Thu nhập và các loại thu nhập của vợ, chồng có trong thời kì hôn nhân Thu nhập là thuật ngữ được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau, theo Từ điển tiếng Việt thì “thu nhập” là: “nhận được t
Trang 1
1 Thu nhập và các loại thu nhập của
vợ, chồng có trong thời kì hôn nhân
Thu nhập là thuật ngữ được hiểu dưới
nhiều góc độ khác nhau, theo Từ điển tiếng
Việt thì “thu nhập” là: “nhận được tiền bạc,
của cải vật chất từ một hoạt động nào đó”,(1)
theo Từ điển thuật ngữ về thuế thì thu nhập
là “quyền lợi kinh tế; tiền hay giá trị nhận
được”.(2) Còn theo Từ điển luật gia đình
(Familylaw Dictionary): "Thu nhập (earnings)
là những khoản tiền công, tiền lương và các
khoản lợi tức (như các khoản trợ cấp có được
từ các hợp đồng bảo hiểm về sức khoẻ, bảo
hiểm nhân thọ; tiền trợ cấp, tiền lương hưu,
các khoản tiền công được thanh toán sau khi
hoàn thành một hợp đồng, lợi tức phát sinh
từ cổ phiếu) có được do người sử dụng lao
động trả hoặc do chính bản thân làm ra".(3)
Như vậy, thu nhập của vợ, chồng có thể
được hiểu là những lợi ích vật chất mà vợ,
chồng có được bao gồm các khoản tiền công,
tiền lương phát sinh từ các hoạt động lao
động mang tính chất nghề nghiệp, không
mang tính chất nghề nghiệp hoặc các khoản
lợi tức phát sinh từ các hoạt động sử dụng,
quản lí tài sản trong sản xuất kinh doanh
hoặc trong giao lưu dân sự
Trên thực tế vợ, chồng có thể có nhiều
loại thu nhập khác nhau nhưng thu nhập có
tính chất cơ bản, quan trọng, ổn định và
chính đáng nhất là các khoản thu nhập do lao
động, hoạt động sản xuất, kinh doanh Đây là
loại thu nhập xuất phát từ các quyền cơ bản của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp
là “quyền được lao động và có việc làm”,
“quyền tự do sản xuất, kinh doanh’’ Vợ, chồng có thể tạo thu nhập bằng con đường lao động, sản xuất, kinh doanh trực tiếp như trồng trọt, chăn nuôi, tiểu thủ công nghiệp, kinh doanh buôn bán nhỏ đây là hình thức tạo thu nhập gắn liền với gia đình ở khu vực nông thôn hoặc kinh tế hộ gia đình ở khu vực thành thị Mặt khác, vợ, chồng cũng có thể trực tiếp tạo thu nhập bằng việc đưa tài sản của mình tham gia các giao dịch dân sự hoặc kinh tế để khai thác hoa lợi, lợi tức từ tài sản của mình như tham gia thị trường chứng khoán, góp vốn vào các công ti cổ phần, tham gia các hợp đồng mua bán, cho vay Ngoài việc trực tiếp lao động, sản xuất, kinh doanh, vợ, chồng cũng có thể tạo thu nhập bằng hình thức phổ biến hơn, gắn liền với quá trình phân công lao động x[ hội là tham gia vào các quan hệ lao động theo chế
độ hợp đồng hoặc mang tính chất thời vụ Khi tham gia vào các quan hệ lao động với tư cách là người lao động, vợ, chồng được người sử dụng lao động trả tiền lương, tiền công theo công sức lao động họ bỏ ra Hình thức thu nhập này rất phổ biến trong khu vực cán bộ, công chức nhà nước, công nhân làm cho các cơ sở sản xuất, dịch vụ thuộc tất cả
* Giảng viên Khoa tư pháp Trường đại học luật Hà Nội
Trang 2các thành phần kinh tế và tương lai trong x[
hội công nghiệp hoá, hiện đại hoá sẽ là hình
thức thu nhập chủ yếu của đại đa số nhân dân
nói chung và của các cặp vợ chồng nói riêng
Ngoài các khoản thu nhập do lao động,
sản xuất kinh doanh, vợ, chồng còn có thể có
các thu nhập hợp pháp khác Theo Nghị quyết
số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 “thu
nhập hợp pháp khác” của vợ chồng trong
thời kì hôn nhân có thể là tiền thưởng, tiền
trợ cấp, tiền trúng xổ số mà vợ, chồng có
được hoặc tài sản mà vợ, chồng được xác lập
quyền sở hữu đối với vật vô chủ, vật không
xác định được ai là chủ sở hữu (Điều 247
BLDS), đối với vật bị chôn giấu, bị chìm
đắm được tìm thấy (Điều 248 BLDS), đối với
vật do người khác đánh rơi bỏ quên (Điều
249 BLDS), đối với gia súc, gia cầm bị thất
lạc (Điều 250, 251 BLDS), đối với vật nuôi
dưới nước (Điều 252 BLDS) trong thời kì
hôn nhân
2 Xác lập quyền sở hữu đối với thu nhập
của vợ chồng có trong thời kì hôn nhân
Trên cơ sở kế thừa và phát triển Luật
hôn nhân và gia đình năm 1986, Luật hôn
nhân và gia đình năm 2000 quy định tài
sản của vợ chồng bao gồm tài sản chung và
tài sản riêng của vợ, chồng Theo khoản 1
Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình năm
2000 thì "tài sản chung của vợ chồng gồm
tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do
lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh
và những thu nhập hợp pháp khác của vợ
chồng trong thời kì hôn nhân; tài sản mà
vợ chồng được thừa kế chung hoặc được
tặng cho chung và những tài sản khác mà
vợ chồng thoả thuận là tài sản chung
Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được
sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng
có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thoả thuận
Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất"
Về tài sản riêng, khoản 1 Điều 32 quy
định: "Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kì hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại khoản
1 Điều 29 và Điều 30 của Luật này; đồ dùng, tư trang cá nhân"
Như vậy, về nguyên tắc các khoản thu nhập mà vợ, chồng có trong thời kì hôn nhân (thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác) thuộc tài sản chung hợp nhất của
vợ chồng
Vấn đề đặt ra là hoa lợi, lợi tức phát sinh
từ tài sản riêng của vợ, chồng có được coi là một loại thu nhập và những hoa lợi, lợi tức đó nếu phát sinh trong thời kì hôn nhân sẽ thuộc
sở hữu riêng của vợ, chồng hay thuộc tài sản chung hợp nhất Hiện nay, trong lí luận và thực tiễn tồn tại hai quan điểm:
- Quan điểm thứ nhất cho rằng hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản không phải là thu nhập mà là tài sản gắn liền với tài sản gốc phát sinh hoa lợi, lợi tức đó Do đó, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của vợ, chồng trước hay trong thời kì hôn nhân vẫn thuộc sở hữu riêng của người có tài sản Xác
định như vậy để đảm bảo quyền định đoạt của người có tài sản riêng và quyền được thu
Trang 3hoa lợi, lợi tức của chủ sở hữu được quy định
trong Bộ luật dân sự
Khác với quan điểm trên, có quan điểm
cho rằng hoa lợi, lợi tức là một trong các
hình thức của thu nhập, nó là loại thu nhập
phát sinh từ tài sản sẵn có, khác với thu nhập
có được thông qua một hoạt động nhất định
Do đó, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản
riêng trong thời kì hôn nhân là một trong
những thu nhập hợp pháp thuộc tài sản chung
của vợ chồng Theo chúng tôi quan điểm này
là hợp lí nếu xem xét ở các góc độ sau:
- Theo quy định của pháp luật hiện hành,
Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000
quy định tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài
sản mà mỗi bên có trước khi kết hôn; tài sản
được thừa kế riêng, được tặng cho riêng
trong thời kì hôn nhân; tài sản được chia
riêng cho vợ, chồng trong trường hợp chia tài
sản chung khi hôn nhân còn tồn tại theo quy
định tại Điều 29 và Điều 30 của Luật này;
các đồ dùng, tư trang cá nhân Như vậy,
trong thời kì hôn nhân chỉ coi là tài sản riêng
của vợ, chồng nếu tài sản đó vợ, chồng được
thừa kế riêng, tặng cho riêng còn những tài
sản có nguồn gốc khác thuộc tài sản chung
của vợ chồng, ngoại trừ một trường hợp cá
biệt khi chia tài sản chung của vợ chồng
trong thời kì hôn nhân Trong trường hợp tài
sản chung của vợ chồng được chia khi hôn
nhân còn tồn tại, những tài sản vợ, chồng
được chia hoặc những thu nhập có được sau
khi chia tài sản chung (bao gồm cả hoa lợi,
lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của vợ,
chồng) thuộc sở hữu riêng của mỗi bên Mặt
khác, khoản 1 Điều 27 Luật hôn nhân và gia
đình năm 2000 quy định những thu nhập do
lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác trong thời kì hôn nhân là tài sản chung của vợ chồng mà không quy định thu nhập do lao động, sản xuất, kinh doanh bằng tài sản chung hay bằng tài sản riêng Căn cứ vào các quy định trên, về nguyên tắc khi chưa có sự kiện chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân thì toàn
bộ các thu nhập hợp pháp bao gồm cả hoa lợi tức từ tài sản chung hoặc tài sản riêng đều thuộc tài sản chung của vợ chồng
Trên thực tế, xác định hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kì hôn nhân là tài sản chung của vợ chồng không phải là quy định cá biệt mà là quy định phổ biến trong pháp luật về hôn nhân và gia đình của nhiều nước trên thế giới hiện nay Nhiều nước vốn thuần tuý dân luật hoá các quan hệ hôn nhân và gia đình, khi quy định về vấn đề này thì họ lại dựa trên cơ sở tính cộng đồng của hôn nhân đòi hỏi mỗi bên vợ hoặc chồng phải có trách nhiệm đóng góp vào cuộc sống gia đình Ví dụ: Điều 1401 Bộ luật dân sự Pháp, Điều 1474 Bộ luật dân sự và thương mại Thái Lan quy định tài sản chung của vợ chồng gồm những thu nhập chung của vợ chồng hoặc thu nhập riêng của từng người trong thời kì hôn nhân và có nguồn gốc từ công việc làm ăn của họ cũng như từ những khoản tiết kiệm có được do hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng của họ Như vậy, pháp luật dân
sự của Cộng hoà Pháp và Vương quốc Thái Lan ấn định mọi thu nhập và hoa lợi, lợi tức thu được từ tài sản chung hay tài sản riêng trong thời kì hôn nhân đều thuộc khối tài sản cộng đồng Khoản 4 Điều 54 Sắc luật 15/64 ngày 23/7/1964 và khoản 4 Điều 151 Bộ luật
Trang 4dân sự năm 1972 của chính quyền Sài Gòn
cũ cũng quy định được coi là tài sản chung
đối với “hoa lợi của tất cả tài sản, không
phân biệt tài sản thụ đắc trước hay trong
thời gian hôn thú” Trong pháp luật về hôn
nhân và gia đình ở các nước x[ hội chủ
nghĩa, nhiều nước cũng ghi nhận tài sản
chung bao gồm cả hoa lợi, lợi tức phát sinh
từ tài sản riêng trong thời kì hôn nhân
Khoản 3 Điều 30 Luật gia đình của Cộng hoà
Cuba quy định thu nhập, hoa lợi, lợi tức có
được từ tài sản chung của vợ chồng hay từ tài
sản riêng của một người trong thời kì hôn
nhân là tài sản chung của vợ chồng
- Theo phong tục, tập quán của dân tộc,
việc xác định hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài
sản riêng trong thời kì hôn nhân là tài sản
chung của vợ chồng là phù hợp với các giá trị
truyền thống đạo đức trong gia đình Việt
Nam đồng thời nó cũng đ[ trở thành truyền
thống pháp luật hôn nhân và gia đình Việt
Nam từ trước đến nay Con người Việt Nam
khi lập gia đình thường quan niệm tất cả vì
cuộc sống chung, vì tương lai của con cháu,
lợi ích cá nhân vì thế phải gắn liền với lợi ích
của gia đình Ngoài ra, theo quan niệm
truyền thống “của chồng, công vợ”, cũng như
trong thực tế cuộc sống hiện nay, mọi thành
công của một bên vợ hoặc chồng đều phản
ánh công sức hữu hình (hỗ trợ trực tiếp bằng
vật chất hoặc sức lao động) hoặc công sức vô
hình (hỗ trợ về mặt tinh thần) của bên kia Ví
dụ: A và B là vợ chồng, anh A là chủ cơ sở
sản xuất được tạo dựng bằng tài sản riêng
của mình, chị B - vợ của anh không tham gia
vào công việc quản lí hay sản xuất ở cơ sở
sản xuất của anh Tuy nhiên, chị lại giải
quyết các công việc nội trợ trong gia đình như chăm sóc con cái, làm các công việc gia
đình những việc làm của chị B không thể nhận thấy trong việc tạo ra các khoản lợi tức
từ cơ sở sản xuất của người chồng Song, những việc làm đó của chị B lại tạo cho anh
A có chỗ dựa tinh thần rất lớn là sự ổn định của gia đình, mái ấm gia đình của anh được chăm lo tốt bởi người vợ, từ đó anh A mới toàn tâm, toàn ý sản xuất kinh doanh Do đó, không thể nói chị B không có công sức trong việc tạo ra các khoản lợi tức của người chồng trong sản xuất, kinh doanh bằng tài sản riêng Chính vì vậy, Luật hôn nhân và gia
đình năm 1986 (Điều 42) và Luật hôn nhân
và gia đình năm 2000 (Điều 95) đều ghi nhận “lao động của vợ, chồng trong gia đình
được coi như lao động có thu nhập”
Cách nhìn nhận về hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của vợ, chồng nói trên không hoàn toàn là đúng, nhất là đứng trên phương diện bảo vệ lợi ích cá nhân vợ, chồng song theo chúng tôi xuất phát từ một trong các đặc điểm cơ bản trong phương pháp điều chỉnh của Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam là các chủ thể phải thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình vì lợi ích chung của gia
đình thì cách nhìn nhận đó là hợp lí Tuy nhiên, đây chỉ là quan điểm mang tính chất cá nhân rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của đồng nghiệp và các bạn./
(1) Xem: Từ điển tiếng Việt Nxb Đà Nẵng - Trung tâm từ điển học.1997, tr 925
(2) Xem: Từ điển thuật ngữ Anh - Việt về thuế Nxb Thống kê 1995, tr 185
(3) Xem: Familylaw Dictionary The faculty of law, Lund University 1995, tr 61