiên, bên cạnh những cơ hội lớn lao, hội nhập kinh tế cũng đưa lại những thách thức không nhỏ đối với mỗi quốc gia nói chung và đối với Việt Nam nói riêng Một trong những thách thức lớn nhất là áp lực cạnh tranh đối với hàng hoá, đối với doanh nghiệp Việt Nam Khi phạm vi hoạt động của doanh nghiệp cũng như thị trường xuất khẩu trở nên rộng lớn, các rào chắn của Việt Nam dỡ bỏ càng nhiều thì hàng hoá, doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải cạnh tranh không chỉ với các hàng hoá, doanh nghiệp trong nước mà còn phải đương đầu với các hàng hoá, doanh nghiệp của nhiều nước

Trang 3

khác, thậm chí với các công ti hàng đầu quốc

tế có ưu thế vượt trội về mọi mặt Áp lực này

càng lớn, càng nặng nề khi phạm vi hội nhập

của quốc gia càng rộng mở, thời gian thực

hiện các cam kết càng ngắn và đặc biệt khi

năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp

Việt Nam nhìn chung còn ở mức rất thấp

3 Năng lực cạnh tranh của một doanh

nghiệp thể hiện ở khả năng giữ vững hoặc

tăng thị phần của mình một cách vững chắc

bằng việc hạ giá thành hoặc cung cấp sản

phẩm, dịch vụ bền, đẹp, rẻ, chất lượng cao

của doanh nghiệp Năng lực cạnh tranh của

doanh nghiệp được đảm bảo và nâng cao sẽ

giúp doanh nghiệp đứng vững và phát triển

trong cuộc đọ sức khắc nghiệt với các doanh

nghiệp (của các quốc gia) khác, cũng có

nghĩa công ăn việc làm của người lao động

được đảm bảo và tăng cường Trong trường

hợp ngược lại (doanh nghiệp không đủ sức

cạnh tranh), việc thu hẹp hoạt động hoặc

hoặc thậm chí sự phá sản doanh nghiệp là

điều khó tránh khỏi mà liên đới chịu thiệt hại

còn trực tiếp là những người lao động vì mất

công ăn việc làm Nói cách khác, (xét ở tầm

vĩ mô) việc nâng cao sức cạnh tranh của

doanh nghiệp không phải chỉ vì lợi ích riêng

của bản thân doanh nghiệp mà còn vì lợi ích

của người lao động, của quốc gia và của toàn

xã hội Vậy, đâu thực sự là năng lực cạnh

tranh của các doanh nghiệp Việt Nam?

Lao động là yếu tố đầu vào quan trọng

của quá trình sản xuất và chi phí lao động

chiếm tỉ lệ nhất định trong giá thành sản

phẩm, dịch vụ Từ trước tới nay, cùng với

các yếu tố khác như tài nguyên thiên nhiên

dồi dào, giá trị đồng tiền thấp , yếu tố lao

động rẻ đã đặc biệt được coi trọng và được

coi là thế mạnh của các doanh nghiệp Việt Nam, do cho rằng vì thế mà giá thành sản phẩm sẽ thấp Song trên thực tế, đặc biệt trong một số ngành nghề, dù tiền lương trả cho người lao động ở mức độ thấp nhưng do chất lượng lao động kém dẫn đến năng suất lao động cũng thấp và hậu quả là chi phí lao động trên một đơn vị sản phẩm vẫn cao (giá thành cao) Tại cuộc hội thảo về xây dựng năng lực cạnh tranh quốc gia do Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ chức vào đầu năm 2002, vị chủ tịch hiệp hội dệt - may Việt Nam đã cho biết, lương tuyệt đối trong ngành dệt may ở nước

ta trung bình là 25 - 40 UScent/giờ, thuộc loại thấp nhất so với lương trung bình trên thế giới là 70 UScent/giờ Tuy nhiên, do năng suất lao động của Việt Nam cũng thuộc loại thấp nhất nên tỉ trọng giá lao động trong một đơn vị sản phẩm vẫn cao Như vậy, giá nhân công rẻ không còn (không phải) là yếu

tố giúp doanh nghiệp cạnh tranh Theo một

số chuyên gia kinh tế, điều đáng lo ngại hơn

là do sự ngộ nhận coi lao động rẻ là yếu tố cạnh tranh dẫn đến sự định hướng phát triển sai lầm ở một số ngành, một số sản phẩm

Cũng tại cuộc hội thảo này, chủ tịch một công ti tư vấn nước ngoài đã nhận định: Một quốc gia lấy lao động rẻ, mức lương thấp làm yếu tố cạnh tranh thì chẳng khác nào tham gia vào cuộc chạy đua ai là người nghèo nhất và không bao giờ cải thiện được đời sống của người lao động Ngoài ra, chất lượng lao động kém cũng ảnh hưởng xấu đến chất lượng sản phẩm, làm yếu đi sức cạnh tranh của doanh nghiệp Rõ ràng vấn đề mấu chốt trong lĩnh vực lao động ở nước ta

là việc nhanh chóng nâng cao chất lượng

Trang 4

nguồn lao động cho các doanh nghiệp Việt

Nam Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) đã

xếp hạng yếu tố lao động của Việt Nam vào

thứ hạng thấp so với các nước trên thế giới

vì tỉ lệ đào tạo và chất lượng nguồn nhân lực

được đánh giá kém Một số chuyên gia kinh

tế do vậy đã khuyến cáo hãy từ bỏ tư duy coi

lao động rẻ là một lợi thế cạnh tranh mà phải

lo đào tạo tay nghề và dần nâng cao trình độ

cho nhân công để tạo ra một lợi thế cạnh

tranh mới cho các doanh nghiệp Việt Nam

Chia sẻ kinh nghiệm giúp Ireland thoát khỏi

tình trạng kém phát triển, cựu thủ tướng

Ireland cũng đã khẳng định (tại cuộc hội

thảo nói trên): "Đào tạo chính là chìa khoá

của thành công của chúng tôi” Ireland đã

tập trung cho giáo dục, đào tạo để có được

đội ngũ lao động trẻ đạt tiêu chuẩn cao hơn

các quốc gia châu Âu

Như vậy, trong lĩnh vực lao động, vấn đề

tạo ra chất lượng nguồn nhân lực giữ vai trò

then chốt trong việc nâng cao năng lực cạnh

tranh của các doanh nghiệp Việt Nam Vấn

đề này được đảm bảo thông qua hoạt động

đào tạo, dạy - học nghề Pháp luật lao động

có nhiệm vụ định ra khung pháp lí về học

nghề, đào tạo nghề phù hợp để khuyến

khích, tạo điều kiện và bảo đảm hiệu quả của

quá trình học nghề nhằm nhanh chóng tạo

nên đội ngũ những người lao động có trình

độ chuyên môn tay nghề phù hợp có thể đạt

năng suất lao động cao, sản xuất ra sản phẩm

đảm bảo chất lượng góp phần nâng cao khả

năng cạnh tranh của doanh nghiệp

4 Với 6 điều thuộc chương III, lần đầu

tiên “Học nghề” được coi là một trong các

chế định cơ bản, quan trọng nằm trong cơ

cấu chung của Bộ luật lao động (BLLĐ)

Cùng với Nghị định số 02/2001/NĐ-CP ngày 9/1/2001 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành "thay thế Nghị định số 90/CP), khung pháp lí về học nghề phù hợp với tình hình mới về cơ bản đã được thiết lập Ở đó quyền tự do lựa chọn nghề và nơi học nghề phù hợp với nhu cầu việc làm của mọi công dân được đảm bảo Chủ trương

xã hội hoá việc dạy nghề cũng đã được pháp luật thể chế hoá bằng việc quy định tính đa dạng của các loại hình tổ chức cơ sở dạy nghề, bao gồm cơ sở dạy nghề công lập, bán công, dân lập, tư thục, cơ sở dạy nghề của doanh nghiệp và hợp tác xã và cơ sở dạy nghề có vốn đầu tư nước ngoài Việc đa dạng hoá các loại hình cơ sở dạy nghề sẽ mở

ra nhiều khả năng đáp ứng nhu cầu đa dạng của người học trong nền kinh tế thị trường: Dạy các nghề phổ thông để giải quyết việc làm cho người chưa có việc làm, NLĐ bị mất việc làm; dạy nghề kết hợp với việc sử dụng người học nghề làm việc tại doanh nghiệp, hợp tác xã sau thời gian học nghề; đào tạo lại nghề để chuyển sang nghề khác trong doanh nghiệp; đào tạo nghề dự phòng cho lao động nữ; dạy nghề, bổ túc nghề cho người lao động phục vụ nhu cầu xuất khẩu lao động và chuyên gia Đương nhiên, cơ

sở dạy nghề muốn thành lập và hoạt động phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện do pháp luật quy định (về đội ngũ giáo viên, về vốn, tài sản, về đăng kí hoạt động dạy nghề ), trừ một số trường hợp nhất định không phải đăng kí hoạt động dạy nghề với cơ quan có thẩm quyền Về phía người học nghề, nhìn chung họ phải ít nhất đạt đủ 13 tuổi và phải

có đủ sức khoẻ phù hợp với yêu cầu của nghề theo học

Trang 5

Về nguyên tắc, việc học nghề phải có

hợp đồng bằng văn bản hoặc bằng miệng

(nếu thời gian học là dưới 15 ngày) giữa

người học nghề với người dạy nghề hoặc đại

diện cơ sở dạy nghề mà ở đó thể hiện các

cam kết về quyền, lợi ích, nghĩa vụ và trách

nhiệm của mỗi bên trong thời gian dạy nghề

Nội dung chủ yếu của hợp đồng bao gồm tên

nghề học, mục tiêu đào tạo, địa điểm học,

học phí phải trả, thời gian học lí thuyết và

thực hành, hướng giải quyết việc làm cho

người học nghề sau khi học xong, trách

nhiệm bồi thường thiệt hại của mỗi bên khi

vi phạm hợp đồng học nghề Riêng trường

hợp doanh nghiệp, hợp tác xã tuyển người

vào học nghề để sau đó làm việc cho doanh

nghiệp (nghĩa là doanh nghiệp dạy nghề để

sử dụng) thì không được thu học phí của

người học nghề Khi đó hợp đồng học nghề

phải bổ sung thêm nội dung về thời gian mà

người học nghề phải làm việc cho doanh

nghiệp sau khi học xong và mức tiền công

mà doanh nghiệp phải trả cho người học

nghề khi họ trực tiếp hoặc tham gia làm ra

sản phẩm Cam kết về thời gian mà người

học nghề sau khi đã học thành nghề phải làm

việc cho doanh nghiệp (có thể chỉ là một thời

hạn nhất định) nhằm tạo điều kiện cho doanh

nghiệp có thể khai thác được vốn kiến thức

chuyên môn, tay nghề của người lao động

mà mình đã bỏ chi phí để đào tạo (không thu

học phí)

Nhằm đảm bảo cho việc thực hiện hợp

đồng học nghề đã giao kết, pháp luật về học

nghề đã quy định cụ thể các quyền và nghĩa

vụ của mỗi bên khi hợp đồng bị một bên đơn

phương chấm dứt trước thời hạn Nếu người

học nghề đơn phương chấm dứt hợp đồng

trước thời hạn thì về nguyên tắc không được trả lại học phí đã nộp, trừ trường hợp người học nghề đi làm nghĩa vụ quân sự hoặc bị bệnh không đủ sức khoẻ để học tập Tương

tự, nếu cơ sở dạy nghề đơn phương chấm dứt hợp đồng trước thời hạn thì phải trả lại cho người học nghề toàn bộ số học phí đã thu, trừ trường hợp bất khả kháng Trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã tuyển người vào học nghề để làm việc cho doanh nghiệp, hợp tác xã, nếu người học nghề đơn phương chấm dứt hợp đồng trước thời hạn hoặc học xong không làm việc hay làm việc không đủ thời hạn đã cam kết trong hợp đồng học nghề thì phải bồi thường chi phí dạy nghề cho doanh nghiệp, hợp tác xã, trừ một số trường hợp nhất định

5 Có thể nhận xét rằng các quy định pháp luật về học nghề nêu trên về cơ bản đã

có những bước tiến mới song vẫn không tránh khỏi còn có những hạn chế, bất cập;

một số quy định còn có phần phiến diện, đơn giản, chưa tương xứng với vai trò quan trọng của vấn đề học nghề trong tình hình hiện nay Trước hết, chế định pháp luật về học nghề hầu như chưa tập trung điều chỉnh quá trình học nghề một cách đầy đủ, thoả đáng

Quyền và nghĩa vụ pháp lí của các chủ thể trong thời gian dạy và học nghề hầu như không được đề cập và các chế tài nhằm đảm bảo quá trình học tập vì vậy cũng không được đặt ra Điều này ít nhiều ảnh hưởng đến hiệu quả dạy và học nghề, nhất là khi người học nghề còn nhỏ tuổi, chưa thành niên (từ đủ 13 tuổi trở lên) Ở những trường hợp này, người học nghề không chỉ có nhu cầu đựơc đào tạo về kiến thức chuyên môn,

kĩ năng nghề nghiệp mà còn có nhu cầu

Trang 6

được giáo dục về nhân cách, đạo đức, ý thức

kỉ luật Hơn nữa, chỉ khi người học nghề có

ý thức tổ chức kỉ luật trong quá trình học tập

mới có thể đạt được kết quả học tập tốt Do

vậy, cần có các quy định về quyền và nghĩa

vụ cụ thể của mỗi bên (chẳng hạn, nghĩa vụ

chấp hành đầy đủ nội quy học tập của người

học nghề và quyền xử lí kỉ luật của cơ sở dạy

nghề ) cùng với việc quy định các chế tài

cần thiết mới có thể đảm bảo thực hiện được

các mục tiêu nêu trên

Ngoài ra, có thể thấy rất rõ là hợp đồng

học nghề được tự do giao kết song cũng

được “tự do” đơn phương chấm dứt trước

thời hạn từ cả hai phía chủ thể, bởi pháp luật

không ràng buộc việc đơn phương chấm dứt

hợp đồng vào những lí do cụ thể nào Việc

pháp luật hiện hành quy định những lí do

nhất định, chẳng hạn người học nghề đơn

phương chấm dứt hợp đồng do đi làm nghĩa

vụ quân sự, bị bệnh hoặc cơ sở dạy nghề đơn

phương chấm dứt hợp đồng do nguyên nhân

bất khả kháng chỉ có ý nghĩa trong việc

xác định quyền (nghĩa vụ) được trả lại học

phí Ngay ở đây cũng đã bộc lộ bất cập khi

Nghị định số 02/2001/NĐ-CP của Chính phủ

quy định nghĩa vụ trả lại học phí của cơ sở

dạy nghề trong mọi trường hợp (trừ trường

hợp do bất khả kháng) nếu đơn phương

chấm dứt hợp đồng học nghề, nghĩa là cả

trong trường hợp việc đơn phương chấm dứt

hợp đồng xảy ra do lỗi của người học nghề

(ví dụ do người học nghề tiết lộ bí mật công

nghệ của doanh nghiệp, do không tuân thủ

quy định về an toàn lao động - vệ sinh lao

động ) Quyền tự do như vậy ít nhiều sẽ ảnh

hưởng đến tiến độ và hiệu quả thực hiện mục

tiêu học - dạy nghề Người học nghề bị cơ sở

dạy nghề đơn phương chấm dứt hợp đồng trước thời hạn tuy có thể được nhận lại toàn

bộ số học phí đã nộp nhưng bị thiệt thòi là đã mất một thời gian học nghề vô ích vì chưa kịp học thành nghề Mục tiêu học thành nghề ban đầu đặt ra khi giao kết hợp đồng học nghề như vậy không thể đạt được Tương tự đối với cơ sở dạy nghề, nhất là trong trường hợp doanh nghiệp tuyển người vào học nghề

để sau đó làm việc cho doanh nghiệp mà bị phía bên kia là người học nghề đơn phương chấm dứt hợp đồng trước thời hạn thì cũng chỉ được thu hồi lại số tiền mà đơn vị đã bỏ

ra để đào tạo người học nghề (doanh nghiệp được “bồi thường chi phí dạy nghề”) Ở đây doanh nghiệp không những cũng tốn một thời gian dạy nghề vô ích mà ngoài ra còn ảnh hưởng đến kế hoạch nhân sự bởi doanh nghiệp đã có kế hoạch tuyển một số người nhất định để đào tạo cho việc sử dụng sau

đó, nhiều trường hợp còn có thể ảnh hưởng đến tiến độ sản xuất kinh doanh Trên thực

tế, nhiều trường hợp người học nghề sau khi học (miễn phí) xong bỏ đi làm việc cho nơi khác hoặc mở cơ sở sản xuất riêng ở những địa chỉ khó tìm khiến doanh nghiệp khó có thể thực hiện được quyền đòi bồi thường chi phí dạy nghề Không ít đơn vị muốn “khắc phục” thiệt thòi trên bằng việc tự đặt ra những biện pháp riêng (không có trong quy định hoặc trái với quy định của pháp luật) nhằm ràng buộc, “giữ chân” người học nghề, như buộc họ phải chi trả 1/4 số chi phí cho khoá học(1) hoặc yêu cầu họ phải “thế chấp” một khoản tiền(2)

Nhằm khắc phục những bất cập nêu trên, chúng tôi cho rằng một mặt, pháp luật cần ràng buộc quyền đơn phương chấm dứt hợp

Trang 7

đồng học nghề trước thời hạn vào những lí

do nhất định, tuy nhiên có phân biệt hợp lí

đối với mỗi bên chủ thể Cụ thể:

Đối với cơ sở dạy nghề, xuất phát từ yêu

cầu cần tôn trọng nhu cầu học thành nghề

của người học nghề khi giao kết hợp đồng

(và cũng là nhu cầu chung của xã hội), cần

hạn chế quyền đơn phương chấm dứt hợp

đồng của cơ sở dạy nghề Nói cách khác, cơ

sở dạy nghề chỉ có thể đơn phương chấm dứt

hợp đồng học nghề trước thời hạn khi có

những lí do luật định (cần được thể chế hoá

cụ thể), chẳng hạn do cơ sở dạy nghề chấm

dứt hoạt động, do người học nghề xâm phạm

lợi ích của cơ sở dạy nghề, do người học

nghề ốm đau lâu dài, hoặc năng lực tiếp thu

kém, hoặc vi phạm nghiêm trọng kỉ luật học

tập mà mục tiêu học nghề khó có thể đạt

được Thậm chí trong trường hợp vi phạm kỉ

luật học tập, nếu thời gian học nghề còn lại

của người học nghề không dài thì quyền đơn

phương chấm dứt hợp đồng của cơ sở dạy

nghề cũng không nên đặt ra

Đối với người học nghề, nhằm đảm bảo

“quyền tự do lựa chọn nghề và nơi học

nghề” của họ, pháp luật không nên ràng

buộc việc đơn phương chấm dứt hợp đồng

vào lí do nào, tuy nhiên họ không được trả

lại học phí đã nộp (trừ một số trường hợp

nhất định), nghĩa là vẫn theo quy định của

pháp luật hiện hành Riêng đối với đối tượng

học nghề được doanh nghiệp tuyển vào học

để sau đó sử dụng, quyền đơn phương chấm

dứt hợp đồng trước thời hạn của họ cũng cần

có những lí do nhất định (do đã có sự cam

kết học nghề để sau làm việc cho đơn vị),

chẳng hạn do người học nghề ốm đau lâu

dài, hoặc không còn phù hợp với nghề đang học; do cơ sở dạy nghề vi phạm hợp đồng học nghề Mặt khác, cần đặt ra chế tài mạnh mẽ hơn áp dụng cho trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật (không có lí do luật định) Có thể quy định

bổ sung trách nhiệm bồi thường một khoản tiền nhất định nào đó đối với bên đơn phương chấm dứt hợp đồng học nghề trước thời hạn trái pháp luật Chẳng hạn, nếu người học nghề (do doanh nghiệp tuyển vào học nghề để làm việc cho doanh nghiệp) đơn phương chấm dứt hợp đồng trước thời hạn

mà không có lí do luật định thì ngoài nghĩa

vụ bồi thường chi phí dạy nghề còn phải bồi thường thêm một khoản tiền (cố định hoặc theo tỉ lệ nào đó) Khoản này có ý nghĩa như một hình thức phạt, vừa mang tính răn đe nhằm hạn chế việc đơn phương chấm dứt hợp đồng, vừa mang tính bồi thường cho những thiệt hại về thời gian hoặc về kế hoạch sản xuất kinh doanh của đơn vị

Tóm lại, hội nhập kinh tế đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ và sâu rộng, tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội ở mỗi quốc gia và đặt ra những yêu cầu mới cho nhiều lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực pháp luật

Pháp luật lao động về học nghề tuy đã có những bước tiến mới song vẫn cần được tiếp tục hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia nói chung và của các doanh nghiệp Việt Nam nói riêng./

(1).Xem: “Dạy và học nghề ở công ty Lađoda” Tạp chí Lao động và xã hội Số chuyên đề IV, năm 2002, tr 42

(2).Xem: Báo Lao động số ra ngày 28/7/2003 - Chuyên trang Lao động - Việc làm Hà Nội

Ngày đăng: 31/03/2014, 12:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w