1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo " Vấn đề tranh tụng trong tố tụng dân sự " ppt

7 310 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 126,16 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngay dưới thời Hi Lạp cổ, nguyên cáo, bị cáo đã được nhờ người thân của mình bào chữa trước toà án.1 Ở La Mã, Luật 12 bảng quy định cụ thể việc xét xử được tiến hành có mặt các bên đương

Trang 1

ThS NguyÔn C«ng B×nh *

ranh tụng trong tố tụng gồm nhiều nội

dung khác nhau Ở mỗi loại hình tố

tụng, nội dung tranh tụng lại có những điểm

riêng Hiện nay, các nhà nghiên cứu và dư

luận đang rất quan tâm đến vấn đề này Ở

đây, chúng tôi xin trao đổi về một số nội

dung cơ bản của việc tranh tụng trong tố

tụng dân sự

Theo nhiều nhà nghiên cứu thì loại hình

tố tụng tranh tụng xuất hiện sớm nhất ở châu

Âu cùng với sự xuất hiện của toà án nhà

nước Ngay dưới thời Hi Lạp cổ, nguyên

cáo, bị cáo đã được nhờ người thân của mình

bào chữa trước toà án.(1) Ở La Mã, Luật 12

bảng quy định cụ thể việc xét xử được tiến

hành có mặt các bên đương sự và có người

trọng trách tham dự phiên toà, nếu bị đơn

vắng mặt thì phiên toà phải hoãn để triệu tập

lại.(2) Các đương sự có thể tự biện hộ hoặc

nhờ người khác biện hộ cho mình.(3) Quan

toà dựa vào chứng cứ các bên đưa ra hoặc

dựa vào việc các bên công nhận hay không

công nhận nghĩa vụ của mình, quan toà sẽ

đưa ra kết luận ai sẽ là người thắng kiện, ai

thua kiện.(4) Kế tục tinh hoa của pháp luật La

Mã, Napoleon đã cho quy định vấn đề này

thành một nguyên tắc của luật tố tụng dân sự

Pháp Theo Điều 16 Bộ luật tố tụng dân sự

Pháp năm 1807 thì trong mọi trường hợp

thẩm phán phải bảo đảm và tôn trọng nguyên

tắc tranh tụng Sau đó, cùng với sự phát triển

của hệ thống toà án nhà nước, vấn đề tranh tụng được thừa nhận và thực hiện rộng rãi trong việc giải quyết các vụ án dân sự của toà án các nước Cùng với chiều dài lịch sử phát triển của toà án nhà nước, loại hình tố tụng tranh tụng luôn tồn tại song song với loại hình tố tụng xét hỏi Nhưng pháp luật tố tụng dân sự của mỗi nước quy định vấn đề này có sự khác nhau Các nước theo truyền thống pháp luật dân sự (Civil law) thì đề cao việc xét hỏi hơn việc tranh tụng còn các nước theo truyền thống pháp luật án lệ (Common law) thì lại đề cao việc tranh tụng hơn việc xét hỏi Ở các nước đề cao việc tranh tụng nhấn mạnh đến vai trò của các bên đương sự trong việc chứng minh sự việc Các bên đương sự được chủ động trong việc đưa ra các chứng cứ, lí lẽ để bảo vệ quyền lợi của mình Đương sự chứng minh được quyền lợi của mình đến đâu thì toà án xử chấp nhận đến đó Toà án được coi như người thứ ba, giữ vai trò trung gian của người trọng tài, căn cứ vào kết quả của tranh tụng ra quyết định giải quyết vụ án Kết quả tranh tụng là cơ sở chính để toà án quyết định giải quyết vụ án Ở các nước đề cao việc xét hỏi tuy vẫn có tranh tụng nhưng nhấn mạnh vai trò của toà án hơn trong việc

T

* Giảng viên chính Khoa luật dân sự Trường đại học luật Hà Nội

Trang 2

chứng minh sự việc Tranh tụng được coi là

bước thẩm định lại kết quả của xét hỏi và

thường được tiến hành sau việc xét hỏi ở tại

phiên toà với tên gọi là “tranh luận”, trong

đó, toà án hướng dẫn cho các bên đương sự

đưa ra các lí lẽ, các nhận định của mình về

đánh giá chứng cứ và đề xuất hướng giải

quyết vụ án Trên cơ sở của kết quả xét hỏi

và kết quả tranh tụng toà án giải quyết vụ án

Nghiên cứu vấn đề này chúng tôi thấy

tranh tụng thực chất là việc các bên đương

sự đưa ra các chứng cứ, các căn cứ pháp lí,

lập luận, đối đáp lại nhau, tranh luận với

nhau để bảo vệ quyền lợi của mình dưới sự

giám sát của toà án Thông qua việc tranh

tụng, các tình tiết của vụ án được làm sáng

tỏ, toà án nhận thức được sự thật khách quan

của vụ án Vì vậy, dưới góc độ của một thuật

ngữ pháp lí tranh tụng trong tố tụng dân sự

được hiểu là một phương thức tố tụng để

đương sự bảo vệ quyền lợi của mình, toà án

xác định sự thật khách quan của vụ án Với

nghĩa này tranh tụng trong tố tụng dân sự có

những đặc trưng cơ bản sau:

- Các đương sự - chủ thể của tranh tụng

là người giữ vai trò chủ động, quyết định của

quá trình tranh tụng, được bình đẳng với

nhau, có quyền trao đổi, chuyển giao cho

nhau những căn cứ về mặt thực tiễn cũng

như luật pháp để bảo vệ quyền lợi của mình

- Toà án can thiệp vào quá trình tranh

tụng như một trọng tài Toà án quyết định

giải quyết vụ án trên cơ sở cân nhắc các

chứng cứ, căn cứ pháp lí và lập luận mà các

bên đương sự đưa ra

- Hoạt động tranh tụng có thể tồn tại

dưới hình thức viết (tranh tụng thông qua việc gửi cho nhau các chứng cứ, lập luận bằng văn bản) hoặc miệng (tranh tụng qua việc phát biểu tranh luận trước toà án) Tranh tụng sở dĩ được áp dụng trong tố tụng dân sự vì đối tượng của tố tụng dân sự thường là quan hệ về quyền, nghĩa vụ có thể được định đoạt tự do giữa các bên Sự tồn tại hay không tồn tại của quan hệ về quyền, nghĩa vụ này được xác định như là kết quả của vụ kiện giữa các chủ thể, nhà nước không có quyền lợi trực tiếp ở đây nên việc quyết định là nó có tồn tại hay không trước tiên phải được dành cho các bên đương sự

Đó không chỉ là đường ngắn nhất tìm ra sự thật mà còn là việc các bên sẽ thoả mãn hơn với kết quả giải quyết.(5) Chúng tôi tán thành với quan điểm này của Giáo sư Hideyuki Kobayashi Tuy vậy, loại hình tố tụng tranh tụng chỉ có thể áp dụng đối với các vụ án dân sự có các bên đương sự Mâu thuẫn về quyền lợi, nghĩa vụ giữa các bên đương sự là tiền đề và động lực thúc đẩy quá trình tranh tụng Mặt khác, để tiến hành tranh tụng, pháp luật tố tụng dân sự phải quy định cụ thể quyền hạn, nghĩa vụ của các bên đương sự

và toà án trong việc tranh tụng; trình tự, thủ tục tranh tụng Thẩm phán giải quyết vụ án phải khách quan, có trình độ chuyên môn cao và năng lực xét xử tốt Các đương sự phải biết được yêu cầu, chứng cứ và lí lẽ của đối phương đưa ra, phải có sự hiểu biết về pháp luật và có kinh nghiệm tham gia tố tụng nhất định Chính vì vậy, ở những nước

đề cao việc tranh tụng, quá trình tranh tụng bảo vệ quyền lợi của đương sự trước toà án

Trang 3

thường do các luật sư thực hiện

Có thể nói tranh tụng trong tố tụng dân

sự là loại hình tố tụng có nhiều ưu điểm Nó

đề cao được vị trí, vai trò của đương sự trong

việc giải quyết tranh chấp, bảo đảm cho

đương sự bảo vệ được quyền, lợi ích hợp

pháp của mình, giúp toà án nhận thức được

các tình tiết của vụ án mà không phải tốn

nhiều công sức trong việc điều tra làm rõ sự

việc Đồng thời nó cũng là loại hình tố tụng

dân sự dân chủ nhất, thể hiện được sự tiến bộ

của nền văn minh nhân loại Nhưng so với

loại hình tố tụng xét hỏi, loại hình tố tụng

tranh tụng cũng có một số nhược điểm:

Thứ nhất, trong tố tụng tranh tụng vai trò

chủ động, tích cực của toà án trong việc giải

quyết vụ án bị hạn chế Tố tụng tranh tụng

có thể sẽ dẫn tới tình trạng thời hạn tố tụng

bị kéo dài và trong một tương lai gần, các

toà án sẽ gặp phải rất nhiều khó khăn vì sự

tồn đọng của nhiều vụ việc Đương sự, mà

đặc biệt là bên mạnh, có khả năng làm chậm

hoặc thúc đẩy quá trình tố tụng tuỳ theo ý

hình tố tụng được áp dụng ở toà án các nước,

John Henry Merryman cũng cho rằng hạn

chế này có thể tìm thấy ngay ở việc triệu tập

người làm chứng Việc triệu tập người làm

chứng "trong một vụ kiện dân sự chính thức

theo luật thông pháp (Common law) kéo dài

qua vài tuần hoặc vài tháng, tại toà án theo

luật dân sự (Civil law) có thể được nén vào

trong thời gian ít hơn một phút trao đổi

miệng giữa thẩm phán và luật sư".(7)

Thứ hai, trong tố tụng tranh tụng mọi

vấn đề đều phải được giải quyết trong phiên

xét xử nên rất phức tạp, do không được kiểm nghiệm trước nên khẳng định có thể không chắc chắn Trong khi đó nhiều vấn đề lẽ ra cần được thực hiện trước phiên xét xử Ngoài ra, loại hình tố tụng này đặt ra yêu cầu rất cao đối với đương sự trong việc chứng minh quyền lợi của mình và hoạt động hỗ trợ pháp lí của luật sư Và thực tế sẽ nảy sinh sự bất bình đẳng giữa các đương sự, nếu có bên đương sự nào đó không có khả năng chứng minh và không có tiền thuê luật sư bảo vệ quyền lợi của mình

Trên thế giới, như trên đã nêu, tương ứng với hai truyền thống pháp luật (Common law

và Civil law) là hai loại hình tố tụng tranh tụng và xét hỏi Tuy nhiên, theo các chuyên gia về pháp luật tố tụng dân sự thì không bao giờ có một hệ thống hoàn toàn đề cao thẩm phán hay hoàn toàn đề cao các bên đương

của mỗi loại hình tố tụng, pháp luật tố tụng dân sự các nước đang có xu hướng quy định xâm nhập, đan xen giữa hai loại hình tố tụng này Chẳng hạn, Cộng hoà Pháp - một nước điển hình của truyền thống pháp luật dân sự, theo loại hình tố tụng xét hỏi nhưng Bộ luật

tố tụng dân sự mới của Pháp ban hành năm

1979 đã quy định hỗn hợp giữa hai thủ tục, vừa nhấn mạnh vai trò chứng minh của đương sự, vừa đề cao vai trò của toà án trong việc tìm ra sự thật.(9) Mĩ - một nước khá điển hình của truyền thống pháp luật án lệ, theo loại hình tố tụng tranh tụng nhưng gần đây lại có sự thay đổi, pháp luật quy định hướng tới thẩm phán quản lí, nghĩa là đề cao vai trò của thẩm phán Xem chừng hai hệ thống

Trang 4

pháp luật này tiến tới nhập chung làm một.(10)

Ở Việt Nam, pháp luật tố tụng dân sự từ

trước tới nay chưa quy định tranh tụng là

một nguyên tắc của luật tố tụng dân sự Về

vấn đề này chúng tôi đồng tình với nhận xét:

“Sự thực tố tụng dân sự Việt Nam không hẳn

thuộc loại tố cáo (tranh tụng), thẩm phán

theo luật tố tụng dân sự Việt Nam có nhiều

quyền hạn trong việc điều khiển vụ kiện”.(11)

Hiện tại, tố tụng dân sự của Việt Nam, theo

chúng tôi, nghiêng về loại hình tố tụng xét

hỏi Tuy nhiên, ở một mức độ nhất định vẫn

phải thừa nhận vấn đề tranh tụng cũng đã

được ghi nhận trong pháp luật tố tụng dân sự

Việt Nam Thậm chí, vấn đề này còn được

pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam ghi nhận

rất sớm, như quy định tại Điều 26 Sắc lệnh

số 51/SL ngày 17/4/1946, Điều 1 Sắc lệnh

144/SL ngày 22/12/1949, Điều 2 Sắc lệnh số

85/SL ngày 22/5/1950 Ngày nay, mặc dù

pháp luật tố tụng dân sự hiện hành quy định

đề cao vai trò toà án nhưng trong Pháp lệnh

thủ tục giải quyết các vụ án dân sự đã có

nhiều quy định về tranh tụng, đề cao vai trò

của đương sự trong việc làm rõ sự thật vụ án,

như quy định tại Điều 3, Điều 51 Pháp lệnh

này Theo các điều luật này thì “Đương sự có

nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền

lợi của mình Toà án có nghĩa vụ xem xét

mọi tình tiết của vụ án và khi cần thiết có thể

thu thập thêm chứng cứ để bảo đảm cho việc

giải quyết vụ án được chính xác” (Điều 3)

“Sau khi Hội đồng xét xử kết thúc việc xét

hỏi, các đương sự, người đại diện của đương

sự, người bảo vệ quyền lợi của đương sự,

người đại diện tổ chức xã hội khởi kiện vì lợi

ích chung trình bày ý kiến của mình về đánh giá chứng cứ, đề xuất hướng giải quyết vụ án Sau đó, kiểm sát viên trình bày ý kiến của mình về hướng giải quyết vụ án” (Điều 51) Bàn về vấn đề này, nhiều người cho rằng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành là tương đối phù hợp Việc

áp dụng chúng trên thực tế trong những năm qua đã giúp cho toà án và các cơ quan tiến hành tố tụng dân sự khác giải quyết tốt các

vụ án về dân sự, hôn nhân và gia đình và các việc khác thuộc thẩm quyền của toà án; các

cá nhân, các tổ chức có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm đã thực hiện được việc bảo vệ quyền lợi của mình trước toà án Pháp luật tố tụng dân sự thời gian tới cần kế thừa, tiếp tục quy định cho các đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và trong trường hợp cần thiết toà án có nghĩa vụ xác minh, thu thập chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của đương sự.(12) Tranh tụng chỉ nằm trong phần tranh luận, điều này phù hợp với thực tiễn tố tụng của ta là kết hợp cả xét hỏi

và tranh luận.(13) Tuy vậy, vẫn có những ý kiến cho rằng các quy định này còn mang tính hình thức, trên thực tế không thực hiện được Tại phiên toà, trách nhiệm chứng minh được đặt lên vai hội đồng xét xử, đặc biệt là chủ toạ phiên toà còn các bên đương sự, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, những người tham gia tố tụng khác chỉ tham gia vào quá trình

chỉ là một hình thức để hợp pháp hoá một bản án đã quyết định trước rồi”.(15) Hội đồng xét xử còn chưa tôn trọng lắng nghe ý kiến

Trang 5

của luật sư, còn tư tưởng coi thường vai trò

của luật sư ở phiên toà.(16) Theo các ý kiến

này thì pháp luật tố tụng dân sự cần quy định

thay đổi lại một bước quy trình tố tụng

Phiên toà dân sự cần được diễn ra theo

hướng các bên đương sự thực hiện trách

nhiệm chứng minh còn toà án chỉ thẩm tra tư

cách của đương sự và những người tham gia

tố tụng khác để bảo đảm tính hợp pháp của

quá trình tố tụng tại phiên toà Toà án có

quyền tham gia vào quá trình đó bất cứ thời

điểm nào khi thấy cần thiết phải làm sáng tỏ

các tình tiết, chứng cứ nào đó về vụ án chưa

được các bên làm rõ.(17) Hơn thế, có ý kiến

còn cho rằng trong 10 năm tới chúng ta cần

phải chuyển tố tụng Việt Nam từ tố tụng xét

hỏi trong đó đề cao vai trò của thẩm phán

sang tố tụng tranh tụng, đặc biệt là trong tố

tụng dân sự để bảo đảm quyền tự định đoạt,

tăng sự tham gia của các luật sư trong tố

tụng dân sự, tránh tình trạng hình sự hoá.(18)

Qua quá trình nghiên cứu cho thấy

những năm gần đây tình hình kinh tế - xã hội

nước ta đã có những chuyển biến to lớn Bên

cạnh sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế thì

đời sống pháp luật của xã hội cũng có nhiều

thay đổi Nếu như trước đây trong nền kinh

tế tập trung quan liêu bao cấp chỉ coi trọng

việc bảo vệ lợi ích của Nhà nước thì ngày

nay trong sự phát triển của nền kinh tế thị

trường định hướng xã hội chủ nghĩa mọi

thành phần kinh tế đều bình đẳng, lợi ích

hợp pháp của mọi chủ thể đều được pháp

luật coi trọng và bảo vệ như nhau Công

cuộc cải cách tư pháp cũng đã làm thay đổi

tổ chức, hoạt động của bộ máy các cơ quan

tư pháp Chức năng nhiệm vụ của các cơ quan tư pháp đã được quy định lại cho phù hợp, khắc phục sự chồng chéo, kém hiệu quả trong việc thực hiện Để tăng cường quản lí nhà nước bằng pháp luật Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật mới có hiệu lực cao, như Bộ luật dân sự năm 1995, Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, Luật đất đai

2003, Luật tổ chức toà án nhân dân năm

2002, Luật tổ chức viện kiểm sát nhân dân năm 2002 Chính những điều này đã làm cho nhiều quy định của pháp luật tố tụng dân

sự Việt Nam và quy trình tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành không còn phù hợp nữa Việc hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, đổi mới quy trình tố tụng dân sự Việt Nam trong lúc này là điều rất cần thiết Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là việc hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, đổi mới quy trình tố tụng dân sự Việt Nam như thế nào cho bảo đảm được hiệu quả của hoạt động giải quyết vụ án Theo chúng tôi, việc hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự, đổi mới quy trình tố tụng dân sự Việt Nam vừa phải bảo đảm được tính khoa học, tính kế thừa nhưng phải phù hợp thực tế xã hội Việt Nam Tố tụng tranh tụng tuy có nhiều ưu điểm nhưng như đã nêu trên cũng có những nhược điểm của nó Tố tụng xét hỏi tuy có nhiều nhược điểm nhưng cũng có những ưu điểm nhất định Tố tụng xét hỏi tránh được những thủ tục rườm rà không cần thiết, làm cho toà án chủ động hơn trong việc giải quyết vụ án, bảo đảm được sự bình đẳng trong tố tụng Vì thế không những tiết kiệm được thời gian, tiền của của Nhà nước và

Trang 6

những người tham gia tố tụng mà còn khắc

phục được sự bất lợi cho các đương sự trong

trường hợp họ không có khả năng chứng

minh được quyền lợi của mình, bảo đảm việc

giải quyết vụ án dân sự được đúng đắn Thực

tiễn giải quyết các vụ án dân sự trong những

năm qua của các toà án cho thấy ở Việt Nam

tốt nhất nên kết hợp cả tranh tụng và xét hỏi

bằng việc tăng cường và đẩy mạnh tranh

tụng Điều này cũng phù hợp với xu thế

chung của thời đại Nhiều nước trên thế giới

như Pháp, Trung quốc, Đức hiện nay cũng

đang đi theo xu hướng này Làm như vậy

chúng ta sẽ phát huy được thế mạnh của

từng loại hình tố tụng và khắc phục được

những hạn chế của chúng Bên cạnh đó còn

một lí do khác nữa như ý kiến của nhiều

người là “ở Việt Nam khả năng tự bảo vệ

của các đương sự rất yếu Sự hiểu biết pháp

luật của họ còn hạn hẹp hơn Hơn nữa chế

định tham gia tố tụng bắt buộc của luật sư

trong tố tụng dân sự chưa có và cũng chưa

có điều kiện để thực hiện Nếu quy định

đương sự có nghĩa vụ chứng minh toàn bộ

thì có thể dẫn đến đương sự không có khả

năng chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích

hợp pháp của mình và hậu quả là quyền và

lợi ích hợp pháp của họ không được bảo vệ

Trong lúc đó, một bên đương sự khác có thể

được hưởng lợi không có căn cứ chỉ do

đương sự có yêu cầu đã không có khả năng

chứng minh được quyền của mình Việc phó

thác nghĩa vụ chứng minh cho các đương sự

để giải phóng hoàn toàn nghĩa vụ chứng

minh cho toà án nhân dân là một quan niệm

không đúng Từ đây có thể dẫn đến những

trường hợp đi chệch hướng”.(19) Sự kết hợp giữa hai loại hình tố tụng bằng việc tăng cường và đẩy mạnh tranh tụng sẽ đề cao được vai trò tích cực của các bên trong việc chứng minh làm rõ sự thật của vụ án và bảo đảm được vai trò chủ động của toà án trong việc giải quyết vụ án Hơn nữa, còn thực

hiện được đường lối của Đảng: “Khi xét xử, các toà án phải bảo đảm cho mọi công dân

đều bình đẳng trước pháp luật, thực sự dân chủ, khách quan; thẩm phán và hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; việc phán quyết của toà án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, của người bào chữa, bị cáo, nhân chứng, nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền, lợi ích hợp pháp để

ra những bản án, quyết định đúng pháp luật,

có sức thuyết phục và trong thời hạn pháp luật quy định”.(20)

Để tăng cường và đẩy mạnh tranh tụng, chúng ta phải giải quyết đồng bộ nhiều vấn

đề nhưng trước mắt phải giải quyết được những vấn đề cơ bản sau:

Thứ nhất, xây dựng các quy phạm pháp luật tố tụng dân sự về tranh tụng trong việc xây dựng Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam

để tạo cơ sở pháp lí cho việc tranh tụng Các quy phạm này phải đề cao được vai trò chủ động, tích cực của toà án trong việc giải quyết vụ án, vai trò của các đương sự trong việc bảo vệ quyền lợi của mình Theo đó, phải quy định cụ thể trình tự, thủ tục tranh tụng, quyền và nghĩa vụ của đương sự, những người tham gia tố tụng khác và của

Trang 7

toà án trong việc tranh tụng, nhất là ở thủ tục

tranh luận tại phiên toà Quy định của Dự

thảo Bộ Luật tố tụng dân sự Việt Nam lần

thứ 11 (Điều 233 đến Điều 236) về tranh

luận tại phiên toà tuy có nhiều điều tiến bộ

so với quy định của Điều 51 Pháp lệnh thủ

tục giải quyết các vụ án dân sự nhưng chưa

rõ ràng, hợp lí có thể dẫn đến tình trạng thẩm

phán lúng túng trong việc điều hành tranh

luận tại phiên toà, các đương sự thì trình bày

lặp đi, lặp lại các vấn đề của vụ án, làm kéo

dài thời gian tranh tụng

Thứ hai, tăng cường các hoạt động hỗ trợ

pháp lí trong tố tụng dân sự, đặc biệt là hoạt

động của các luật sư vì nói chung kinh

nghiệm tham gia tố tụng và trình độ hiểu biết

pháp luật của các đương sự rất hạn chế Trong

nhiều trường hợp họ không thể tiến hành

tranh tụng được nếu không có sự hỗ trợ pháp

lí cần thiết như đối với trường hợp có nhược

điểm về thể chất hoặc sự việc phức tạp

Thứ ba, tranh tụng có ý nghĩa lớn trong

việc tìm ra sự thật của vụ án, bảo vệ quyền

lợi của đương sự nhưng không phải ai cũng

có những nhận thức đúng về tranh tụng Do

vậy, phải tăng cường công tác giáo dục pháp

luật làm mọi người có nhận thức đúng về

tranh tụng Bảo đảm cho mọi đương sự tham

gia tranh tụng đều biết dựa vào chứng cứ,

pháp luật để lập luận bảo vệ quyền lợi của

mình, tránh việc tranh luận không có nội

dung chỉ là hình thức và ai nói gì thì nói

Thứ tư, phải có những chính sách, biện

pháp mạnh để nâng cao chất lượng đội ngũ

thẩm phán.(21) Thực tế đã chứng minh nếu

thẩm phán - người điều hành công lí thiếu

một trong ba yếu tố là trình độ chuyên môn,

nghiệp vụ xét xử và đạo đức nghề nghiệp thì không những không thực hiện tốt được việc xét hỏi mà còn không thể điều hành được việc tranh tụng, không thể nhận thức được sự thật của vụ án qua việc tranh tụng

(1).Xem: Giáo trình “Kĩ năng hành nghề luật sư”,

Trường đào tạo các chức danh tư pháp, Nxb CAND

2001, Tập I, tr 9

(2) Xem: Giáo trình “Luật La Mã”, Trường đại học

khoa học xã hội và nhân văn, Nxb ĐHQG 1996, tr 24, 25

(3).Xem: Nguyễn Huy Đẩu, “Luật tố tụng dân sự Việt

Nam”, Nxb Khai Trí 1962, tr 202

(4).Xem: Giáo trình “Luật La Mã”, Trường đại học

luật Hà Nội, Nxb CAND 2001, tr 139

(5).Xem: “Kỉ yếu hội thảo về luật tố tụng dân sự Nhật

Bản”, tr 33

(6), (8), (18).Xem: “Kỉ yếu hội thảo pháp luật tố tụng

dân sự Việt - Pháp” 2001, tr 6, 7

(7), (10).Xem: “Pháp luật tố tụng dân sự của một số

nước châu Âu, châu Mĩ La tinh và Đông Á”, Kỉ yếu

dự án VIE/95/017, tr 64, 92

(9).Xem: “Kỉ yếu hội thảo pháp luật tố tụng dân sự

Việt - Pháp” 2000, tr 25, 40

(11).Xem: Nguyễn Mạnh Bách, “Tìm hiểu pháp luật tố

tụng dân sự Việt Nam”, Nxb Đồng Nai 1996, tr 64, 65, 75

(12), (19).Xem: Phan Hữu Thư, “Nghĩa vụ cung cấp

chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự”, Tạp chí dân chủ và pháp luật, số 3/1999, tr 6, 5

(13).Xem: Vnexpress.net/Vietnam/Pháp luật ngày 25/5/2003

(14), (17) Xem: Nguyễn Thị Thu Hà, “Thủ tục xét

hỏi và tranh luận tại phiên toà dân sự sơ thẩm”, Tạp

chí luật học, số tháng 3/2003, tr 27, 28

(15).Xem: Nguyễn Thành Vĩnh, “Luật sư với việc bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân”, Nxb Pháp lý 1990, tr 81

(16).Xem: Nguyễn Quang Lộc, “Luật sư dưới góc

nhìn của thẩm phán”, Tạp chí dân chủ và pháp luật,

số 2/2002, tr 27

(20).Xem: Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 2/1/2002 của Bộ chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới

(21).Xem: Nguyễn Công Bình, “Nguyên tắc bảo đảm

quyền bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong tố tụng dân sự”, Tạp chí luật học, số 1/2002

Ngày đăng: 31/03/2014, 12:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w