1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo " Quyền lập quy của cơ quan hành pháp " potx

6 482 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 90,95 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ở Đức, Điều 611 Bộ luật dân sự quy định: "Thông qua hợp đồng bên đ cam kết thực hiện một hoạt động thì phải thực hiện hoạt động đó, còn bên kia có nghĩa vụ trả thù lao theo thoả thuận”.1

Trang 1

Ths Nguyễn Hữu Chí *

ét về phương diện lịch sử, luật lao

động ra đời tương đối muộn so với

các ngành luật khác Vì vậy, chế định hợp

đồng lao động cũng xuất hiện trong bối

cảnh luật về hợp đồng dân sự đ2 có bề dày

về lí luận và thực tiễn áp dụng, cho nên ban

đầu, lí luận về hợp đồng lao động chịu ảnh

hưởng lớn của lí luận về hợp đồng dân sự

Đối với hệ thống luật của Pháp, Đức -

trước đây không có quy định riêng về hợp

đồng lao động và chỉ coi nó thuần tuý là

một loại hợp đồng dân sự ở Đức, Điều 611

Bộ luật dân sự quy định: "Thông qua hợp

đồng bên đ cam kết thực hiện một hoạt

động thì phải thực hiện hoạt động đó, còn

bên kia có nghĩa vụ trả thù lao theo thoả

thuận”.(1) ở Pháp, trước năm 1954 quan

niệm về hợp đồng lao động thường được

dẫn chiếu đến thiên VIII, chương III, Điều

1779 Bộ luật dân sự năm 1804 về hợp đồng

thuê dịch vụ và công nghệ, khoản 1 quy

định: "Hợp đồng thuê người lao động để

phục vụ một người nào đó" và Điều 1780

về hợp đồng thuê mướn gia nhân và công

nhân: "Chỉ được cam kết phục vụ theo thời

gian hoặc cho một công việc nhất định"

Nói chung, các quan niệm này đều coi hợp

đồng lao động tương tự như một loại hợp

đồng dịch vụ dân sự ở Trung quốc, trước

năm 1953 cũng tồn tại hợp đồng lao động

và được quy định tại Luật lao động nước

Cộng hoà nhân dân Trung hoa ngày

1/12/1931 (được sửa đổi tháng 10/1933), Luật thuê mướn công nhân làm tạm thời năm 1947 và cũng quan niệm hợp đồng lao động là một loại hợp đồng dân sự ở Việt Nam, ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà non trẻ đ2 ban hành hàng loạt những văn bản pháp luật nhằm điều chỉnh các quan hệ x2 hội đáp ứng điều kiện và tình hình mới, trong đó có những quy phạm

về hợp đồng lao động Sắc lệnh số 29/SL ngày 12/3/1947 đ2 có quy định về "khế ước làm công" (chương thứ III) và tiếp theo đó Sắc lệnh số 77/SL ngày 22/5/1950 có quy

định về "công nhân tuyển dụng theo giao kèo" (chương VIII) Các "khế ước làm công" hay "giao kèo" thuê mướn lao động này chịu ảnh hưởng rất lớn của luật dân sự

Điều 18, Sắc lệnh 29 quy định "khế ước làm công phải tuân theo dân luật"

Như vậy, có thể thấy trước đây pháp luật của hầu hết các nước đều coi hợp đồng lao động là dạng của hợp đồng dân sự, chịu

sự điều chỉnh thuần tuý của pháp luật dân

sự Pháp luật Anh, Mĩ cũng tiếp cận với một quan niệm tương tự

Hiện nay, cùng với sự phát triển của khoa học luật lao động và những nhận thức mới về hàng hoá sức lao động, hầu hết các nước đều có những thay đổi nhất định trong

X

* Giảng viên Khoa pháp luật kinh tế Trường đại học luật Hà Nội

Trang 2

quan niệm về hợp đồng lao động Do đó,

bên cạnh luật dân sự được coi là cơ sở pháp

lí chung cho các quan hệ hợp đồng thì

trong việc điều chỉnh quan hệ lao động có

những đạo luật riêng như Luật về tiêu

chuẩn lao động, Luật bảo vệ đơn phương

chấm dứt hợp đồng lao động, Luật bảo vệ

lao động nữ, thanh, thiếu niên hoặc được

quy định thông qua án lệ

Hệ thống pháp luật của Đức, Pháp coi

quan hệ hợp đồng lao động thuộc lĩnh vực

luật tư Do đó, nó vẫn chịu sự ảnh hưởng,

điều chỉnh rất lớn của luật dân sự, mặc dù

hiện nay chế định hợp đồng lao động đ2

được thừa nhận tính độc lập tương đối của

nó so với hợp đồng dân sự Chẳng hạn, ở

Đức hiện nay không có điều luật cụ thể nào

quy định về khái niệm hợp đồng lao động

và cho rằng hợp đồng lao động mang bản

chất chung của hợp đồng dân sự theo quy

định của Điều 611 Bộ luật dân sự nói trên

nhưng "khoa học luật lao động cũng đ xác

định rằng "hoạt động" trong hợp đồng lao

động là người lao động thực hiện một công

việc mang tính phụ thuộc và có trả công".(2)

Tương tự như vậy, pháp luật của Pháp cũng

coi "gốc" của hợp đồng lao động là hợp

đồng dân sự, khái niệm về hợp đồng lao

động cũng không được quy định trong điều

luật cụ thể mà được án lệ ghi nhận: "Hợp

đồng lao động là sự thoả thuận theo đó một

người cam kết tiến hành một hoạt động

theo sự chỉ đạo của người khác, lệ thuộc

vào người đó và được trả công" (án lệ ngày

2/7/1954) Đây là khái niệm về hợp đồng

lao động được khoa học luật lao động của

Pháp thừa nhận hiện nay.(3) Như vậy, theo

quan niệm của hệ thống pháp luật Đức,

Pháp thì hợp đồng lao động là sự thoả thuận, tự nguyện của người đến làm việc cho người khác, được trả công và chịu sự quản lí của người đó Ưu điểm lớn nhất của quan điểm này là khái niệm hợp đồng lao

động được xây dựng xuất phát từ các yếu tố cấu thành của nó nhưng lại chưa nói rõ

được vấn đề chủ thể, nội dung quan hệ Pháp luật lao động của Trung Quốc trong giai đoạn từ năm 1954 - 1976 (thời kì xây dựng chủ nghĩa x2 hội với chế độ sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất là chủ yếu) quan hệ hợp đồng lao động ít được quan tâm và gần như không tồn tại.(4)

Từ năm 1977, với quan điểm đổi mới, phát triển nền kinh tế theo mô hình kinh tế thị trường x2 hội chủ nghĩa, các văn bản về pháp luật lao động nói chung, hợp đồng lao

động nói riêng trong điều kiện kinh tế thị trường lần lượt được ban hành Trên cơ sở

đó, ngày 5/7/1994 Luật lao động của nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa được Quốc hội thông qua và có hiệu lực từ ngày 1/1/1995 Theo quy định tại Điều 16 - hợp

đồng lao động được định nghĩa như sau:

"Hợp đồng lao động là sự hiệp nghị (thoả thuận) xác lập quan hệ lao động, quyền lợi

và nghĩa vụ của người lao động và người sử dụng lao động Xây dựng quan hệ lao động cần phải lập hợp đồng lao động".(5) Khái niệm này có ưu điểm xác định được rõ các bên của hợp đồng lao động, khẳng định việc thiết lập quan hệ lao động phải thông qua hợp đồng lao động nhưng nhược điểm

là chưa nêu được nội dung, bản chất của hợp đồng lao động

Luật các tiêu chuẩn lao động của Hàn Quốc số 286 ban hành ngày 10/5/1953 và

Trang 3

được sửa đổi, bổ sung bằng rất nhiều đạo

luật mà gần đây nhất là Luật số 4220 ngày

13/1/1990 quy định: “Thuật ngữ hợp đồng

lao động trong luật này có nghĩa là hợp

đồng được kí kết để ghi nhận rằng người

lao động làm việc cho người sử dụng lao

động và người sử dụng lao động trả lương

cho việc làm đó" (Điều 17) Quy định này

nhằm phân biệt hợp đồng lao động với các

hợp đồng khác có nội dung tương tự

Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO),

hợp đồng lao động được định nghĩa là:

"Một thỏa thuận ràng buộc pháp lí giữa

một người sử dụng lao động và một công

nhân, trong đó xác lập các điều kiện và chế

độ việc làm".(6) Khái niệm này có thể coi là

có tính khái quát vì đ2 phản ánh được bản

chất của hợp đồng nói chung, phù hợp với

quan niệm "hợp đồng, định nghĩa một cách

đơn giản nhất là những thoả thuận có giá

trị pháp lí ràng buộc các bên"(7)

đồng thời xác định được các bên trong hợp đồng lao

động - một phần nội dung của quan hệ

Nhưng khái niệm có nhược điểm là việc

xác định một bên của quan hệ là công

nhân, rõ ràng đ2 thu hẹp nhóm chủ thể này

và chưa nêu rõ được bản chất của hợp đồng

lao động

ở nước ta, kể từ khi ban hành Sắc lệnh

số 29/SL, Sắc lệnh số 77/SL đến nay, có thể

nói chưa lúc nào trong hệ thống pháp luật

lao động nước ta lại không tồn tại những

văn bản quy định về hợp đồng lao động

Nói cách khác, chế độ hợp đồng lao động

trong đó có khái niệm hợp đồng lao động

chưa khi nào không được thừa nhận về mặt

pháp lí ở nước ta Tuy nhiên, tuỳ từng giai

đoạn, điều kiện cụ thể mà khái niệm hợp

đồng lao động có sự khác nhau nhất định

về mặt phạm vi và nội dung Cụ thể có một

số văn bản quy định về vấn đề này như sau:

- Công văn số 2477/NC ngày 20/6/1959 của Thủ tướng Chính phủ về việc tuyển dụng người vào biên chế và sử dụng nhân viên phụ động hợp đồng, theo đó, hợp đồng lao động vẫn được áp dụng song chỉ dùng

để tuyển lao động "phụ động"

- Thông tư số 21/LĐ-TT ngày 8/11/1961 của Bộ lao động quy định chi tiết hướng dẫn việc tuyển dụng nhân công làm tạm thời và việc kí kết hợp đồng lao động giữa đơn vị

sử dụng và nhân công Thông tư này có đưa

ra khái niệm hợp đồng lao động như sau:

"Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận trên nguyên tắc tự nguyện giữa đơn vị sử dụng

và tập thể hoặc cá nhân người làm công Một bên là tập thể hoặc cá nhân người làm công cam kết hoàn thành công việc do đơn

vị sử dụng giao cho và được hưởng các chế

độ, quyền lợi theo công việc mình làm; một bên là đơn vị sử dụng cam kết bảo đảm thi hành đúng các chế độ lao động hiện hành cho người đi làm công và tạo mọi điều kiện cho người làm công có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ"

- Quyết định số 217/HĐBT ngày 14/11/1987 của Hội đồng Bộ trưởng ban hành các chính sách đổi mới kế hoạch hoá

và hạch toán kinh doanh x2 hội chủ nghĩa

đối với xí nghiệp quốc doanh Đây có thể coi là một trong các văn bản pháp luật kinh tế đầu tiên của thời kì đổi mới Trong

đó, về lĩnh vực lao động có quy định: Các

xí nghiệp quốc doanh thực hiện việc chuyển dần từng bước chế độ tuyển dụng vào biên chế Nhà nước sang chế độ hợp

Trang 4

đồng lao động Hợp đồng lao động do giám

đốc xí nghiệp và người lao động thỏa thuận

Hướng dẫn thi hành Quyết định số

217/HĐBT, ngày 09/01/1988, Bộ Lao động

- thương binh và x2 hội ban hành Thông tư

số 01/LĐTB - XH Điểm 1, Mục I Thông tư

có quy định: "Hợp đồng lao động là sự

thỏa thuận bằng văn bản giữa giám đốc xí

nghiệp và người lao động về nghĩa vụ và

quyền lợi, về trách nhiệm và quyền hạn của

hai bên trong quá trình lao động do giám

đốc và người lao động kí kết theo mẫu đính

kèm Thông tư này”

- Pháp lệnh hợp đồng lao động được

Hội đồng Nhà nước ban hành ngày

30/08/1990 Điều 1 Pháp lệnh nêu khái

niệm về hợp đồng lao động như sau: "Hợp

đồng lao động là sự thỏa thuận giữa người

lao động với người sử dụng, thuê mướn lao

động (gọi chung là người sử dụng lao động),

về việc làm có trả công, mà hai bên cam kết

với nhau về điều kiện sử dụng lao động và

điều kiện lao động, về quyền và nghĩa vụ

của mỗi bên trong quan hệ lao động"

- Để đáp ứng nhu cầu phát triển của

đất nước, trên cơ sở đúc rút kinh nghiệm

thực hiện pháp luật hợp đồng lao động ở

nước ta cũng như kinh nghiệm của một số

nước có nền kinh tế thị trường truyền

thống hoặc có cơ sở kinh tế, mô hình kinh

tế tương đồng, ngày 23/6/1994 Bộ luật lao

động được Quốc hội nước ta thông qua và

có hiệu lực từ ngày 1/1/1995 Tại Điều 26

BLLĐ hợp đồng lao động được quy định

như sau: "Hợp đồng lao động là sự thoả

thuận giữa người lao động và người sử

dụng lao động về việc làm có trả công, điều

kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên

trong quan hệ lao động"

Trên cơ sở quy định của pháp luật lao

động ở nước ta qua từng thời kì nói trên,

có thể rút ra một số nhận xét đối với khái niệm về hợp đồng lao động như sau:

- Thứ nhất: Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1961, hợp đồng lao động được thừa nhận trong hệ thống pháp luật và được thực hiện trên thực tế Song, không có khái niệm pháp lí chính thức nào về hợp đồng lao động được quy định Quan hệ hợp

đồng lao động giai đoạn này nói chung

được điều chỉnh bằng dân luật

- Thứ hai: Từ năm 1961 đến trước năm

1990, hợp đồng lao động bắt đầu được

định nghĩa về mặt pháp lí song chưa có tính khái quát cao Quy định có tính chất

định nghĩa về hợp đồng lao động giai đoạn này thường dưới dạng liệt kê các dấu hiệu

và nội dung của hợp đồng lao động Điều này một mặt là do trong thực tế hợp đồng lao động hầu như không được thực hiện, bởi nó không có cơ sở kinh tế để tồn tại hay nói cách khác đời sống kinh tế, x2 hội không có nhu cầu về loại quan hệ này Mặt khác, sự thiếu vắng khái niệm về hợp

đồng lao động thể hiện sự hạn chế về khoa học luật lao động cũng như kĩ thuật lập pháp lúc bấy giờ đồng thời cũng thể hiện

sự chưa định hình thật rõ ràng của quan hệ lao động làm công ăn lương trong điều kiện nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung Nói chung, quan niệm về hợp đồng lao động trong thời kì này còn giản đơn, chưa phản

ánh được những dấu hiệu pháp lí có tính khái quát của hợp đồng lao động

- Thứ ba: Từ năm 1990 đến nay, với sự

ra đời của Pháp lệnh hợp đồng lao động

Trang 5

sau đó là Bộ luật lao động, khái niệm có

tính chất pháp lí về hợp đồng lao động bắt

đầu có bước phát triển mới, đ2 có tính khái

quát và chú ý phản ánh những vấn đề như

chủ thể, nội dung của quan hệ lao động

làm công ăn lương trong điều kiện nền

kinh tế thị trường

Như vậy, có thể thấy khái niệm hợp

đồng lao động tưởng chừng đơn giản nhưng

trong thực tế cho thấy có nhiều cách tiếp

cận khác nhau Song nhìn chung, giữa các

khái niệm này đều ít nhiều có những điểm

tương đồng Sự khác biệt được giải thích

bởi sự khác nhau về lí luận khoa học luật

lao động, về truyền thống pháp lí, về điều

kiện kinh tế, x2 hội Chẳng hạn, các quan

niệm của những nước có phân chia pháp

luật thành hệ thống luật công và luật tư,

trong đó coi hợp đồng lao động thuộc lĩnh

vực luật tư như Pháp, Đức, Hàn Quốc khi

định nghĩa khái niệm thường lưu ý về các

khía cạnh liên quan đến yếu tố của hợp

đồng lao động nhằm mục đích phân biệt

hợp đồng lao động với các hợp đồng dân

sự Trong khi đó, quan niệm của Việt

Nam, Trung Quốc lại chú ý đến chủ thể,

nội dung của hợp đồng lao động do quan

niệm phân chia hệ thống pháp luật thành

nhiều ngành luật có sự độc lập tương đối

với nhau Liên quan đến vấn đề này, trước

đây người ta đ2 từng tranh luận với nhau

về thuật ngữ “người lao động" trong khái

niệm hợp đồng lao động và cho rằng dùng

thuật ngữ này là quá rộng nếu như không

muốn nói là không chính xác khi chỉ một

bên trong quan hệ hợp đồng lao động Vì

trong thực tế thuật ngữ “người lao động”

được dùng để chỉ tất cả các công dân đến

độ tuổi nhất định, có tham gia lao động trong x2 hội gồm công chức, người làm nghề tự do, công nhân, x2 viên mà những người này không phải ai cũng làm việc theo hợp đồng lao động Đây cũng là

lí do mà án lệ ngày 2/7/1954 của toà án Pháp không sử dụng thuật ngữ này Hiện nay, không mấy ai theo đuổi cuộc tranh luận này nữa và thực tế thuật ngữ "người lao động", "người sử dụng lao động" được

sử dụng phổ biến trong luật lao động của hầu hết các nước Người ta giải quyết vấn

đề này bằng cách đưa ra các quy phạm

định nghĩa về hai thuật ngữ trên trong các quy định của pháp luật lao động (ví dụ:

Điều 6 Bộ luật lao động Việt Nam; Điều

14 và 15 Luật các tiêu chuẩn lao động Hàn Quốc ) Tuy nhiên, cũng cần khẳng định rằng khái niệm "người lao động" và khái niệm "người làm công ăn lương" là hai khái niệm không đồng nhất

Như vậy, tuỳ theo truyền thống, khoa học pháp lí, cơ sở kinh tế, x2 hội pháp luật lao động các nước ít nhiều có sự khác biệt khi tiếp cận khái niệm hợp đồng lao

động ở nước ta, khái niệm hợp đồng lao

động cũng có sự thay đổi theo điều kiện kinh tế, x2 hội mỗi thời kì Tuy nhiên, theo chúng tôi, mặc dù đ2 có tính khái quát nhưng khái niệm hợp đồng lao động trong luật hiện hành vẫn chưa phản ánh

được đầy đủ nội dung quan hệ lao động

Do đó, chúng tôi xin được đưa ra khái niệm về hợp đồng lao động như sau:

Trang 6

Hợp đồng lao động là sự thoả thuận giữa

người lao động và người sử dụng lao động về

việc làm có trả công, quyền và nghĩa vụ của

hai bên trong quan hệ lao động

Khái niệm này giống với quy định tại

Điều 26 Bộ luật lao động ở chỗ nó nêu lên

được bản chất của hợp đồng lao động là

loại quan hệ khế ước, xác định được các

bên trong quan hệ (người lao động và

người sử dụng lao động), yếu tố của quan

hệ (việc làm có trả công) và những nội

dung chính của quan hệ Song, nó khác ở

chỗ là bỏ nội dung “về điều kiện lao động”

mà Điều 26 đ2 quy định Bởi vì, thứ nhất,

quy định của Điều 26 Bộ luật lao động về

sự thoả thuận của hai bên là “ điều kiện

lao động, quyền nghĩa vụ của hai bên

trong quan hệ lao động ” cho ta hiểu đây

là hai vấn đề khác nhau Nhưng thoả thuận

“điều kiện lao động” xét cho cùng cũng là

quyền và nghĩa vụ hai bên trong quan hệ

lao động Thứ hai, quy định như trên dẫn

đến cách hiểu là các bên chỉ được thoả

thuận “điều kiện lao động” nhưng trong

thực tế ngoài điều kiện lao động các bên

có quyền thoả thuận nhiều vấn đề khác

như điều kiện sử dụng lao động, nơi ăn, ở,

đi lại, đào tạo Vì vậy, theo chúng tôi

khái niệm hợp đồng lao động chúng tôi

đưa ra ở trên nhằm thực sự tôn trọng

quyền tự định đoạt của hai bên trong quan

hệ hợp đồng lao động mở rộng tối đa

quyền lựa chọn, thoả thuận cho hai bên

trong hợp đồng lao động Ngoài ra, "mỗi

bên trong quan hệ lao động" được thay

bằng "hai bên trong quan hệ lao động" vì quan hệ lao động là quan hệ song phương chứ không bao gồm quan hệ đa phương do

đó dùng thuật ngữ "hai bên" phản ánh

đúng tính chất của quan hệ lao động hơn

So với các quan niệm của Đức, Pháp về hợp đồng lao động, khái niệm này không

đưa ra được đầy đủ các đặc trưng của quan

hệ hợp đồng lao động Tuy nhiên, theo chúng tôi là không cần thiết Bởi vì, hệ thống pháp luật của nước ta được phân chia thành nhiều ngành luật, do đó nội dung nói trên đ2 được giải quyết trong lí luận khoa học về luật lao động bởi đây là một trong những căn cứ xác định tính độc lập của ngành luật Vì vậy, trong khái niệm hợp đồng lao động mà chúng tôi đưa

ra ở trên chủ yếu nhằm làm rõ những vấn

đề có tính bản chất, chủ thể, nội dung của quan hệ hợp đồng lao động trên cơ sở

lí luận khoa học luật lao động ở nước ta hiện nay./

(1), (2).Xem: GS.TS Brundhilde Steckler - Sách chuyên khảo "Luật lao động và x2 hội", Nxb Bielefeld 1996 (3).Xem: Hợp đồng lao động (Sự ra đời và hình thành của hợp đồng lao động) - Tuyển tập pháp lí của Cộng hoà Pháp - Phần 5

(4), (5).Xem: Tôn Trung Nhạn - “Kinh tế thị trường x hội chủ nghĩa và công đoàn”, Nxb Lao

động, 1995, tr.182,183,187

(6).Xem: Thuật ngữ quan hệ công nghiệp và các khái niệm liên quan, Tổ chức Lao động Quốc tế - Văn phòng lao động quốc tế Đông á (ILO/EASMAT) - Băng Cốc 9/1996

(7).Xem: Devid Kely & Ann Holmes Principles of Business law London, Sydney 1997

Ngày đăng: 31/03/2014, 12:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm