Có lẽ vì đặc tính này của chứng khoán mà luật pháp các nước điều chỉnh bán khống thường có quy định cụ thể thế nào là bán khống cũng như từng hoàn cảnh trong đó người bán có thể được coi
Trang 1TS NguyÔn ThÞ ¸nh V©n * uật pháp điều chỉnh chứng khoán và thị
trường chứng khoán của các nước
thường có các điều khoản chống gian lận và
lừa đảo trên thị trường chứng khoán Nghị định
số 48/1998/NĐ-CP ngày 11/7/1998 (Nghị định
48/1998) của Việt Nam cũng dành chương VIII
quy định về các hành vi bị cấm và hạn chế
Những quy định này mới được xây dựng lần
đầu nên còn nhiều vấn đề cần được tranh
luận nhằm hoàn thiện Bài viết này đề cập
hai vấn đề là quy chế điều chỉnh bán khống
và mua chứng khoán trên cơ sở tín dụng
1 Quy chế điều chỉnh bán khống
Điều 69 Nghị định 48/1998 với tiêu đề
“Bán khống” quy định: “Cấm mọi tổ chức,
cá nhân bán chứng khoán dưới mọi hình
thức khi không sở hữu chứng khoán vào thời
điểm giao dịch” Thuật ngữ “Bán khống”
mặc dù được sử dụng ngay ở tiêu đề của
điều khoản nhưng không hề được giải thích
trong nội dung của nó cũng như trong phần
“Giải thích thuật ngữ” tại Điều 2 Nghị định
48/1998 Quyết định số 79/2000/QĐ-UBCK
ngày 29/12/2000 (Quyết định 79/2000) ban
hành Quy chế thành viên, niêm yết, công bố
thông tin và giao dịch chứng khoán, Quyết
định số 50/2003/QĐ-BTC ngày 15/4/2003
(Quyết định 50/2003) sửa đổi một số điều của
Quyết định số 79/2000 cũng không làm sáng
tỏ thêm về thuật ngữ trên.(1)
Dựa vào nội dung khá cô đọng của Điều 69 Nghị định 48/1998, có thể hiểu về thuật ngữ
“bán khống” được sử dụng ở đây là bán chứng khoán khi người bán không sở hữu chứng khoán đó vào thời điểm giao dịch Tuy nhiên, đến đây lại vấp phải trở ngại nữa
là liệu trong những trường hợp nào thì người bán chứng khoán được coi là sở hữu chứng khoán Có lẽ khó có thể chỉ đơn thuần dựa vào các yếu tố cấu thành quyền
sở hữu quy định trong Bộ luật dân sự để xác định quyền sở hữu đối với chứng khoán được giao dịch vì chứng khoán là loại hàng hoá đặc biệt Tính chất đặc biệt đó là ở chỗ người mua chứng khoán không nhằm chiếm hữu chứng khoán đó để khai thác giá trị sử dụng như khi mua đa số các loại hàng hoá khác mà là để hưởng lãi suất do chứng khoán đem lại hoặc thậm chí chỉ đơn thuần
là nhằm bán lại chứng khoán đó để kiếm lời
Có lẽ vì đặc tính này của chứng khoán mà luật pháp các nước điều chỉnh bán khống thường có quy định cụ thể thế nào là bán khống cũng như từng hoàn cảnh trong đó người bán có thể được coi là sở hữu chứng khoán
Luật pháp của Mĩ có quy định rất chi tiết
L
* Giảng viên Khoa pháp luật kinh tế Trường đại học luật Hà Nội
Trang 2về các vấn đề này, theo đó bán khống là
việc bán loại chứng khoán không thuộc
quyền sở hữu của người bán hoặc việc bán
chứng khoán được thực hiện thông qua việc
chuyển giao chứng khoán người bán đi
mượn hoặc người chuyển giao chứng khoán
mượn hộ người bán Pháp luật chứng khoán
của Mĩ đề ra bốn trường hợp cụ thể trong đó
người được coi là sở hữu chứng khoán gồm:
Một là, cá nhân hoặc đại lí của cá nhân đó
có quyền sở hữu chứng khoán; hai là, người
đã mua chứng khoán hoặc kí kết hợp đồng
vô điều kiện, ràng buộc cả hai bên, để mua
chứng khoán nhưng chưa nhận được chứng
khoán; ba là, người sở hữu chứng khoán có
khả năng chuyển đổi (convertible security)
và đã đem chứng khoán đó chuyển đổi sang
chứng khoán khác; bốn là, người có quyền
chọn (option) mua chứng khoán và đã thực
hiện quyền đó.(2) Tương tự như trường hợp
của Mĩ, pháp luật chứng khoán của Nhật
B¶n cũng có điều khoản cụ thể định nghĩa
về bán khống.(3)
Như vậy, pháp luật của Việt Nam mới
chỉ đơn giản cấm tất cả các tổ chức và cá
nhân bán chứng khoán khi không sở hữu
chứng khoán ở thời điểm giao dịch mà
chưa bao hàm các yếu tố cần thiết để xác
định hành vi bị cấm Điều này sẽ dẫn đến
khó khăn khi xác định hành vi bị cấm trên
thực tế
Bên cạnh đó, bản thân việc cấm bán
khống theo pháp luật hiện hành cũng là điều
cần phải được thảo luận thêm Theo Điều 69
Nghị định 48/1998, mọi hoạt động bán
khống trên thị trường chứng khoán đều bị
cấm Mới đây, khoản 5 Điều 1 Quyết định
số 50/2003 vẫn tiếp tục yêu cầu khách hàng
khi đặt lệnh bán chứng khoán phải có đủ số lượng chứng khoán đặt bán trên tài khoản chứng khoán mở tại thành viên Trung tâm giao dịch chứng khoán Quy định này làm cho nhà đầu tư, đặc biệt nhà đầu tư nước ngoài có cảm giác luật pháp Việt Nam quá khắt khe trong việc điều chỉnh các giao dịch trên thị trường chứng khoán
Có ý kiến cho rằng quy định cấm bán khống là sáng tạo của Việt Nam nhằm ngăn chặn hoạt động đầu cơ bán khống chứng khoán vì chính hoạt động này đã gây ra cuộc khủng hoảng tài chính ở Đông
Á năm 1997.(4) Theo các báo cáo của Ngân hàng thế giới (World Bank) và của Tổ chức quốc tế về các
uỷ ban chứng khoán (International Organization
of Securities Commisions, gọi tắt là IOSCO) th×
có nhiều nguyên nhân dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chính ở các nước Đông Á cuối thập
kỉ 90 Báo cáo của Uỷ ban các thị trường mới nổi (Emerging Markets Committee) thuộc IOSCO đưa ra ba nhóm nguyên nhân chủ yếu dẫn tới cuộc khủng hoảng này Nhóm thứ nhất gồm các vấn đề thuộc kinh tế vĩ
mô, chủ yếu đề cập hệ quả của luồng vốn đầu tư lớn tràn vào các nước đang phát triển
và đến chính sách tiền tệ của các nước này Các vấn đề đó bao gồm: 1) Sự tăng lên của các nguồn vốn đổ vào các nước đang phát triển tuy có thể đem lại lợi ích cho các nước này nhưng đồng thời cũng mang theo cả sự rủi ro, đặc biệt khi thiếu các điều kiện tiên quyết để đảm bảo sử dụng hợp lí các nguồn vốn đó; 2) Luồng vốn lớn đổ vào các nước
có thị trường mới nổi đầu thập kỉ 90 cùng
Trang 3với sự bùng nổ tín dụng đã dẫn đến tình
trạng đầu tư thái quá và hoạt động đầu cơ
trong lĩnh vực bất động sản cũng như trên
thị trường chứng khoán, thậm chí còn cho
phép vốn tín dụng tràn vào cả khu vực phi
thương mại; 3) Chính sách kiềm chế tỉ giá
hối đoái áp dụng ở các nước chịu ảnh hưởng
của cuộc khủng hoảng đã làm mất đi khả
năng cạnh tranh của các nước này Bên cạnh
đó, sự giảm sút về cầu của thế giới đối với
một số mặt hàng chủ yếu nhập khẩu từ các
nước châu Á, sự phục hồi kinh tế chậm chạp
của Nhật Bản và sức cạnh tranh ngày càng
mạnh của các nước có chi phí sản xuất thấp
đã đưa các nước chịu ảnh hưởng của cuộc
khủng hoảng lâm vào tình trạng mất cân đối
trong cán cân thương mại (current account
deficit)
Nhóm thứ hai gồm các vấn đề thuộc cấu
trúc Đó là những yếu kém trong nội bộ các
nền kinh tế chịu ảnh hưởng của cuộc khủng
hoảng như: 1) Sự thả nổi và tự do hoá khu
vực tài chính ở các nước chịu ảnh hưởng
nặng nề nhất của cuộc khủng hoảng đã đặt
khu vực tài chính của các nước này trước rủi
ro; 2) Thị trường nợ kém phát triển ở các
nước này đã làm cho nền kinh tế phải dựa
quá mức vào nguồn vốn tín dụng của ngân
hàng, làm cho ngân hàng phải đương đầu
với rủi ro tín dụng; 3) Sự thất bại trong việc
điều chỉnh và giám sát các tổ chức tài chính;
4) Những yếu kém trong hoạt động công bố
thông tin và trong quản trị công ti đã làm
nảy sinh những vấn đề nghiêm trọng trong
khu vực tài chính và công ti; 5) Các quyết
định cho vay thiếu đúng đắn vì dựa trên
mục tiêu lợi nhuận lí tưởng chứ không phải
là lợi nhuận dự kiến
Cuối cùng là nhóm các vấn đề trên thị trường tài chính bao gồm cả hoạt động của thị trường tài chính trong nước và sự ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hoá các tổ chức tài chính đối với thị trường tài chính của mỗi nước Những vấn đề này gồm: 1)
Sự bất ổn của thị trường tiền tệ lan cả sang thị trường vốn cổ phần và đã làm đảo lộn nền kinh tế của nhiều nước Đông Á Nói cách khác, sự phá giá mạnh đồng tiền ở các nước Đông Á là một trong những nguyên nhân dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chính ở các nước này Thêm vào đó, đầu cơ tiền mặt cùng với chính sách ấn định tỉ giá hối đoái của các nước có thị trường mới nổi đã làm cho nền kinh tế các nước này trở nên dễ bị tổn thương; 2) Việc sử dụng các công cụ trên thị trường trao tay (đặc biệt là các công
cụ phái sinh-derivatives) và các giao dịch ngoại bảng (off-balance-sheet-transactions) mặc dù không tự thân gây ra cuộc khủng hoảng tài chính nhưng lại có thể làm cho cuộc khủng hoảng thêm phần nghiêm trọng; 3) Sự lây lan về tài chính nảy sinh từ việc toàn cầu hoá hệ thống tài chính: Do hệ thống tài chính đang ngày càng toàn cầu hoá và thống nhất, sự bất ổn trên thị trường của một nước hoặc sự phá giá đồng tiền của một nước
đã dẫn đến những hệ quả tương tự ở một số nước khác
Như vậy có rất nhiều hoạt động nguyên nhân dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chính Đông Á vào cuối thập kỉ 90 Mặc dù đầu cơ trên thị trường chứng khoán cũng được đề cập trong bản báo cáo như là một trong những vấn đề thuộc kinh tế vĩ mô nhưng rõ
Trang 4ràng đầu cơ chứng khoán không phải là lí do
duy nhất và lại càng không phải là lí do chủ
yếu dẫn đến cuộc khủng hoảng Nhận định
này dường như cũng được Uỷ ban các thị
trường mới nổi của IOSCO ủng hộ Ngay ở
lời nói đầu của bản báo cáo nói trên đã cho
thấy các cuộc thảo luận về nguyên nhân của
cuộc khủng hoảng đều tập trung vào các vấn
đề kinh tế vĩ mô, tuy nhiên các vấn đề có
liên quan đến thị trường chứng khoán lại
không thu hút được sự chú ý
Có ý kiến thậm chí còn cho rằng
nguyên nhân chủ yếu dẫn đến cuộc khủng
hoảng nói trên là do chính sách tiền tệ
nhằm kiềm chế tỉ giá hối đoái mà nhiều
quốc gia châu Á theo đuổi trong suốt giai
đoạn trước khủng hoảng.(5)
Nếu quả thật quy định cấm bán khống
của ta nảy sinh từ mối lo ngại về quan hệ
nhân quả giữa bán khống và khủng hoảng
tài chính thì có lẽ chúng ta đã đi quá xa Nói
như vậy không có nghĩa là khẳng định sự vô
hại của bán khống Xung quanh cái lợi và
cái hại mà bán khống có thể đem lại vẫn còn
có nhiều tranh cãi Có ý kiến cho rằng bán
khống làm đảo lộn thị trường, cưỡng ép tính
thanh khoản và đẩy nhanh tốc độ giảm giá
chứng khoán.(6)
Gần đây, Uỷ ban chứng khoán và thị
trường chứng khoán Mĩ trong cuộc trưng
cầu dân ý về việc sửa đổi pháp luật điều
chỉnh bán khống, tuy đã nhấn mạnh bán
khống có thể sử dụng như một công cụ để
lũng đoạn thị trường nhưng cũng đã phải
thừa nhận hai tác dụng tích cực của bán
khống Một là bán khống cung cấp tính
thanh khoản cho thị trường (market
liquydity); hai là bán khống tạo ra tính hiệu quả về giá chứng khoán trên thị trường (pricing efficiency).(7)
Bán khống đem lại tính thanh khoản cho thị trường vì khi người hành nghề kinh doanh chứng khoán thực hiện các giao dịch bán khống theo lệnh của khách hàng họ đã làm giảm bớt sự mất cân đối tạm thời giữa cung và cầu chứng khoán, vì vậy đã tạo ra
sự thanh khoản đáng kể cho thị trường Như vậy, thông qua người hành nghề kinh doanh chứng khoán, hoạt động bán khống đã tăng thêm cung chứng khoán, vì thế làm giảm đi rủi ro mà nhà đầu tư đáng lẽ phải gánh chịu
do phải trả giá chứng khoán cao một cách giả tạo chỉ vì sự thiếu hụt tạm thời của cung chứng khoán
Bán khống tạo ra tính hiệu quả về giá chứng khoán vì trong thị trường chứng khoán hiệu quả, giá cả phải hoàn toàn phản ánh được lợi ích của cả người bán và người mua Khi tham gia vào giao dịch chứng khoán, cả người mua và người bán khống đều hi vọng kiếm lời từ chênh lệch giữa giá mua và giá bán Thông thường, người bán khống một loại chứng khoán nào đó tin tưởng rằng giá chứng khoán đó đang cao hơn giá trị thực và chắc chắn sẽ giảm Như vậy, bằng việc thực hiện giao dịch bán khống, người bán khống đã thông tin cho thị trường về đánh giá của mình đối với giá của chứng khoán đó trong tương lai Chính điều này đóng góp cho tính hiệu quả về giá chứng khoán Hơn nữa, qua việc sử dụng bán khống để kiếm lời, người bán chứng khoán cũng làm tăng thêm tính hiệu quả về giá cả
Trang 5Bất kể những quan điểm trái ngược
nhau về cái lợi và hại của bán khống, trên
thực tế, các quốc gia như Hà Lan, Pháp,
Đức, Anh và Mĩ đều đã lần lượt gỡ bỏ quy
định cấm bán khống Ngày nay ở các
nước, bán khống chỉ bị đặt dưới sự kiểm
soát chứ không còn là loại giao dịch bị
cấm trên thị trường chứng khoán Các nhà
làm luật thường đề ra những điều kiện
trong đó những đối tượng xác định được
phép thực hiện giao dịch bán khống và
những hoàn cảnh trong đó bán khống bị
coi là bất hợp pháp
Luật thị trường chứng khoán của Mĩ
điều chỉnh hoạt động bán khống có phân
biệt hai nhóm chủ thể: Người nội bộ công ti
(corporate insiders) và những người khác
Luật pháp Mĩ chỉ cấm người nội bộ công ti
bán chứng khoán của chính công ti họ khi
họ không sở hữu chứng khoán đó còn
những người khác được phép bán khống
trừ khi giá của loại chứng khoán đó trên thị
trường đang có xu hướng giảm Nói cách
khác, đối với nhóm người thứ hai, bán
khống chỉ bị coi là bất hợp pháp khi loại
chứng khoán đó đang giảm giá trên thị
trường Mục đích của việc điều chỉnh bán
khống của Mĩ là cho phép thực hiện bán
khống khi giá chứng khoán trên thị trường
đang tăng, loại trừ hoạt động bán khống
nhằm lái giá chứng khoán trên thị trường
xuống dốc nhằm ngăn ngừa hiện tượng sử
dụng bán khống làm công cụ đẩy nhanh sự
giảm giá chứng khoán
Luật chứng khoán và thị trường chứng
khoán của Nhật B¶n cũng chỉ cấm bán khống khi giá của chứng khoán đó trên thị trường
có xu hướng giảm Khi giá chứng khoán trên thị trường tăng hoặc ổn định, giao dịch bán khống được phép thực hiện
Qua những phân tích trên, có thể thấy quy định về bán khống của Việt Nam là quá thận trọng Điều này có thể lí giải trong điều kiện thị trường chứng khoán Việt Nam còn ở giai đoạn trứng nước Trong tương lai, nếu không có quy chế điều chỉnh thích hợp đối với hoạt động bán khống, vô hình trung chúng ta đã tước bỏ của thị trường chứng khoán một công cụ hữu ích Thừa nhận bán khống nhưng ph¶i đặt hoạt động này trong vòng kiểm soát nhất định, một mặt sẽ ngăn chặn được những bất lợi mà bán khống có thể gây ra, mặt khác tạo điều kiện để khai thác triệt để lợi ích mà công
cụ này có thể đem lại cho thị trường chứng khoán và nhà đầu tư
2 Quy chế điều chỉnh hoạt động mua chứng khoán trên cơ sở tín dụng
Điều 72 Nghị định 48/1998 với tiêu đề
“Tham gia hoạt động tín dụng và cho vay
chứng khoán” quy định: “Tổ chức kinh
doanh chứng khoán, người hành nghề kinh doanh chứng khoán không được hoạt động
cứ vào nội dung điều khoản này có thể thấy hai loại hoạt động mà tổ chức kinh doanh chứng khoán và người hành nghề kinh doanh chứng khoán không được phép thực hiện Một là, Điều 72 Nghị định 48/1998 cấm các đối tượng nói trên cấp tín dụng một
Trang 6loại hình hoạt động ngân hàng Quy định
này xem ra logic vì nếu đã quy định các tổ
chức tín dụng không được trực tiếp kinh
doanh chứng khoán (Điều 29 Nghị định
48/1998) thì việc quy định các tổ chức kinh
doanh chứng khoán không được thực hiện
hoạt động tín dụng là công bằng và thoả
đáng Điều này có thể hiểu được vì trong
lịch sử điều chỉnh thị trường chứng khoán ở
các nước trên thế giới đã có lúc hoạt động
ngân hàng và hoạt động kinh doanh chứng
khoán được bóc tách rành mạch, ngân hàng
và các công ti chứng khoán không được
bước sang lãnh địa kinh doanh của nhau.(8)
Hai là, việc Điều 72 Nghị định 48/1998
cấm các đối tượng nói trên cho vay chứng
khoán nhằm góp phần hỗ trợ và củng cố
thêm cho Điều 69 Nghị định 48/1998 (về
cấm bán khống, tức là cấm bán chứng
khoán mà người bán không sở hữu, hay nói
cách khác, cấm đi vay chứng khoán để bán
lại) Quy định này xem ra cũng rất logic vì
nếu đã cấm hoạt động đi vay chứng khoán
thì việc cấm hoạt động cho vay chứng
khoán là khôn ngoan nhằm ngăn chặn tận
gốc hành vi bị cấm
Tuy nhiên, nếu xem xét nội dung Điều 57
Quyết định 79/2000 thì mới vỡ lẽ về mục
đích của Điều 72 Nghị định 48/1998 Theo
Điều 57, khi đặt lệnh mua chứng khoán, số
dư tài khoản của khách hàng mở tại thành
viên Trung tâm giao dịch chứng khoán phải
đáp ứng quy định kí quỹ tương đương 100%
giá trị chứng khoán đặt mua Như vậy,
khách hàng muốn đặt lệnh mua chứng
khoán phải có đủ tiền trên tài khoản chứ không được phép đi vay Do đó, cái mà Điều 72 cấm lại là việc cấp tín dụng cho khách hàng để mua chứng khoán Nói cách khác, điều khoản này không cho phép “mua chứng khoán trên cơ sở tín dụng” (margin trading) Như vậy, nội dung của Điều 72 cần được hiểu là: Cấm các tổ chức kinh doanh chứng khoán và người hành nghề kinh doanh chứng khoán cho khách hàng vay chứng khoán hoặc cho vay tiền để khách hàng mua chứng khoán
Điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động mua chứng khoán trên cơ sở tín dụng cũng là điều phù hợp với thông lệ ở các nước có thị trường chứng khoán Chỉ có điều mức độ điều chỉnh bằng pháp luật ở mỗi nước có thể không giống nhau xuất phát từ cách nhìn khác nhau về cái lợi và cái hại của loại giao dịch này
Cái lợi mà hoạt động mua chứng khoán trên cơ sở tín dụng có thể đem lại cho thị trường chứng khoán là ở chỗ nó có khả năng tạo tính thanh khoản cho thị trường và thúc đẩy thị trường hoạt động nhộn nhịp Các nhà nghiên cứu thậm chí còn cho rằng loại giao dịch này cần phải được thừa nhận trên thị trường vì nó có khả năng chuyển một thị trường ảm đạm, ốm yếu thành thị trường sôi động.(9)
Mặc dù có những tác dụng tích cực trên nhưng hoạt động mua chứng khoán trên cơ
sở tín dụng cũng có thể dẫn đến những bất lợi cho nền kinh tế nói chung, cho thị trường chứng khoán nói riêng và cho cả nhà đầu tư
Trang 7Theo các ông Loss và Segliman - hai giáo
sư đầu ngành về pháp luật chứng khoán và
thị trường chứng khoán của Mĩ th× có ba lí
do chính để đặt hoạt động mua chứng khoán
trên cơ sở tín dụng trong vòng kiểm soát:
Một là, nhằm ngăn chặn những tình huống
trong đó nguồn vốn tín dụng của quốc gia
đáng lẽ được phân bổ với lãi suất bình
thường cho các lĩnh vực thương mại, công
nghiệp và nông nghiệp lại bị vắt kiệt vào
việc cấp tín dụng cho hoạt động đầu cơ trên
thị trường chứng khoán vì lãi suất hấp dẫn
hơn; hai là, nhằm bảo vệ người mua chứng
khoán trên cơ sở tín dụng tránh khỏi rủi ro
có thể xảy ra do mua chứng khoán chủ yếu
bằng tiền đi vay; ba là, nhằm duy trì nền
kinh tế ổn định và ngăn chặn sự dao động
quá mức trên thị trường chứng khoán.(10)
Do những lợi ích mà hoạt động mua
chứng khoán trên cơ sở tín dụng đem lại
cũng như những bất lợi mà hoạt động này
có thể gây ra, luật pháp các nước mặc dù
thừa nhận loại giao dịch này trên thị trường
chứng khoán nhưng cũng không thả nổi hoạt
động này mà đặt chúng trong những giới
hạn nhất định Pháp luật chứng khoán và thị
trường chứng khoán của Mĩ không cấm việc
mua chứng khoán trên cơ sở tín dụng mà
cho phép khách hàng vay tới 50% giá thị
trường của lượng chứng khoán định mua để
thực hiện giao dịch.(11) Tuy nhiên, giới hạn
về tín dụng này chỉ áp dụng đối với việc
mua cổ phiếu mà không áp dụng đối với
việc mua trái phiếu chính phủ và trái phiếu
công ti.(12)
Tương tự như trường hợp của Mĩ, luật
pháp của Nhật B¶n cũng cho phép thực hiện hoạt động mua chứng khoán trên cơ sở tín dụng nhưng yêu cầu khách hàng kí quỹ một khoản tiền nhất định theo quy định của Thủ tướng chính phủ.(13)
Nh− vËy, Nghị định 48/1998 đã quá khắt khe khi cấm hoạt động mua chứng khoán trên cơ sở tín dụng và vì thế đã bỏ lỡ cơ hội khai thác những ưu thế của hoạt động này Sau gần ba năm Trung tâm giao dịch chứng khoán Việt Nam hoạt động trong sự vắng mặt của loại giao dịch này, vừa qua, quy chế điều chỉnh mua chứng khoán trên cơ sở tín dụng đã được sửa đổi theo hướng thừa nhận việc cấp tín dụng để đầu tư vào chứng khoán Khoản 5 Điều 1 Quyết định 50/2003 quy định khi đặt lệnh mua chứng khoán, số dư trên tài khoản bằng tiền của khách hàng mở tại thành viên Trung tâm giao dịch chứng khoán phải đáp ứng quy định kí quỹ tối thiểu là 70% giá trị chứng khoán đặt mua Điều đó có nghĩa là pháp luật cho phép nhà đầu tư được vay tới 30% giá trị chứng khoán đặt mua Như vậy, pháp luật chứng khoán của Việt Nam đã từng bước tiếp thu kinh nghiệm của các nước trong lĩnh vực điều chỉnh các giao dịch trên thị trường chứng khoán Điều này sẽ góp phần thu hẹp sự khác biệt giữa thị trường chứng khoán Việt Nam với thị trường chứng khoán ở các nước phát triển và có thể làm cho thị trường chứng khoán Việt Nam thêm hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài
3 Hướng hoàn thiện pháp luật điều chỉnh bán khống và mua chứng khoán trên cơ sở tín dụng
Như đã phân tích ở trên, cả hai loại giao
Trang 8dịch bán khống và mua chứng khoán trên cơ
sở tín dụng đều có ảnh hưởng tích cực đối
với hoạt động của thị trường chứng khoán
nếu được điều chỉnh bằng những quy chế
thích hợp
Trước hết, nhằm giảm bớt những khó
khăn, nhầm lẫn không đáng có trong quá
trình thực hiện và áp dụng pháp luật, loại
giao dịch chứng khoán được điều chỉnh bởi
Điều 69 và Điều 72 Nghị định 48/1998 cần
phải được quy định rõ Các yếu tố cần thiết
cho việc xác định từng loại giao dịch (nếu
có) cần phải có định nghĩa cụ thể
Tiếp đến, để ngăn chặn những tác động
tiêu cực mà giao dịch bán khống có thể gây
ra trên thị trường chứng khoán, trong tương
lai, quy chế điều chỉnh bán khống cần phải
được xây dựng có phân biệt chủ thể thực
hiện giao dịch bán khống cũng như phân
biệt tình trạng giá cả của chứng khoán mà ở
thời điểm đó giao dịch bán khống được thực
hiện, từ đó xác định tính hợp pháp và bất
hợp pháp của các hoạt động bán khống
Không nên đổ đồng hoạt động bán khống và
triệt để cấm hoạt động này như hiện nay vì
làm như vậy sẽ không khai thác được thế
mạnh của loại giao dịch này
Và cuối cùng, việc thừa nhận của pháp
luật hiện hành đối với hoạt động mua chứng
khoán trên cơ sở tín dụng là bước đi đúng
hướng tạo điều kiện thúc đẩy thị trường
chứng khoán phát triển Tuy nhiên, việc tìm ra
một giới hạn kí quỹ (margin requyrement)
thoả đáng để loại giao dịch này được thực
hiện sẽ giúp Việt Nam thành công trong
việc tạo lập và khai thác công cụ hữu ích
cho thị trường chứng khoán./
(1) Điều 57 khoản Quyết định 79/2000 và khoản 5 Điều 1 Quyết định 50/2003 đều có quy định về loại giao dịch này
(2).Xem: Rule 3b-3 (issued by the US Securities and
Exchange Commission)
(3).Xem: Cabinet Order for Enforcement of the Securities and Exchange Law (Cabinet Order No 321), Article 26-3
(4).Xem: Vũ Ngọc Nhung, “Hoàn thiện thị trường chứng khoán Việt Nam nhằm thiết lập nền tài chính vững mạnh và hiệu quả”, tài liệu hội thảo về “Tài chính và sự phát triển TTCK Việt Nam” (tổ chức tại
TP Hồ Chí Minh, ngày 22/5/2001), tr 3
(5).Xem: Asia-Pacific Economic Cooperation Study Centre, Hong Kong Institute of Economic and Business
Strategy, The University of Hong Kong, “Asian
Financial Crisis: Causes and Development”, 31: (6).Xem: Stock Exchange Practices, Report of Senate Committee on Banking & Currency, S.Rep No.1455, 73d Cong., 2d Sess 50 (1934)
(7).Xem: “Proposed Rules” (SEC), (Action: Concept Release; Request for Comments Oct 28, 1999), 17 CFR Part 240, [Release No 34-42037; File No S7-24-99] RIN 3235-AH84, Short Sales 64FR 57996 (8) MÜ và Nhật B¶n là các quốc gia trước đây đã từng cấm ngân hàng kinh doanh chứng khoán và cấm công ti chứng khoán kinh doanh dịch vụ ngân hàng
Xem: - Banking Act of 1933 (US), Sections: 16, 20, 21, 32;
- Securities and Exchange Law of 1946 (Japan), Article 65
(9).Xem: J Patrick Raines and Charles G Leathers,
Economists and the Stock Market, (2002), tr 112 (10).Xem: Louis Loss & Joel Segliman, sđd, tr 803 (11).Xem: - Regulation T (issued by the Federal Reserve Board) quy định về việc cấp tín dụng của các công ti chứng khoán cho khách hàng để mua chứng khoán;
- Regulation U (issued by the Federal
Reserve Board) quy định về việc cấp tín dụng của các ngân hàng cho khách hàng để mua chứng khoán (12).Xem: Securities and Exchange Act of 1934 (US), Section 7(a)
(13).Xem: Securities and Exchange Law (Japan), as revised in 2002, Article 161-2