1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo " Chính quyền hành pháp của Australia" pot

6 130 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chính Quyền Hành Pháp Của Australia
Tác giả Ths. Nguyễn Thị Hồi
Người hướng dẫn Giảng viên Chính Khoa Hành Chính - Nhà Nước
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Nhà Nước Và Pháp Luật Nước Ngoài
Thể loại Bài Viết
Năm xuất bản 2003
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 108,23 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo chương II Hiến pháp năm 1900 thì chính quyền hành pháp liên bang của Australia bao gồm Nữ hoàng Anh và Toàn quyền với tư cách là người đại diện cho Nữ hoàng, thủ tướng, các bộ trưởn

Trang 1

heo Hiến pháp năm 1900 thì Australia là

nước có chính thể quân chủ đại nghị vì về

mặt hình thức, Nữ hoàng Anh cũng là Nữ hoàng

của Australia Giống như các nhà nước tư sản

khác, bộ máy nhà nước Australia cũng được tổ

chức theo nguyên tắc phân chia quyền lực, theo

đó, quyền lực nhà nước được trao cho nghị viện,

chính quyền hành pháp và bộ máy tư pháp Vì

thế, ba chương đầu của Hiến pháp Australia đề

cập ba loại cơ quan này Nhưng ở đây, nguyên

tắc phân quyền được áp dụng ở mức độ mềm

dẻo bởi lẽ giữa lập pháp và hành pháp có sự liên

lạc, tiếp xúc thường xuyên, có sự phối hợp hoạt

động chặt chẽ với nhau và chịu trách nhiệm

trước nhau Do vậy, ranh giới giữa lập pháp và

hành pháp tất nhiên không thể rõ ràng vì có một

số người được thực hiện cả hai quyền đó Trong

phạm vi bài viết này, tôi muốn đề cập một trong

ba nhánh quyền lực nhà nước của Australia, đó

là bộ máy hành pháp liên bang trên cơ sở các

quy định của hiến pháp hiện hành - Hiến pháp

năm 1900

Những quy định liên quan tới tổ chức và

hoạt động của bộ máy này không chỉ được thể

hiện trong hiến pháp mà còn thể hiện ở tập quán

hiến pháp, các quan điểm chính trị, luật và một

số quyết định của toà án Thông qua việc quy

định về quyền hạn của Toàn quyền, hiến pháp

chủ yếu đề cập thẩm quyền của bộ máy hành

pháp trong lĩnh vực tổ chức bộ máy nhà nước

Mặc dù Toàn quyền được coi là đại diện của Nữ

hoàng, được hiến pháp trao cho quyền lực hành

pháp song phần lớn đó là những quyền mang

tính chất hình thức, nghi lễ và tượng trưng,

tương tự như quyền lực của Nữ hoàng ở nước Anh hiện tại

Theo chương II Hiến pháp năm 1900 thì

chính quyền hành pháp liên bang của Australia bao gồm Nữ hoàng Anh và Toàn quyền với tư

cách là người đại diện cho Nữ hoàng, thủ tướng, các bộ trưởng trong nội các (và dưới một số chính phủ thì gồm cả bộ trưởng của các “bộ bên ngoài”), hội đồng hành pháp liên bang, các viên chức, các cơ quan dịch vụ công và nhiều tổ chức dịch vụ công khác Điều 61 Hiến pháp năm

1900 quy định: “Quyền lực hành pháp của liên bang được trao cho Nữ hoàng và được thực hiện bởi Toàn quyền như là đại diện của Nữ hoàng,

được dùng để thực hiện và bảo vệ Hiến pháp này và các đạo luật của liên bang”.(1) Theo sự lí giải của một số luật gia Australia thì: “Quyền lực hành pháp là quyền lực để thực hiện các nhiệm vụ của chính phủ hoặc để thực hiện các nhiệm vụ của chính phủ một cách có hiệu quả”.(2) Sở dĩ hiến pháp trao quyền hành pháp cho Nữ hoàng Anh nhưng lại được thực hiện bởi Toàn quyền là do nguyên nhân lịch sử, vì khi hiến pháp được ban hành thì Australia vẫn còn

là thuộc địa của Anh và hiến pháp được ban hành bởi nghị viện Anh, Toàn quyền được coi là người đại diện cho Nữ hoàng Anh tại Australia

Điều 2 Hiến pháp năm 1900 quy định: Toàn quyền do Nữ hoàng bổ nhiệm và đại diện cho sự

uy nghiêm của bà tại liên bang nên có thể thực hiện quyền lực và các chức năng của Nữ hoàng

T

* Giảng viên chính Khoa hành chính - nhà nước Trường đại học luật Hà Nội

Ths Nguyễn Thị Hồi *

Trang 2

theo quy định của hiến pháp tại Liên bang cho

đến khi vẫn được bà uỷ quyền

Xem xét lịch sử của Australia ta thấy, phải

trải qua quá trình suốt 20 thế kỉ, nước này mới

giành được độc lập và trong quá trình ấy, vai trò

và quyền lực của Nữ hoàng Anh ở đây ngày

càng giảm đi và ngược lại, vai trò của Toàn

quyền ngày càng tăng lên Hiện tại, vai trò của

Nữ hoàng Anh ở Australia chỉ còn thể hiện qua

việc bổ nhiệm (và nếu được đề nghị thì cả cách

chức) Toàn quyền Song thậm chí cả những

quyền này cũng chỉ được thực hiện theo sự cố

vấn của thủ tướng Australia Những quyền lực

và chức năng do Nữ hoàng uỷ nhiệm cho Toàn

quyền trong quá khứ thì đến nay, sự uỷ quyền

ấy không còn cần thiết nữa vì Australia đi hầu

như độc lập hoàn toàn mặc dù hiến pháp chưa

được sửa đổi Cũng theo Điều 2 Hiến pháp năm

1900 thì nhiệm kì của Toàn quyền là “đến khi

nào mà Nữ hoàng muốn” song trong thực tế,

nhiệm kì đó thường là 5 năm, Nữ hoàng cũng có

thể bổ nhiệm người khác thay thế trong trường

hợp Toàn quyền không có khả năng thực hiện

được nhiệm vụ của mình vì một số lí do Ngoài

ra, Nữ hoàng có thể uỷ quyền cho Toàn quyền

bổ nhiệm một người hoặc một số người làm phó

cho ông ta trong mỗi bộ phận của Liên bang và

những người này có thể thực hiện một số quyền

lực và chức năng của Toàn quyền mà ông ta cho

là phù hợp và cho đến khi mà ông ta muốn

nhưng phải có ý kiến hoặc chỉ thị của Nữ hoàng

Sự bổ nhiệm người làm phó như vậy không hề

ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền lực và chức

năng của Toàn quyền Nói chung, các thống đốc

bang thường hoạt động như là cấp phó của Toàn

quyền

Trong Chính phủ của Liên bang, bên cạnh

Toàn quyền là hội đồng hành pháp liên bang để

cố vấn cho Toàn quyền Các thành viên của hội

đồng do Toàn quyền lựa chọn, triệu tập và họ sẽ tại chức đến khi nào mà Toàn quyền muốn Hội

đồng hành pháp liên bang là cơ quan chính thức

đưa ra lời cố vấn cho Toàn quyền về những công việc chung của chính quyền Nguồn gốc của hội

đồng này là từ hội đồng được triệu tập để cố vấn cho nhà vua Anh trong những thế kỉ trước đây, khi nhà vua còn có thực quyền Trong chế độ quân chủ đại nghị, hội đồng hành pháp không phải là cơ quan xây dựng chính sách mà chính sách được xây dựng bởi nội các hoặc bởi các bộ trưởng khi thực hiện quyền lực cá nhân của họ, mặc dù hiến pháp không trao quyền hành pháp cho nội các hoặc các bộ trưởng mà trao nó cho Toàn quyền Do vậy, hội đồng hành pháp trở thành cầu nối quan trọng giữa nội các hoặc các

bộ trưởng với Toàn quyền Cuộc họp của hội

đồng hành pháp đòi hỏi phải có mặt Toàn quyền

và ít nhất là 2 bộ trưởng nhưng ngày nay những cuộc họp như vậy chỉ đơn thuần là những sự kiện quan trọng chính thức mà ở đó, các dự luật

đi được thông qua được chuyển đến cho Nữ hoàng phê chuẩn Nếu theo hiến pháp thì Toàn quyền có quyền lực rất lớn nhưng thực tế đi

được chấp nhận là Toàn quyền không thực hiện quyền lực đó một mình mà luôn hoạt động theo

sự cố vấn của Chính phủ, tức là của thủ tướng và các bộ trưởng, trừ những sự kiện đặc biệt của năm 1975

Sự hoạt động của Chính phủ được điều chỉnh bởi nhiều quy định bất thành văn và trong

đó có hai tập quán quan trọng nhất là:

+ Đảng có đa số ghế trong hạ viện sẽ được cầm quyền

+ Toàn quyền hoạt động theo lời khuyên của chính phủ

Năm 1975 cả hai tập quán trên đều bị phá

vỡ và đi gây ra cuộc khủng hoảng chính trị lớn nhất từ khi thành lập liên bang Cuộc khủng

Trang 3

hoảng bắt đầu từ sau khi thượng viện từ chối

thông qua dự luật ngân sách được chính phủ của

ông Whitlam đệ trình Liên minh các đảng Tự

do và Quốc gia chấp nhận giải pháp là buộc thủ

tướng kêu gọi cuộc bầu cử sớm Ông ta từ chối

và tình hình tiếp tục xấu đi cho đến khi nó được

giải quyết một cách rất bất ngờ và gây ra nhiều

tranh cii, bằng việc Toàn quyền cách chức thủ

tướng Từ đó đến nay dân chúng vẫn còn tranh

luận xem hành vi ấy là đúng hay sai Sở dĩ như

vậy là vì Điều 57 Hiến pháp quy định: “Nếu hạ

viện thông qua dự luật và thượng viện bác bỏ

hoặc không thông qua được nó hoặc thông qua

với những điểm sửa chữa mà hạ viện không

đồng ý và sau 3 tháng, hạ viện, trong cùng kì

họp đó hoặc ở kì họp tiếp theo lại thông qua dự

luật đ= được đề xuất với những sửa đổi nhất

định hoặc không có sự sửa đổi nào được thực

hiện, được đề nghị hoặc được đồng ý bởi thượng

viện và thượng viện vẫn bác bỏ hoặc không

thông qua hoặc thông qua nó với những điều

sửa đổi mà hạ viện vẫn không đồng ý thì

Toàn quyền sẽ giải tán cả hai viện đồng thời

cùng một lúc Nhưng sự giải tán như vậy sẽ

không được thực hiện trong khoảng thời gian

6 tháng trước khi hạ viện hết nhiệm kì

Nếu sau sự giải tán như vậy mà hạ viện lại

thông qua dự luật đ= được đệ trình, với những

sự sửa đổi hoặc không có sự sửa đổi nào được

thực hiện, được đề nghị, hoặc được đồng ý bởi

thượng viện và thượng viện vẫn bác bỏ hoặc

không thông qua hoặc thông qua với những sự

sửa đổi mà hạ viện vẫn không đồng ý thì Toàn

quyền có thể triệu tập cuộc họp chung các

thành viên cả hai viện

Các thành viên có mặt tại cuộc họp chung

có thể cân nhắc kĩ càng và sẽ cùng nhau bỏ

phiếu cho dự luật đ= được đệ trình như là lần

cuối cùng được đệ trình bởi hạ viện và đối với những điều sửa đổi, nếu, chúng đ= được viện này đề nghị nhưng lại bị viện kia từ chối và những sửa đổi nào được thông qua bởi đa số tuyệt đối của tổng số các thành viên của cả hai viện thì sẽ được chấp nhận và nếu dự luật được

đệ trình với những sự sửa đổi, cũng được thông qua bởi đa số tuyệt đối của tổng số các thành viên của cả hai viện thì coi như đ= được thông qua bởi cả hai viện của nghị viện và sẽ được trình lên Toàn quyền để Nữ hoàng phê chuẩn”.(3) Trong lịch sử Australia đi có 6 lần nghị viện bị giải tán cả hai viện và một lần phải họp chung hai viện Song vào năm 1975, điều khoản này đi không được thực hiện để giải quyết sự bế tắc đối với các dự luật về việc chi tiêu của Chính phủ vì nếu theo đúng thủ tục do

nó quy định thì sẽ quá lâu Chính phủ không muốn giải tán cả hai viện vì nó không chắc chắn rằng mình sẽ thắng trong cuộc bầu cử Cuối cùng, Toàn quyền đi cách chức thủ tướng và đề nghị người linh đạo của đảng đối lập kế tục chức vụ thủ tướng với điều kiện là ông ta sẽ cố vấn cho Toàn quyền giải tán cả hai viện Chính phủ mới đi thắng trong cuộc bầu cử với đa số ghế ở cả hai viện Sự kiện này đi làm xuất hiện hai nhóm ý kiến khác nhau đề nghị sửa đổi điều khoản trên Một nhóm cho rằng nên tước quyền của thượng viện trong việc bác bỏ một số loại

dự luật nhất định về tiền tệ hoặc trì hoin chúng vượt quá thời gian nhất định (ví dụ là 1 tháng) Nhóm khác cho rằng nên quy định thủ tục giải quyết sự bế tắc trong việc thông qua các dự luật

về tiền tệ theo hướng bớt đi vài công đoạn và giới hạn thời gian thông qua các dự luật của thượng viện

Hiến pháp còn quy định khi dự luật đệ trình

được cả hai viện thông qua thì phải trình lên Toàn quyền để Nữ hoàng phê chuẩn Toàn

Trang 4

quyền sẽ công bố theo ý muốn của mình nhưng

với danh nghĩa của Nữ hoàng hoặc Toàn quyền

có thể từ chối phê chuẩn hoặc có thể bảo lưu

luật theo ý muốn của Nữ hoàng Toàn quyền có

thể gửi trả dự luật cho viện mà nó được đệ trình

lên ông ta và có thể gửi trả cùng với những điều

sửa đổi mà ông ta đề nghị viện đó giải quyết Nữ

hoàng có thể không thừa nhận một đạo luật

trong một năm kể từ khi Toàn quyền phê chuẩn

và sự không thừa nhận như vậy sẽ được Toàn

quyền thông báo bằng lời nói hoặc bằng thông

điệp cho từng viện của nghị viện hoặc bằng lời

tuyên bố bii bỏ đạo luật đó từ ngày mà sự

không chấp thuận được thông báo Dự luật được

đệ trình mà được bảo lưu theo ý muốn của Nữ

hoàng sẽ không có hiệu lực trong khoảng thời

gian 2 năm kể từ ngày nó được trình lên để Nữ

hoàng phê chuẩn, cho đến lúc mà Toàn quyền

thông báo bằng lời nói hoặc bằng thông điệp tới

mỗi viện của nghị viện, hoặc bằng sự công bố

nó đi được Nữ hoàng phê chuẩn

Những quy định trên cho thấy, Toàn quyền

có vai trò khá lớn trong lĩnh vực lập pháp song

đó chỉ là những quyền có tính chất đại diện bởi

lẽ ông ta phải thực hiện theo sự cố vấn của chính

phủ

Nội các và thành viên quan trọng nhất là

thủ tướng không được đề cập trong Hiến pháp

song họ là trung tâm của mọi hoạt động của

Chính phủ Nội các được hình thành ở nước Anh

trong thế kỉ XVII, khi vua Charles II chấp nhận

và thực hiện việc họp kín trong phòng riêng

(“cabinet”), với những cố vấn thân cận nhất của

ông ta Vì vậy, nó không chỉ đơn thuần là tổ

chức cố vấn mà còn có cả yếu tố bí mật, kín

đáo Trước năm 1956, với ý đồ làm cho hoạt

động của nội các có hiệu quả hơn, thủ tướng

Robert Mezies đi chia các bộ thành hai nhóm là

nhóm “bên trong” và nhóm “bên ngoài” Nhóm

“bên trong” bao gồm các bộ trưởng cao nhất như thủ tướng, phó thủ tướng, tổng chưởng lí, bộ trưởng trợ lí của thủ tướng về những mối quan

hệ của Nhà nước liên bang, phó chủ tịch hội

đồng hành pháp… Nhóm “bên ngoài” gồm các

bộ như giao thông vận tải, thể thao, giải trí và du lịch Những bộ trưởng thuộc nhóm bên trong

sẽ là thành viên của nội các Các bộ trưởng thuộc nhóm “bên ngoài” sẽ được mời đến khi thảo luận những vấn đề có liên quan đến bộ của

họ Thực tế này đi được chấp nhận trong tất cả các chính phủ sau đó trừ Chính phủ Whitlam từ

1972 – 1975, tất cả 27 bộ trưởng đều là thành viên của nội các Địa vị pháp lí của nội các không được quy định trong hiến pháp nên hoạt

động của nó phụ thuộc vào tập quán Các bộ trưởng có hai trách nhiệm quan trọng nhất là: + Trách nhiệm cá nhân của bộ trưởng

Để bảo vệ nguyên tắc trách nhiệm, mỗi bộ trưởng phải chịu trách nhiệm về những hoạt

động của bộ mình và phải trả lời chất vấn của nghị viện Bộ trưởng sẽ bị phê bình công khai vì những sai lầm của bộ đó và nếu tìm thấy sai lầm lớn thì bộ trưởng sẽ phải từ chức, tuy nhiên, trong thực tế điều này rất hiếm khi xảy ra Thông thường thì các bộ trưởng tự nguyện từ chức, song nếu họ không chịu từ chức mà thấy cần thiết thì thủ tướng sẽ cách chức họ

+ Trách nhiệm liên đới của các bộ trưởng về những hoạt động của nội các

Một mặt, các bộ trưởng có thể tranh luận để ủng hộ hoặc chống lại những kế hoạch được đề xuất trong nội các Mặt khác, các bộ trưởng phải tạo thành mặt trận thống nhất Tôn trọng tập tục này, các bộ trưởng bất tài cũng được phép từ chức Mức độ thống nhất của nội các tuỳ thuộc vào một số yếu tố như quy mô của nội các, loại quyết định sẽ được thông qua và mức độ mà thủ tướng sẵn sàng làm theo những đề nghị của các

Trang 5

bộ trưởng Nếu thủ tướng liên tục không nghe

theo những đề nghị của các bộ trưởng thì

chắc chắn sẽ dẫn đến việc phá vỡ sự liên kết

trong nội các

Hiến pháp quy định Toàn quyền phải hoạt

động theo sự cố vấn của hội đồng hành pháp

Liên bang, tức là luôn phải làm theo lời tư vấn

của nó trong việc thực hiện hầu hết các quyền

lực hiến pháp, mặc dù ông ta có thể yêu cầu

phải cung cấp thông tin, tài liệu trước khi đưa ra

quyết định cuối cùng Theo hiến pháp thì Toàn

quyền dường như hoàn toàn tự do lựa chọn uỷ

viên hội đồng hành pháp Song thực tế không

phải như vậy Điều 64 Hiến pháp quy định các

thành viên của hội đồng hành pháp phải là các

bộ trưởng, Toàn quyền có thể bổ nhiệm các bộ

trưởng để quản lí các bộ của Nhà nước liên bang

và những người này sẽ nắm giữ chức vụ đến khi

nào mà Toàn quyền muốn Tuy nhiên, không ai

trong số họ có thể tại chức hơn ba tháng nếu sau

cuộc tổng tuyển cử, họ không phải là nghị viên

của một trong hai viện

Thông thường, sau cuộc bầu cử, Toàn quyền

phải bổ nhiệm người linh đạo của đảng (hoặc

liên minh của các đảng) có đa số ghế trong nghị

viện làm thủ tướng Sau đó thủ tướng sẽ đề cử để

Toàn quyền bổ nhiệm các bộ trưởng Nếu sau

cuộc bầu cử mà không có đảng nào hoặc liên

minh các đảng nào có đa số ghế thì Toàn quyền

phải quyết định người có khả năng đứng ra

thành lập Chính phủ hoặc là phải tổ chức cuộc

bầu cử mới Nếu người linh đạo của đảng cầm

quyền bị thay đổi thì người linh đạo mới sẽ

“được uỷ quyền” làm thủ tướng và thủ tướng

mới sẽ đề nghị những người làm bộ trưởng

Trong thời gian giữa hai cuộc bầu cử, nếu Chính

phủ bị hạ viện làm mất tín nhiệm thì thủ tướng

sẽ đề nghị Toàn quyền giải tán hạ viện và kêu

gọi cuộc bầu cử mới hoặc là từ chức

Bộ trưởng có các nghĩa vụ sau:

+ Chăm lo các hoạt động của bộ

Bộ trưởng phải quan tâm tới mọi hoạt động của bộ mình, phải nghiên cứu một cách cẩn thận

để giải quyết các nhu cầu của công chúng một cách công bằng và phải nắm được đầy đủ thông tin về mọi hoạt động của bộ mình để có thể giải thích đầy đủ trước nghị viện Bộ trưởng cũng cần phải thẩm tra nhiều vụ việc của các tư nhân

Ví dụ, bộ trưởng về vấn đề nhập cư cần phải quyết định một người nào đó bị trục xuất hoặc

được cư trú ở đất nước

+ Sáng tạo luật Các bộ trưởng có vai trò khá quan trọng trong việc sáng tạo luật, Chính phủ đi đệ trình trước Nghị viện nhiều dự luật có liên quan tới công việc đời thường hoặc các chính sách của Chính phủ

+ Báo cáo trước đảng và nghị viện Kiểu chính phủ Westminster dựa vào việc cần có “những sự kiềm chế và đối trọng”,(4) mặt khác, tất cả những người nắm quyền lực đều phải giải thích về những hoạt động của họ Vì thế, bộ trưởng phải trả lời chất vấn của nội các,

đảng và Nghị viện Mặc dù thời gian chất vấn thường là thời gian bị chỉ trích bởi Chính phủ và

đảng đối lập nhưng các bộ trưởng vẫn thực hiện một cách rất nghiêm túc và thường chuẩn bị rất cẩn thận cho mỗi ngày họp của Nghị viện Đó là cơ hội công khai để có thể bày tỏ sự phản đối một bộ trưởng

+ Đại diện cho cử tri Các bộ trưởng không thể lờ đi những nhu cầu của cử tri và đó là điều rất khó khăn cho các

bộ trưởng vì có khá nhiều đòi hỏi đối với họ nhưng họ vẫn bị “cử tri bắt làm việc” bất cứ khi nào có cơ hội Đối với Thủ tướng thì phục vụ cử tri cũng là một đòi hỏi đặc biệt khó khăn trong nhiệm kì của ông ta

Trang 6

Thủ tướng là chính khách có ảnh hưởng rất

lớn trong quốc gia, có mức lương khá cao và

hoạt động của ông ta luôn luôn được đối chiếu

với hoạt động của người đứng đầu của đảng đối

lập Thủ tướng có các quyền hạn sau:

- Lựa chọn các bộ trưởng;

- Linh đạo văn phòng thủ tướng và nội các;

- Sắp xếp thời gian cho các cuộc tuyển cử

Khác với các nước như Mĩ, nơi mà sự sắp

xếp thời gian cho các cuộc tuyển cử là cố định,

Australia cho phép thủ tướng quyết định khi nào

thì cuộc tuyển cử ở liên bang được tổ chức Hiến

pháp quy định: “Nhiệm kì của hạ viện là 3 năm

kể từ phiên họp đầu tiên của viện và không lâu

hơn; nhưng có thể bị giải tán sớm hơn bởi Toàn

quyền”.(5) Như vậy, cứ sau 3 năm thì cuộc tuyển

cử được tổ chức nhưng thủ tướng có thể yêu cầu

cuộc bầu cử sớm hơn

+ Quyền bổ nhiệm

Thủ tướng có quyền bổ nhiệm một số chức

vụ giống như Toàn quyền, đó là các thẩm phán

của toà án tối cao, các đại sứ, các thành viên của

các văn phòng và các uỷ ban khác nhau Về số

lượng các bộ trưởng thì Điều 65 quy định: “Cho

đến khi Nghị viện quy định khác, số các bộ

trưởng của Nhà nước không vượt quá 7 người và

nắm giữ các bộ như quy định của Nghị viện

hoặc nếu không có quy định thì theo sự chỉ đạo

của Toàn quyền”.(6) Song hiện tại, con số này là

từ 20 – 30 tuỳ từng chính phủ Thông thường, số

lượng bộ trưởng là do Toàn quyền quyết định

theo sự cố vấn của Chính phủ Ngoài quyền bổ

nhiệm các thành viên của bộ máy hành pháp,

Toàn quyền còn có quyền bổ nhiệm các thẩm

phán của toà án tối cao và các toà án khác do

nghị viện thành lập nhưng cũng phải theo sự cố

vấn của hội đồng và là tổng tư lệnh của các lực

lượng quân đội của Liên bang

Hiến pháp không quy định những thẩm

quyền cụ thể cho bộ máy hành pháp ngoài các quyền hạn của Toàn quyền song có thể thấy, Chính phủ Australia cũng có những quyền hạn

và nhiệm vụ cơ bản giống với chính phủ của các nước khác Ví dụ: Quyền điều hành và quản lí các lĩnh vực hoạt động cơ bản của xi hội, quyền tham gia xây dựng luật …

Mặc dù Australia là nhà nước liên bang song hiến pháp cũng không quy định cụ thể phạm vi quyền hành pháp của Liên bang và của các bang thành viên mà chỉ quy định các quyền lực và các lĩnh vực quản lí mà các bang phải chuyển giao cho nhà nước liên bang khi liên bang được thành lập

Qua những điểm nêu trên ta thấy, quy định của Hiến pháp Australia năm 1900 về chính quyền hành pháp mang tính khái quát cao và chủ yếu liên quan tới tổ chức của bộ máy này Còn những quy định cụ thể về hoạt động của nó thì hầu như không có Phải chăng hiến pháp này

được xây dựng chủ yếu theo nghĩa nguyên thuỷ của từ “hiến pháp ”, tức là luật tổ chức bộ máy nhà nước hoặc cách thức tổ chức bộ máy nhà nước Vì vậy, muốn tìm hiểu cụ thể hơn về hoạt động của bộ máy hành pháp ở Australia thì cần phải tìm hiểu qua các nguồn khác như luật, các quan điểm chính trị, một số quyết

định của toà án và đặc biệt là qua thực tiễn hoạt động của nó./

(1).Xem: “The Australia Constitution” Constitutional Centenary Foundation, tr 69

(2).Xem: “The Australia Constitution” Sđd tr 70 (3).Xem: “The Australia Constitution” Sđd tr 63 - 64 (4).Xem: “The Australia political system” An Introduction K.R Evans Third Edition The Jacaranda Press, tr 63

(5).Xem: “The Australia political system” Sđd, tr 66 (6).Xem: “The Australia Constitution” Sđd, tr.73 (7).Xem: “The Australia Constitution” Sđd, tr 74 –75

Ngày đăng: 31/03/2014, 12:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w