1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo "Cần sửa đổi một số điều luật về tội phạm ma tuý " pdf

4 347 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 96,26 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngày 28/12/1989 Quốc hội đã ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự, trong Luật này có quy định tội sản xuất, tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái phép các chất ma t

Trang 1

T¹p chÝ luËt häc sè 5/2003 63

ThS TrÇn §øc Th×n *

ộ luật hình sự năm 1985 chỉ có một

điều luật duy nhất (Điều 203) quy định

tội tổ chức sử dụng chất ma tuý Các hành vi

tàng trữ, mua bán trái phép chất ma tuý sẽ bị

áp dụng các điều 97 và 166 để xử lí Điều

này gây không ít khó khăn cho quá trình xét

xử hình sự đối với các tội phạm này Ngày

28/12/1989 Quốc hội đã ban hành Luật sửa

đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình

sự, trong Luật này có quy định tội sản xuất,

tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái phép các

chất ma tuý tại Điều 96a Tuy vậy, phải

nhận thấy rằng tính chất mức độ nguy hiểm

của các hành vi sản xuất, tàng trữ, mua bán,

vận chuyển trái phép các chất ma tuý là

khác nhau mà quy định trong cùng một

điều luật sẽ dẫn đến việc áp dụng hình

phạt khó khăn Hơn thế, có một số hành vi

như chiếm đoạt ma tuý, trồng cây thuốc

phiện trái phép, sản xuất những dụng cụ

dùng vào việc sử dụng ma tuý, sử dụng

trái phép ma tuý chưa được quy định

trong luật mặc dù trên thực tế những hành

vi kể trên đã xảy ra và sự nguy hiểm của

nó ngày càng gia tăng Trước tình hình đó,

ngày 10/5/1997 tại kì họp thứ 11 Quốc hội

khóa IX đã ban hành Luật sửa đổi bổ sung

một số điều của Bộ luật hình sự, tại

chương VIIa của Luật này đã quy định các

tội phạm về ma tuý từ Điều 185a đến 185n

Sự ra đời của chương VIIa đã căn bản giải

quyết nhiều vấn đề mà thực tiễn đặt ra

Bộ luật hình sự năm 1999 đã quy định các tội phạm về ma tuý tại chương XVII từ Điều 192 đến Điều 201 Qua mấy năm áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự năm

1999, trong thực tiễn xét xử các tội phạm về

ma tuý đã bộc lộ những sai lầm, mà nguyên nhân của những sai lầm ấy một phần là do quy định của pháp luật hình sự có sự bất cập Đa số các điều luật của Bộ luật hình sự năm 1999, mỗi điều chỉ quy định một tội danh nhưng cũng có không ít điều trong đó quy định từ hai tội danh trở lên Việc áp dụng những điều luật có quy định từ hai tội danh trở lên trong thực tiễn xét xử đã nảy sinh những khó khăn trong việc định tội và quyết định hình phạt, nhất là khi những hành vi phạm tội được quy định trong điều luật ấy có sự liên quan mật thiết với nhau Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chỉ xin đề cập quy định của Bộ luật hình sự về các tội phạm ma tuý mà trong đó có những điều luật quy định nhiều tội danh (từ hai tội danh trở lên),

Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định 4 tội danh: Tàng trữ trái phép các chất ma tuý; vận chuyển trái phép các chất

ma tuý; mua bán trái phép các chất ma tuý

và chiếm đoạt các chất ma tuý Việc quy

B

* Trường đại học luật Hà Nội

Trang 2

64 T¹p chÝ luËt häc sè 5/2003

định này vừa dễ gây ra sự nhầm lẫn trong

khi định tội vừa khó khăn cho việc áp

dụng hình phạt

Về định tội đối với trường hợp này trên

thực tế đã có sự sai lầm Đó là trường hợp

khi một người chiếm đoạt ma tuý, thuốc

phiện trong kho tang vật và bán ra ngoài

cho người khác sử dụng thì toà án định tội

là mua bán và chiếm đoạt ma tuý Đáng lẽ

phải định hai tội danh khác nhau, quyết

định hình phạt riêng cho từng tội và sau đó

tổng hợp hình phạt theo nguyên tắc chung

Ngược lại một người mua bán trái phép ma

tuý, trước đó đã tàng trữ một số lượng ma

tuý nhất định để bán, lẽ ra phải định một

tội thì lại định hai tội là tàng trữ trái phép

ma tuý và mua bán trái phép ma tuý nhưng

lại quyết định một hình phạt chung Trong

Điều 194 quy định nhiều tội danh và do đó

hành vi phạm tội quy định ở điều này khá

phong phú Trên thực tế thì hành vi mà

người phạm tội thực hiện rất đa dạng

Người mua bán trái phép ma tuý có thể có

hành vi tàng trữ hay vận chuyển trái phép

ma tuý Tuy nhiên, nếu họ tàng trữ hay vận

chuyển trái phép ma tuý là nhằm để bán, do

đó họ chỉ bị xử lí về tội mua bán trái phép

ma tuý Giả sử ta gọi tính chất của hành vi

mua bán trái phép ma tuý là a; tính chất

của hành vi tàng trữ trái phép ma tuý là b;

tính chất của hành vi vận chuyển trái phép

ma tuý là c thì tính chất của tội mua bán

trái phép ma tuý có thể là:

- a: Nếu người phạm tội chỉ có hành vi

mua bán trái phép ma tuý

- b + a: Nếu người phạm tội có hành vi

tàng trữ trái phép ma tuý nhằm bán và đã bán trái phép ma tuý

- c + a: Nếu người phạm tội có hành vi

vận chuyển trái phép ma tuý để bán và đã bán trái phép ma tuý

- b + c + a: Nếu người phạm tội có hành

vi tàng trữ trái phép ma tuý để bán, vận chuyển trái phép ma tuý để bán và đã bán trái phép ma tuý

Dễ dàng nhận thấy rằng a khác b; b khác

c và c khác a Như vậy, b khác với b + a, khác với c + a và khác với b + c+ a Do đó,

việc quy định các tội tàng trữ trái phép ma tuý, vận chuyển trái phép ma tuý, mua bán trái phép ma tuý trong cùng một điều luật là chưa thấy hết sự khác nhau về tính chất của các hành vi phạm tội đó Mặt khác, nếu một người có hành vi chiếm đoạt chất ma tuý để bán trái phép thì cho dù chiếm đoạt là “để bán” cũng bị xử về hai tội là chiếm đoạt chất ma tuý và mua bán trái phép chất ma tuý Tính chất của các hành vi phạm tội mua bán ma tuý và chiếm đoạt ma tuý lại càng khác nhau, do đó nếu xếp vào trong cùng một điều luật là chưa hợp lí và đôi khi gây

ra sự nhầm lẫn trong thực tiễn xét xử như đã nêu trên Đồng ý rằng có thể có những điều luật quy định nhiều tội danh khác nhau nhưng những tội danh khác nhau đó phải có

tính chất nguy hiểm tương đương nhau Ví

dụ, có thể quy định tội tàng trữ trái phép

hoặc vận chuyển trái phép ma tuý trong cùng một điều luật còn mua bán trái phép

ma tuý và chiếm đoạt ma tuý thì nên quy định ở hai điều luật riêng biệt trong chương các tội phạm về ma tuý

Trang 3

T¹p chÝ luËt häc sè 5/2003 65

Điều 194 Bộ luật hình sự quy định 4

khung hình phạt để áp dụng cho các tội

phạm quy định tại điều này Khoản 1 quy

định hình phạt tù có thời hạn từ hai năm đến

bảy năm; khoản 2 từ bảy năm đến mười lăm

năm; khoản 3 từ mười lăm năm đến hai mươi

năm; khoản 4 quy định hình phạt từ hai mươi

năm, tù chung thân hoặc tử hình Hội đồng

thẩm phán Toà án nhân dân tối cao đã ban

hành Nghị quyết số 01/2001/NQ - HĐTP

ngày 15/3/2001 hướng dẫn áp dụng quy định

của các điều 139, 193, 194, 278, 279 và 289

Bộ luật hình sự năm 1999 trong đó tại Điều

3.1 hướng dẫn áp dụng hình phạt đối với

trường hợp phạm tội ở khoản 4 Điều 193 và

khoản 4 Điều 194 Bộ luật hình sự Việc áp

dụng các mức hình phạt, hình thức phạt

khác nhau chỉ thuần tuý dựa vào tính chất

của các hành vi phạm tội khác nhau quy

định tại khoản 4 Điều 194 Như vậy, có thể

hiểu rằng bất kể người nào có hành vi tàng

trữ trái phép ma tuý hoặc tàng trữ trái phép

ma tuý để bán; vận chuyển trái phép hoặc

vận chuyển trái phép ma tuý để bán hoặc

đơn giản chỉ là hành vi mua bán trái phép

hoặc chiếm đoạt chất ma tuý nếu định lượng

đã xác định cụ thể thì áp dụng mức hình

phạt hoặc hình thức hình phạt chung thân

hay tử hình như đã hướng dẫn Xin được

nêu lại rằng theo chúng tôi tính chất nguy

hiểm của các hành vi phạm tội quy định tại

Điều 194 là khác nhau tương đối, đặc biệt là

hành vi chiếm đoạt trái phép ma tuý và lại

càng khác xa với tính chất của hành vi phạm

tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép

ma tuý quy định tại Điều 194 Bộ luật hình

sự năm 1999

Tương tự như Điều 194, Điều 200 Bộ luật hình sự năm 1999 cũng quy định hai tội danh: Tội cưỡng bức người khác sử dụng trái phép chất ma tuý; tội lôi kéo người khác

sử dụng trái phép chất ma tuý Rất dễ dàng nhận thấy rằng hành vi cưỡng bức người khác và hành vi lôi kéo người khác có tính chất nguy hiểm khác nhau Hành vi cưỡng bức người khác sử dụng trái phép ma tuý được biểu hiện bởi việc người phạm tội dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực hay thủ đoạn khác buộc một người phải sử dụng

ma tuý trái với ý muốn của họ Hành vi lôi kéo người khác sử dụng trái phép ma tuý biểu hiện qua những hành vi như thuyết phục, rủ rê, dụ dỗ, phỉnh nịnh… người nào

đó và do bị những tác động ấy từ phía người phạm tội nên nạn nhân đã tự nguyện sử dụng ma tuý Như vậy, về mặt khách quan, hành vi dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực luôn luôn nguy hiểm hơn hành vi thuyết phục rủ rê, dụ dỗ… Về mặt chủ quan cũng cho thấy rõ điều này, một bên, người bị cưỡng bức buộc phải sử dụng ma tuý trái với ý muốn của họ và một bên người bị lôi kéo đã tự nguyện sử dụng trái phép ma tuý

Rõ ràng, tính chất của hai hành vi phạm tội quy định ở hai tội danh trong cùng Điều 200

Bộ luật hình sự năm 1999 không thể là tương đương nhau

Từ những phân tích trên, chúng tôi đề nghị sửa đổi một số điều luật về tội phạm

ma tuý như sau:

- Tách Điều 194 Bộ luật hình sự năm

1999 thành 3 điều luật khác nhau như sau:

Trang 4

66 T¹p chÝ luËt häc sè 5/2003

+ Điều 194a: Tội tàng trữ hoặc vận

chuyển trái phép các chất ma tuý

+ Điều 194b: Tội mua bán trái phép các

chất ma tuý

+ Điều 194c: Tội chiếm đoạt các chất ma tuý

- Tách Điều 196 thành 3 điều luật khác

nhau như sau:

+ Điều 196a: Tội sản xuất trái phép các

phương tiện, công cụ dùng vào việc sản xuất

hoặc sử dụng trái phép chất ma tuý

+ Điều 196b: Tội tàng trữ hoặc vận

chuyển các phương tiện công cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất

ma tuý

+ Điều 196c: Tội mua bán trái phép các công cụ, phương tiện dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma tuý

- Điều 200 cũng nên tách thành 2 điều sau: + Điều 200a: Tội cưỡng bức người khác

sử dụng trái phép chất ma tuý

+ Điều 200b: Tội lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma tuý./

Qu¸ tr×nh ph¸t triÓn

(tiÕp trang 35)

Các vấn đề bất cập nêu trên nói lên

thực trạng cơ chế ba quyền năng (chiếm

hữu, sử dụng, định đoạt) không thể thể hiện

hết được bản chất pháp lí của quyền sở hữu

tài sản Câu hỏi được đặt ra cho các nhà

nghiên cứu luật là: Ngoài ba quyền năng đó

ra thì còn phải bổ sung thêm nội dung gì

nữa mới thể hiện hết được bản chất của

quyền sở hữu?

Điều dễ nhận thấy rằng nếu bổ sung

một vài quyền năng nữa cho khái niệm

quyền sở hữu tài sản thì cũng không thể

giải quyết được triệt để các vấn đề nêu trên

Khái niệm tài sản thế hệ thứ năm (thuộc về

tương lai) đòi hỏi không chỉ bổ sung một

vài quyền năng nữa mà cần thiết phải có

một bước thay đổi cơ bản về cách hiểu khái

niệm quyền sở hữu Vậy đâu là phương

hướng mà pháp luật trong tương lai sẽ lựa

chọn? Khái niệm quyền sở hữu thế hệ thứ

năm sẽ như thế nào? Câu hỏi đó chắc chắn

sẽ trở thành mối quan tâm của các nhà nghiên cứu luật dân sự Tại đây tôi chỉ xin tạm thời nêu một chút cảm nhận ban đầu như sau để chúng ta cùng thảo luận: Khái niệm quyền sở hữu trong tương lai có thể

sẽ không liệt kê các quyền năng mà chỉ liệt

kê các hạn chế của chủ sở hữu Nói cách khác, chủ sở hữu sẽ có mọi quyền năng, ngoại trừ một số hạn chế cụ thể mà pháp luật quy định không cho phép chủ sở hữu được thực hiện Kèm theo đó pháp luật có thể cụ thể hoá hơn nữa các nghĩa vụ của chủ sở hữu đối với tài sản của mình Phương hướng đó sẽ phù hợp với nguyên tắc chung thực hiện quyền sở hữu được quy

định tại Điều 178 BLDS: “Chủ sở hữu được thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình đối với tài sản, nhưng không được làm thiệt hại và ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lîi Ých

hîp ph¸p cña ng−êi kh¸c./

Ngày đăng: 31/03/2014, 12:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w