Việc đa dạng hoá các loại hình cơ sở dạy nghề sẽ mở ra nhiều khả năng đáp ứng nhu cầu đa dạng của người học trong nền kinh tế thị trường: Dạy các nghề phổ thông để giải quyết việc làm ch
Trang 1TS §µo ThÞ H»ng *
1 Hội nhập kinh tế quốc tế có thể hiểu
theo các nghĩa rộng hẹp khác nhau và được
các nhà nghiên cứu đưa ra những quan niệm
chưa phải là đã có sự thống nhất Song thực
chất của hội nhập kinh tế quốc tế là sự phản
ánh tính quốc tế hoá của hoạt động kinh tế
quốc gia, sự tự do hoá kinh tế, trước hết là về
thương mại, đầu tư, dịch vụ Ở nhiều cấp
độ hoặc mức độ khác nhau dẫn đến có sự
đan xen, gắn bó, phụ thuộc lẫn nhau giữa thị
trường trong nước với thị trường quốc tế
Điều này được thực hiện thông qua việc
giảm thiểu các hàng rào thương mại về mọi
mặt kinh tế, kĩ thuật, hành chính và áp dụng
những biện pháp khuyến khích hỗ trợ nhằm
thúc đẩy tự do buôn bán hàng hoá giữa các
nước Xét về quy mô hay phạm vi, có hai
dạng hội nhập kinh tế quốc tế, đó là hội nhập
kinh tế khu vực và hội nhập kinh tế toàn cầu
mà mối quan hệ giữa chúng thể hiện tương
quan giữa phạm vi hẹp và phạm vi rộng của
quá trình hội nhập kinh tế quốc gia
Ngay từ cuối những năm 70, đầu những
năm 80 của thế kỉ trước nước ta đã tham gia
vào Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV) của
các nước xã hội chủ nghĩa với tư cách là
thành viên Việc tham gia này cùng với
những quan hệ song phương với nhiều nước
trên thế giới lúc bấy giờ được xem như bước
hội nhập kinh tế quốc tế đầu tiên của Việt
Nam Cùng với thời gian, nhất là trong những năm gần đây chính sách hội nhập kinh tế quốc tế đã được Việt Nam thực hiện tích cực Chẳng hạn, năm 1995 Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của ASEAN
và tham gia AFTA, thực hiện Hiệp định ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) từ
1996, theo dự kiến sẽ kết thúc vào năm 2005 (sớm hơn 1 năm so với dự định ban đầu là năm 2006); năm 1996 Việt Nam tham gia Diễn đàn hợp tác Á- Âu (ASEM) - diễn đàn liên lục địa được thiết lập nhằm thúc đẩy sự hiểu biết và quan hệ giữa các nước thành viên của hai châu lục rộng lớn Tương tự, một diễn đàn liên lục địa nữa có mục tiêu chính là tự do hoá thương mại, đầu tư và các hoạt động kinh tế cũng được Việt Nam tham gia vào năm 1998 là Diễn đàn hợp tác kinh
tế châu Á- Thái Bình Dương (APEC) Gần đây nhất, vào cuối năm 2001, Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kì đã được Quốc hội hai nước thông qua và đang được thực thi, bước đầu đã đạt được những kết quả đáng phấn khởi Đặc biệt, nhận thức được tầm quan trọng của xu thế toàn cầu hoá đang diễn ra mạnh mẽ trên thế giới và phù hợp với chủ trương muốn làm bạn với tất cả các dân tộc vì sự phát triển và tiến bộ chung,
* Trường đại học luật Hà Nội
Trang 2cuối năm 1994 Việt Nam đã gửi đơn xin gia
nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO)
đồng thời khẩn trương có những bước chuẩn
bị tích cực để sớm được chính thức gia nhập
tổ chức thương mại rộng lớn toàn cầu này
Được gia nhập WTO, Việt Nam sẽ được tạo
cơ hội lớn nhất cho việc mở rộng thị trường,
đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu hàng
hoá Rõ ràng, chưa kể những hiệp định song
phương và đa phương khác với số lượng khá
đồ sộ, chỉ riêng những mốc lịch sử cơ bản
quan trọng nêu trên đã cho thấy tiến trình hội
nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam ngày
càng rộng lớn về quy mô, sâu sắc về mức độ
Quan hệ với ASEAN, APEC, WTO thể hiện
những phạm vi hội nhập kinh tế quốc tế khác
nhau, trong đó quan hệ với ASEAN và
APEC phản ánh hội nhập mang tính khu
vực, còn cam kết theo nguyên tắc WTO là
những cam kết mang tính toàn cầu Quá trình
đó gắn kết nền kinh tế Việt Nam ngày một
chặt chẽ vào nền kinh tế khu vực và thế giới
2 Tuy nhiên, đối với mỗi quốc gia nói
chung và Việt Nam nói riêng, hội nhập kinh
tế quốc tế đều có tác động hai mặt tích cực
và tiêu cực
Những cơ hội mà Việt Nam có thể nhận
được và thách thức có thể phải đương đầu
gắn liền trực tiếp với các cam kết quốc tế mà
Việt Nam đã kí kết Dù với những mức độ,
phạm vi rộng hẹp hoặc thời gian thực hiện
có thể khác nhau nhưng mục tiêu cuối cùng
của các cam kết quốc tế là nhằm tạo điều
kiện thuận lợi để các hàng hoá, dịch vụ lưu
chuyển một cách tự do trên thị trường rộng
mở của các quốc gia thành viên Biện pháp
thực hiện để đạt được mục tiêu này thường
là việc giảm bớt và tiến tới xoá bỏ các hàng
rào thương mại là hàng rào thuế quan và phi quan thuế Điều này sẽ dẫn đến việc đồng nhất hoá thị trường Việt Nam và thị trường các nước khác tạo việc mở rộng thị trường hàng hoá và dịch vụ, tăng năng lực hoạt động của các doanh nghiệp Đây chính là một trong những cơ hội lớn nhất của Việt Nam nói riêng cũng như của các quốc gia nói chung khi tiến hành hội nhập kinh tế Chẳng hạn, việc tham gia AFTA và thực hiện chương trình CEPT cho phép các doanh nghiệp Việt Nam có thể hoạt động trong thị trường rộng lớn có gần 500 triệu dân với mức thuế suất cao nhất là 5%; hàng hoá, dịch vụ của Việt Nam sẽ dễ dàng thâm nhập vào thị trường các nước láng giềng có khoảng cách vận chuyển không xa và có yêu cầu đòi hỏi về chất lượng cũng không phải quá cao này Nhiều ngành hàng, ngành sản xuất, dịch vụ mới có khả năng được mở ra hoặc mở rộng năng lực hoạt động của các doanh nghiệp hiện có nhằm tận dụng thị trường rộng mở Nguồn lao động nhàn rỗi trong thị trường có cơ hội được thu hút để sử dụng Tuy nhiên, bên cạnh những cơ hội lớn lao, hội nhập kinh tế cũng đưa lại những thách thức không nhỏ đối với mỗi quốc gia nói chung và đối với Việt Nam nói riêng Một trong những thách thức lớn nhất là áp lực cạnh tranh đối với hàng hoá, đối với doanh nghiệp Việt Nam Khi phạm vi hoạt động của doanh nghiệp cũng như thị trường xuất khẩu trở nên rộng lớn, các rào chắn của Việt Nam dỡ bỏ càng nhiều thì hàng hoá, doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải cạnh tranh không chỉ với các hàng hoá, doanh nghiệp trong nước mà còn phải đương đầu với các hàng hoá, doanh nghiệp của nhiều nước
Trang 3khác, thậm chí với các công ti hàng đầu quốc
tế có ưu thế vượt trội về mọi mặt Áp lực này
càng lớn, càng nặng nề khi phạm vi hội nhập
của quốc gia càng rộng mở, thời gian thực
hiện các cam kết càng ngắn và đặc biệt khi
năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp
Việt Nam nhìn chung còn ở mức rất thấp
3 Năng lực cạnh tranh của một doanh
nghiệp thể hiện ở khả năng giữ vững hoặc
tăng thị phần của mình một cách vững chắc
bằng việc hạ giá thành hoặc cung cấp sản
phẩm, dịch vụ bền, đẹp, rẻ, chất lượng cao
của doanh nghiệp Năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp được đảm bảo và nâng cao sẽ
giúp doanh nghiệp đứng vững và phát triển
trong cuộc đọ sức khắc nghiệt với các doanh
nghiệp (của các quốc gia) khác, cũng có
nghĩa công ăn việc làm của người lao động
được đảm bảo và tăng cường Trong trường
hợp ngược lại (doanh nghiệp không đủ sức
cạnh tranh), việc thu hẹp hoạt động hoặc
hoặc thậm chí sự phá sản doanh nghiệp là
điều khó tránh khỏi mà liên đới chịu thiệt hại
còn trực tiếp là những người lao động vì mất
công ăn việc làm Nói cách khác, (xét ở tầm
vĩ mô) việc nâng cao sức cạnh tranh của
doanh nghiệp không phải chỉ vì lợi ích riêng
của bản thân doanh nghiệp mà còn vì lợi ích
của người lao động, của quốc gia và của toàn
xã hội Vậy, đâu thực sự là năng lực cạnh
tranh của các doanh nghiệp Việt Nam?
Lao động là yếu tố đầu vào quan trọng
của quá trình sản xuất và chi phí lao động
chiếm tỉ lệ nhất định trong giá thành sản
phẩm, dịch vụ Từ trước tới nay, cùng với
các yếu tố khác như tài nguyên thiên nhiên
dồi dào, giá trị đồng tiền thấp , yếu tố lao
động rẻ đã đặc biệt được coi trọng và được
coi là thế mạnh của các doanh nghiệp Việt Nam, do cho rằng vì thế mà giá thành sản phẩm sẽ thấp Song trên thực tế, đặc biệt trong một số ngành nghề, dù tiền lương trả cho người lao động ở mức độ thấp nhưng do chất lượng lao động kém dẫn đến năng suất lao động cũng thấp và hậu quả là chi phí lao động trên một đơn vị sản phẩm vẫn cao (giá thành cao) Tại cuộc hội thảo về xây dựng năng lực cạnh tranh quốc gia do Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ chức vào đầu năm 2002, vị chủ tịch hiệp hội dệt - may Việt Nam đã cho biết, lương tuyệt đối trong ngành dệt may ở nước
ta trung bình là 25 - 40 UScent/giờ, thuộc loại thấp nhất so với lương trung bình trên thế giới là 70 UScent/giờ Tuy nhiên, do năng suất lao động của Việt Nam cũng thuộc loại thấp nhất nên tỉ trọng giá lao động trong một đơn vị sản phẩm vẫn cao Như vậy, giá nhân công rẻ không còn (không phải) là yếu
tố giúp doanh nghiệp cạnh tranh Theo một
số chuyên gia kinh tế, điều đáng lo ngại hơn
là do sự ngộ nhận coi lao động rẻ là yếu tố cạnh tranh dẫn đến sự định hướng phát triển sai lầm ở một số ngành, một số sản phẩm
Cũng tại cuộc hội thảo này, chủ tịch một công ti tư vấn nước ngoài đã nhận định: Một quốc gia lấy lao động rẻ, mức lương thấp làm yếu tố cạnh tranh thì chẳng khác nào tham gia vào cuộc chạy đua ai là người nghèo nhất và không bao giờ cải thiện được đời sống của người lao động Ngoài ra, chất lượng lao động kém cũng ảnh hưởng xấu đến chất lượng sản phẩm, làm yếu đi sức cạnh tranh của doanh nghiệp Rõ ràng vấn đề mấu chốt trong lĩnh vực lao động ở nước ta
là việc nhanh chóng nâng cao chất lượng
Trang 4nguồn lao động cho các doanh nghiệp Việt
Nam Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) đã
xếp hạng yếu tố lao động của Việt Nam vào
thứ hạng thấp so với các nước trên thế giới
vì tỉ lệ đào tạo và chất lượng nguồn nhân lực
được đánh giá kém Một số chuyên gia kinh
tế do vậy đã khuyến cáo hãy từ bỏ tư duy coi
lao động rẻ là một lợi thế cạnh tranh mà phải
lo đào tạo tay nghề và dần nâng cao trình độ
cho nhân công để tạo ra một lợi thế cạnh
tranh mới cho các doanh nghiệp Việt Nam
Chia sẻ kinh nghiệm giúp Ireland thoát khỏi
tình trạng kém phát triển, cựu thủ tướng
Ireland cũng đã khẳng định (tại cuộc hội
thảo nói trên): "Đào tạo chính là chìa khoá
của thành công của chúng tôi” Ireland đã
tập trung cho giáo dục, đào tạo để có được
đội ngũ lao động trẻ đạt tiêu chuẩn cao hơn
các quốc gia châu Âu
Như vậy, trong lĩnh vực lao động, vấn đề
tạo ra chất lượng nguồn nhân lực giữ vai trò
then chốt trong việc nâng cao năng lực cạnh
tranh của các doanh nghiệp Việt Nam Vấn
đề này được đảm bảo thông qua hoạt động
đào tạo, dạy - học nghề Pháp luật lao động
có nhiệm vụ định ra khung pháp lí về học
nghề, đào tạo nghề phù hợp để khuyến
khích, tạo điều kiện và bảo đảm hiệu quả của
quá trình học nghề nhằm nhanh chóng tạo
nên đội ngũ những người lao động có trình
độ chuyên môn tay nghề phù hợp có thể đạt
năng suất lao động cao, sản xuất ra sản phẩm
đảm bảo chất lượng góp phần nâng cao khả
năng cạnh tranh của doanh nghiệp
4 Với 6 điều thuộc chương III, lần đầu
tiên “Học nghề” được coi là một trong các
chế định cơ bản, quan trọng nằm trong cơ
cấu chung của Bộ luật lao động (BLLĐ)
Cùng với Nghị định số 02/2001/NĐ-CP ngày 9/1/2001 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành "thay thế Nghị định số 90/CP), khung pháp lí về học nghề phù hợp với tình hình mới về cơ bản đã được thiết lập Ở đó quyền tự do lựa chọn nghề và nơi học nghề phù hợp với nhu cầu việc làm của mọi công dân được đảm bảo Chủ trương
xã hội hoá việc dạy nghề cũng đã được pháp luật thể chế hoá bằng việc quy định tính đa dạng của các loại hình tổ chức cơ sở dạy nghề, bao gồm cơ sở dạy nghề công lập, bán công, dân lập, tư thục, cơ sở dạy nghề của doanh nghiệp và hợp tác xã và cơ sở dạy nghề có vốn đầu tư nước ngoài Việc đa dạng hoá các loại hình cơ sở dạy nghề sẽ mở
ra nhiều khả năng đáp ứng nhu cầu đa dạng của người học trong nền kinh tế thị trường: Dạy các nghề phổ thông để giải quyết việc làm cho người chưa có việc làm, NLĐ bị mất việc làm; dạy nghề kết hợp với việc sử dụng người học nghề làm việc tại doanh nghiệp, hợp tác xã sau thời gian học nghề; đào tạo lại nghề để chuyển sang nghề khác trong doanh nghiệp; đào tạo nghề dự phòng cho lao động nữ; dạy nghề, bổ túc nghề cho người lao động phục vụ nhu cầu xuất khẩu lao động và chuyên gia Đương nhiên, cơ
sở dạy nghề muốn thành lập và hoạt động phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện do pháp luật quy định (về đội ngũ giáo viên, về vốn, tài sản, về đăng kí hoạt động dạy nghề ), trừ một số trường hợp nhất định không phải đăng kí hoạt động dạy nghề với cơ quan có thẩm quyền Về phía người học nghề, nhìn chung họ phải ít nhất đạt đủ 13 tuổi và phải
có đủ sức khoẻ phù hợp với yêu cầu của nghề theo học
Trang 5Về nguyên tắc, việc học nghề phải có
hợp đồng bằng văn bản hoặc bằng miệng
(nếu thời gian học là dưới 15 ngày) giữa
người học nghề với người dạy nghề hoặc đại
diện cơ sở dạy nghề mà ở đó thể hiện các
cam kết về quyền, lợi ích, nghĩa vụ và trách
nhiệm của mỗi bên trong thời gian dạy nghề
Nội dung chủ yếu của hợp đồng bao gồm tên
nghề học, mục tiêu đào tạo, địa điểm học,
học phí phải trả, thời gian học lí thuyết và
thực hành, hướng giải quyết việc làm cho
người học nghề sau khi học xong, trách
nhiệm bồi thường thiệt hại của mỗi bên khi
vi phạm hợp đồng học nghề Riêng trường
hợp doanh nghiệp, hợp tác xã tuyển người
vào học nghề để sau đó làm việc cho doanh
nghiệp (nghĩa là doanh nghiệp dạy nghề để
sử dụng) thì không được thu học phí của
người học nghề Khi đó hợp đồng học nghề
phải bổ sung thêm nội dung về thời gian mà
người học nghề phải làm việc cho doanh
nghiệp sau khi học xong và mức tiền công
mà doanh nghiệp phải trả cho người học
nghề khi họ trực tiếp hoặc tham gia làm ra
sản phẩm Cam kết về thời gian mà người
học nghề sau khi đã học thành nghề phải làm
việc cho doanh nghiệp (có thể chỉ là một thời
hạn nhất định) nhằm tạo điều kiện cho doanh
nghiệp có thể khai thác được vốn kiến thức
chuyên môn, tay nghề của người lao động
mà mình đã bỏ chi phí để đào tạo (không thu
học phí)
Nhằm đảm bảo cho việc thực hiện hợp
đồng học nghề đã giao kết, pháp luật về học
nghề đã quy định cụ thể các quyền và nghĩa
vụ của mỗi bên khi hợp đồng bị một bên đơn
phương chấm dứt trước thời hạn Nếu người
học nghề đơn phương chấm dứt hợp đồng
trước thời hạn thì về nguyên tắc không được trả lại học phí đã nộp, trừ trường hợp người học nghề đi làm nghĩa vụ quân sự hoặc bị bệnh không đủ sức khoẻ để học tập Tương
tự, nếu cơ sở dạy nghề đơn phương chấm dứt hợp đồng trước thời hạn thì phải trả lại cho người học nghề toàn bộ số học phí đã thu, trừ trường hợp bất khả kháng Trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã tuyển người vào học nghề để làm việc cho doanh nghiệp, hợp tác xã, nếu người học nghề đơn phương chấm dứt hợp đồng trước thời hạn hoặc học xong không làm việc hay làm việc không đủ thời hạn đã cam kết trong hợp đồng học nghề thì phải bồi thường chi phí dạy nghề cho doanh nghiệp, hợp tác xã, trừ một số trường hợp nhất định
5 Có thể nhận xét rằng các quy định pháp luật về học nghề nêu trên về cơ bản đã
có những bước tiến mới song vẫn không tránh khỏi còn có những hạn chế, bất cập;
một số quy định còn có phần phiến diện, đơn giản, chưa tương xứng với vai trò quan trọng của vấn đề học nghề trong tình hình hiện nay Trước hết, chế định pháp luật về học nghề hầu như chưa tập trung điều chỉnh quá trình học nghề một cách đầy đủ, thoả đáng
Quyền và nghĩa vụ pháp lí của các chủ thể trong thời gian dạy và học nghề hầu như không được đề cập và các chế tài nhằm đảm bảo quá trình học tập vì vậy cũng không được đặt ra Điều này ít nhiều ảnh hưởng đến hiệu quả dạy và học nghề, nhất là khi người học nghề còn nhỏ tuổi, chưa thành niên (từ đủ 13 tuổi trở lên) Ở những trường hợp này, người học nghề không chỉ có nhu cầu đựơc đào tạo về kiến thức chuyên môn,
kĩ năng nghề nghiệp mà còn có nhu cầu
Trang 6được giáo dục về nhân cách, đạo đức, ý thức
kỉ luật Hơn nữa, chỉ khi người học nghề có
ý thức tổ chức kỉ luật trong quá trình học tập
mới có thể đạt được kết quả học tập tốt Do
vậy, cần có các quy định về quyền và nghĩa
vụ cụ thể của mỗi bên (chẳng hạn, nghĩa vụ
chấp hành đầy đủ nội quy học tập của người
học nghề và quyền xử lí kỉ luật của cơ sở dạy
nghề ) cùng với việc quy định các chế tài
cần thiết mới có thể đảm bảo thực hiện được
các mục tiêu nêu trên
Ngoài ra, có thể thấy rất rõ là hợp đồng
học nghề được tự do giao kết song cũng
được “tự do” đơn phương chấm dứt trước
thời hạn từ cả hai phía chủ thể, bởi pháp luật
không ràng buộc việc đơn phương chấm dứt
hợp đồng vào những lí do cụ thể nào Việc
pháp luật hiện hành quy định những lí do
nhất định, chẳng hạn người học nghề đơn
phương chấm dứt hợp đồng do đi làm nghĩa
vụ quân sự, bị bệnh hoặc cơ sở dạy nghề đơn
phương chấm dứt hợp đồng do nguyên nhân
bất khả kháng chỉ có ý nghĩa trong việc
xác định quyền (nghĩa vụ) được trả lại học
phí Ngay ở đây cũng đã bộc lộ bất cập khi
Nghị định số 02/2001/NĐ-CP của Chính phủ
quy định nghĩa vụ trả lại học phí của cơ sở
dạy nghề trong mọi trường hợp (trừ trường
hợp do bất khả kháng) nếu đơn phương
chấm dứt hợp đồng học nghề, nghĩa là cả
trong trường hợp việc đơn phương chấm dứt
hợp đồng xảy ra do lỗi của người học nghề
(ví dụ do người học nghề tiết lộ bí mật công
nghệ của doanh nghiệp, do không tuân thủ
quy định về an toàn lao động - vệ sinh lao
động ) Quyền tự do như vậy ít nhiều sẽ ảnh
hưởng đến tiến độ và hiệu quả thực hiện mục
tiêu học - dạy nghề Người học nghề bị cơ sở
dạy nghề đơn phương chấm dứt hợp đồng trước thời hạn tuy có thể được nhận lại toàn
bộ số học phí đã nộp nhưng bị thiệt thòi là đã mất một thời gian học nghề vô ích vì chưa kịp học thành nghề Mục tiêu học thành nghề ban đầu đặt ra khi giao kết hợp đồng học nghề như vậy không thể đạt được Tương tự đối với cơ sở dạy nghề, nhất là trong trường hợp doanh nghiệp tuyển người vào học nghề
để sau đó làm việc cho doanh nghiệp mà bị phía bên kia là người học nghề đơn phương chấm dứt hợp đồng trước thời hạn thì cũng chỉ được thu hồi lại số tiền mà đơn vị đã bỏ
ra để đào tạo người học nghề (doanh nghiệp được “bồi thường chi phí dạy nghề”) Ở đây doanh nghiệp không những cũng tốn một thời gian dạy nghề vô ích mà ngoài ra còn ảnh hưởng đến kế hoạch nhân sự bởi doanh nghiệp đã có kế hoạch tuyển một số người nhất định để đào tạo cho việc sử dụng sau
đó, nhiều trường hợp còn có thể ảnh hưởng đến tiến độ sản xuất kinh doanh Trên thực
tế, nhiều trường hợp người học nghề sau khi học (miễn phí) xong bỏ đi làm việc cho nơi khác hoặc mở cơ sở sản xuất riêng ở những địa chỉ khó tìm khiến doanh nghiệp khó có thể thực hiện được quyền đòi bồi thường chi phí dạy nghề Không ít đơn vị muốn “khắc phục” thiệt thòi trên bằng việc tự đặt ra những biện pháp riêng (không có trong quy định hoặc trái với quy định của pháp luật) nhằm ràng buộc, “giữ chân” người học nghề, như buộc họ phải chi trả 1/4 số chi phí cho khoá học(1) hoặc yêu cầu họ phải “thế chấp” một khoản tiền(2)
Nhằm khắc phục những bất cập nêu trên, chúng tôi cho rằng một mặt, pháp luật cần ràng buộc quyền đơn phương chấm dứt hợp
Trang 7đồng học nghề trước thời hạn vào những lí
do nhất định, tuy nhiên có phân biệt hợp lí
đối với mỗi bên chủ thể Cụ thể:
Đối với cơ sở dạy nghề, xuất phát từ yêu
cầu cần tôn trọng nhu cầu học thành nghề
của người học nghề khi giao kết hợp đồng
(và cũng là nhu cầu chung của xã hội), cần
hạn chế quyền đơn phương chấm dứt hợp
đồng của cơ sở dạy nghề Nói cách khác, cơ
sở dạy nghề chỉ có thể đơn phương chấm dứt
hợp đồng học nghề trước thời hạn khi có
những lí do luật định (cần được thể chế hoá
cụ thể), chẳng hạn do cơ sở dạy nghề chấm
dứt hoạt động, do người học nghề xâm phạm
lợi ích của cơ sở dạy nghề, do người học
nghề ốm đau lâu dài, hoặc năng lực tiếp thu
kém, hoặc vi phạm nghiêm trọng kỉ luật học
tập mà mục tiêu học nghề khó có thể đạt
được Thậm chí trong trường hợp vi phạm kỉ
luật học tập, nếu thời gian học nghề còn lại
của người học nghề không dài thì quyền đơn
phương chấm dứt hợp đồng của cơ sở dạy
nghề cũng không nên đặt ra
Đối với người học nghề, nhằm đảm bảo
“quyền tự do lựa chọn nghề và nơi học
nghề” của họ, pháp luật không nên ràng
buộc việc đơn phương chấm dứt hợp đồng
vào lí do nào, tuy nhiên họ không được trả
lại học phí đã nộp (trừ một số trường hợp
nhất định), nghĩa là vẫn theo quy định của
pháp luật hiện hành Riêng đối với đối tượng
học nghề được doanh nghiệp tuyển vào học
để sau đó sử dụng, quyền đơn phương chấm
dứt hợp đồng trước thời hạn của họ cũng cần
có những lí do nhất định (do đã có sự cam
kết học nghề để sau làm việc cho đơn vị),
chẳng hạn do người học nghề ốm đau lâu
dài, hoặc không còn phù hợp với nghề đang học; do cơ sở dạy nghề vi phạm hợp đồng học nghề Mặt khác, cần đặt ra chế tài mạnh mẽ hơn áp dụng cho trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật (không có lí do luật định) Có thể quy định
bổ sung trách nhiệm bồi thường một khoản tiền nhất định nào đó đối với bên đơn phương chấm dứt hợp đồng học nghề trước thời hạn trái pháp luật Chẳng hạn, nếu người học nghề (do doanh nghiệp tuyển vào học nghề để làm việc cho doanh nghiệp) đơn phương chấm dứt hợp đồng trước thời hạn
mà không có lí do luật định thì ngoài nghĩa
vụ bồi thường chi phí dạy nghề còn phải bồi thường thêm một khoản tiền (cố định hoặc theo tỉ lệ nào đó) Khoản này có ý nghĩa như một hình thức phạt, vừa mang tính răn đe nhằm hạn chế việc đơn phương chấm dứt hợp đồng, vừa mang tính bồi thường cho những thiệt hại về thời gian hoặc về kế hoạch sản xuất kinh doanh của đơn vị
Tóm lại, hội nhập kinh tế đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ và sâu rộng, tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội ở mỗi quốc gia và đặt ra những yêu cầu mới cho nhiều lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực pháp luật
Pháp luật lao động về học nghề tuy đã có những bước tiến mới song vẫn cần được tiếp tục hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia nói chung và của các doanh nghiệp Việt Nam nói riêng./
(1).Xem: “Dạy và học nghề ở công ty Lađoda” Tạp chí Lao động và xã hội Số chuyên đề IV, năm 2002, tr 42
(2).Xem: Báo Lao động số ra ngày 28/7/2003 - Chuyên trang Lao động - Việc làm Hà Nội