1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo " Pháp luật, áp dụng pháp luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng ở Việt Nam - thực trạng và phương hướng hoàn thiện " potx

7 1,7K 25
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 128,82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đinh Thị Mai Phương * rách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là nội dung quan trọng trong chế định trách nhiệm dân sự của pháp luật các nước trên thế giới.. Chẳng hạn, tại Trung

Trang 1

Đinh Thị Mai Phương * rách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài

hợp đồng là nội dung quan trọng

trong chế định trách nhiệm dân sự của

pháp luật các nước trên thế giới

Chẳng hạn, tại Trung Quốc, việc xác

định trách nhiệm bồi thường thiệt hại

ngoài hợp đồng được quy định một cách

tương đối hoàn thiện, nhất là pháp luật về

bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong

mối quan hệ giữa Nhà nước với cá nhân,

tổ chức

Để giải quyết trách nhiệm bồi thường

thiệt hại ngoài hợp đồng trong các trường

hợp oan sai do công chức trong các cơ

quan nhà nước gây ra, Trung Quốc đ< ban

hành Luật nhà nước bồi thường thiệt hại

vào năm 1995 Luật này không chỉ cụ thể

hoá các nguyên tắc được ghi nhận trong

luật dân sự mà còn cụ thể hóa từng vấn đề

như phạm vi, trình tự bồi thường, cơ quan

có trách nhiệm bồi thường, cá nhân, tổ

chức có quyền yêu cầu bồi thường và chế

độ cụ thể trong quá trình giải quyết trách

nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp

đồng Hơn thế, các vấn đề này còn được

quy định một cách cụ thể trong các lĩnh

vực khác nhau như trong tố tụng dân sự, tố

tụng hành chính và trong tố tụng hình sự

Luật này đ< dành toàn bộ Chương 4 để quy định về cách thức xác định thiệt hại cũng như các tiêu chuẩn tính để ấn định mức bồi thường thiệt hại về vật chất cũng như về tinh thần mà người bị hại phải gánh chịu

Tại Nhật Bản, ngoài hệ thống các quy phạm pháp luật tương đối hoàn thiện điều chỉnh về vấn đề này, các luật gia còn định kì soạn thảo ra các cuốn hướng dẫn về các quy

định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng với nội dung bao gồm:

+ Cách tính khoản bồi thường thiệt hại về vật chất, trong đó có các phần nhỏ như:

- Xác định phần thu nhập bị mất:

* Đối với những người đang có việc làm;

* Đối với những người không có việc làm;

- Khấu trừ chi phí sinh hoạt phát sinh do mức chênh lệch giữa chi phí cần thiết khi chưa

bị gây thiệt hại và sau khi bị thiệt hại trong tổng số tiền bồi thường thiệt hại cho người bị hại

- Cách tính thiệt hại liên quan tới thu nhập lẽ

ra phải có nếu không bị gây thiệt hại

+ Cách tính khoản bồi thường thiệt hại về tinh thần, trong đó bao gồm:

- Trường hợp bồi thường do bị thương tật

T

* Viện nghiên cứu khoa học pháp lí

Bộ tư pháp

Trang 2

về thân thể;

- Tiền bồi thường do thiệt hại về

tính mạng;

- Bồi thường sau chấn thương

+ Cách tính bồi thường thiệt hại trên

cơ sở lỗi, trong đó bao gồm:

- Bồi thường thiệt hại bằng tiền;

- Các hình thức bồi thường không phải

bằng tiền;

- Một số trường hợp cụ thể

Cùng với những nội dung trên, những

phán quyết điển hình cũng được dẫn chiếu

để các thẩm phán có thể áp dụng trong quá

trình xét xử các vụ việc sau này

Pháp luật về bồi thường thiệt hại ngoài

hợp đồng của các nước rất có giá trị để

chúng ta tham khảo

1 Đánh giá chung pháp luật hiện

hành về trách nhiệm bồi thường thiệt

hại ngoài hợp đồng ở nước ta

Trước khi có BLDS, vấn đề này mới

chỉ được đề cập trong một số văn bản

hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao

như Thông tư số 173/UBTP ngày

23/03/1972 hướng dẫn xét xử về bồi

thường thiệt hại ngoài hợp đồng; Thông tư

số 03/TATC ngày 05/04/1983 hướng dẫn

giải quyết một số vấn đề về bồi thường

thiệt hại trong tai nạn ô tô

Với sự ra đời của BLDS, các quy định

pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt

hại ngoài hợp đồng đ< được ghi nhận một

cách tương đối đầy đủ Sự ghi nhận trách

nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

trong BLDS đ< tạo ra cơ sở pháp lí cho các

tòa án trong công tác xét xử những tranh

chấp liên quan tới trách nhiệm bồi thường

thiệt hại ngoài hợp đồng, góp phần quan trọng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong giao lưu dân sự

Trong BLDS, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được quy định tại Chương

V, Phần thứ ba Bên cạnh các quy định cơ bản

được quy định trong chương này, các quy định khác có liên quan còn nằm trong nhiều phần khác nhau của BLDS như Phần thứ nhất về các quy định chung, các quy định về nghĩa vụ dân

sự và trách nhiệm dân sự

Ngày 3/5/1997, Chính phủ đ< ban hành Nghị định số 47/CP về việc giải quyết bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức nhà nước, người có thẩm quyền trong các cơ quan tiến hành tố tụng gây ra; Bộ tài chính đ< ban hành Thông tư số 38/1998-TT-BTC ngày 30/3/1998 hướng dẫn việc lập dự toán, sử dụng và quyết toán ngân sách nhà nước cho bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức nhà nước, người có thẩm quyền của cơ quan nhà nước, cơ quan tiến hành tố tụng gây ra; Ban tổ chức - cán bộ Chính phủ đ< ban hành Thông tư số 54/1998-TT-TCCP ngày 4/6/1998 hướng dẫn thực hiện một số nội dung Nghị định

số 47/CP ngày 3/5/1997 của Chính phủ

Kể từ khi BLDS có hiệu lực, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đ< ban hành số lượng

đáng kể các văn bản hướng dẫn về vấn đề bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Tuy nhiên, ở mức độ khái quát có thể thấy, các quy định pháp luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp

đồng vẫn tồn tại một số bất cập sau:

1.1 Các quy định pháp luật nước ta về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp

đồng chưa có sự gắn kết với các quy định trong những phần khác của BLDS Điều này

Trang 3

gây ra tình trạng khó áp dụng luật Thật

vậy, vấn đề trách nhiệm bồi thường thiệt

hại ngoài hợp đồng được quy định tại

Chương V, Phần thứ ba (về Nghĩa vụ dân

sự và Hợp đồng dân sự); Chương I về

Những quy định chung tại Mục 3 (Trách

nhiệm dân sự) Theo quan điểm của chúng

tôi, bố cục như vậy chưa thực sự hợp lí

Xét về bản chất, trách nhiệm bồi

thường thiệt hại ngoài hợp đồng là dạng

đặc biệt của trách nhiệm dân sự Tuy

nhiên, xem xét các quy định tại mục 3,

Chương I, Phần thứ ba, BLDS, mối quan

hệ giữa trách nhiệm dân sự và trách nhiệm

bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng chưa

được thể hiện một cách rõ ràng Nếu chỉ

căn cứ vào quy định tại Điều 308 và Điều

310 chúng ta chưa thể thấy được mối quan

hệ này Cách xây dựng hai điều luật này

chưa thật hợp lí Quy định tại các Điều

308 cũng như tại Điều 310 chưa nêu rõ

được nội hàm và ngoại diên của khái niệm

trách nhiệm dân sự nói chung và trách

nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

nói riêng Hơn thế, quy định tại Điều 609

cũng không làm rõ được điều này

Theo ý kiến của chúng tôi, sự “cô lập”

của các quy định về trách nhiệm bồi

thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong

BLDS trong mối quan hệ với các chế định

khác là một trong các nguyên nhân mang

tính lập pháp đ< tạo ra tình trạng khó khăn

và tâm lí “ngại” áp dụng các quy định trên

thực tiễn

1.2 Các quy định về xác định thiệt hại

và ấn định mức bồi thường thiệt hại trong

BLDS chưa cụ thể, mới mang tính nguyên

tắc, trong khi đó, các văn bản hướng dẫn thi hành vẫn chưa được ban hành

Việc xác định thiệt hại và ấn định mức bồi thường đối với những thiệt hại về vật chất và tinh thần đều đ< được quy định tại các điều

612, 613, 614, 615 và 616 Tuy nhiên, nếu chỉ căn cứ vào quy định trong các điều luật trên thì thẩm phán không thể đưa ra quyết định hợp lí trong các trường hợp cụ thể, đặc biệt

đối với những thiệt hại về tinh thần

Tình trạng thiếu văn bản hướng dẫn đ< gây ra tình trạng mỗi thẩm phán, mỗi tòa án hiểu và áp dụng theo một cách khác nhau

Đối với những thiệt hại về vật chất, mặc

dù đ< có Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19/6/1997 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp, Bộ tài chính “Hướng dẫn việc xét xử và thi hành án

về tài sản” nhưng nhiều vấn đề liên quan tới việc bồi thường những thiệt hại về vật chất vẫn chưa được đề cập Đối với những thiệt hại

về vật chất do tính mạng, sức khỏe, danh dự,

uy tín bị xâm phạm thì hoàn toàn không thể

áp dụng những hướng dẫn trong Thông tư này Chúng tôi xin đơn cử một ví dụ rất phổ biến

về tình trạng này, đó là cách xác định mức tiền cấp dưỡng mà người người bị hại có nghĩa

vụ cấp dưỡng trong khoản bồi thường thiệt hại

về vật chất do tính mạng, sức khỏe bị xâm phạm, phương thức thực hiện việc cấp dưỡng, phạm vi các đối tượng được cấp dưỡng vẫn là vấn đề nan giải, gây khó khăn cho các thẩm phán trong hoạt động xét xử

Đối với những thiệt hại về tinh thần, cũng tương tự như đối với thiệt hại về vật chất cho

Trang 4

tới nay vẫn chưa có văn bản hướng dẫn chi

tiết Hơn thế, theo quy định tại các Điều

613 (khoản 4); Điều 614 (khoản 4); Điều

615 (khoản 3) thì chính bản thân thẩm

phán là người có quyền ra quyết định ấn

định mức bồi thường đối với những thiệt

hại về tinh thần Điều này đ< gây ra tình

trạng thiếu thống nhất trong hoạt động xét

xử của tòa án, tình trạng đơn thư khiếu nại,

tố cáo và tình trạng kháng cáo diễn ra rất

phổ biến trong các vụ án liên quan tới việc

xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại

ngoài hợp đồng

Theo quy định tại Điều 310, trách

nhiệm bồi thường thiệt hại bao gồm thiệt

hại về tinh thần và bồi thường thiệt hại về

vật chất Do vậy, theo quan điểm của

chúng tôi, khi xảy ra thiệt hại về vật chất,

thiệt hại về tinh thần, các chủ thể bị thiệt

hại đều có quyền yêu cầu tòa án buộc

người đ< gây ra thiệt hại phải bồi thường

Việc có yêu cầu bên gây thiệt hại phải bồi

thường thiệt hại về vật chất, tinh thần hay

không hoàn toàn thuộc quyền của người bị

hại, tòa án chỉ giữ vai trò là người xem xét

yêu cầu đó và ra quyết định

1.3 Các quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong BLDS không những mới chỉ dừng lại ở các quy định mang tính nguyên tắc mà còn tồn tại những khoảng trống chưa

được điều chỉnh trước yêu cầu phát sinh trong thực tiễn

Ví dụ: Hiện nay, các quy định pháp luật tạo cơ sở pháp lí cho việc giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại về vật chất và tinh thần do tài sản vô hình, đặc biệt đối với các đối tượng

sở hữu trí tuệ vẫn chưa được ghi nhận trong BLDS; các quy định liên quan tới cơ sở pháp lí nhằm xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với pháp nhân, tổ chức gây thiệt hại cho tới nay cũng chưa được ghi nhận Tình trạng này gây ra rất nhiều khó khăn cho các thẩm phán trong công tác xét xử, đặc biệt đối với những vi phạm về môi trường

2 Thực trạng giải quyết các vụ việc dân

sự liên quan tới trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

2.1 Về số liệu thụ lí và giải quyết các yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng tại các tòa án được thể hiện ở bảng dưới đây:(1)

Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Thụ lí Giải quyết Thụ lí Giải quyết

- Bồi thường thiệt hại do tai nạn giao thông 890 547 877 664

- Bồi thường thiệt hại do tai nạn lao động 184 142 175 162

- Bồi thường thiệt hại do hành hung 2.563 1.832 3.016 2.593

- Bồi thường thiệt hại do các nguyên nhân khác 2.020 1.271 2.066 1.718

Trang 5

Năm 1998 Q.I Năm 1999

Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Thụ lí Giải quyết Thụ lí Giải quyết

- Thiệt hại về sức khỏe, tính mạng 5.488 4.204 1.539 692

- Thiệt hại về danh dự, nhân phẩm, uy tín 347 272 84 25

- Thiệt hại trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh 484 292 128 50

Từ những số liệu trên đây cho thấy,

cùng với công tác xét xử của các cấp tòa

án, các quy định về trách nhiệm bồi thường

thiệt hại trong BLDS đ< phát huy hiệu lực

thực tế trong việc giải quyết các tranh chấp

phát sinh trong đời sống Quyền và lợi ích

hợp pháp của các cá nhân, tổ chức đ< được

quan tâm và giải quyết được một phần

đáng kể

Bên cạnh những kết quả đạt được,

những số liệu trên đây cũng cho thấy, tình

trạng xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh

dự, nhân phẩm, uy tín và tài sản đối với các

cá nhân, tổ chức hiện đang ngày một gia

tăng Tuy nhiên, qua sự chênh lệch giữa số

liệu án đ< thụ lí và số liệu án đ< giải quyết

chứng tỏ, trong quá trình xét xử loại tranh

chấp này, các tòa án còn gặp rất nhiều khó

khăn Vấn đề giải quyết các yêu cầu đòi

bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, đặc

biệt bồi thường tổn thất về tinh thần vẫn là

chủ đề luôn được bàn luận và quan tâm của

những người làm công tác xét xử và các đối

tượng áp dụng pháp luật khác thông qua

các diễn đàn công khai và các phương tiện

thông tin đại chúng Ví dụ, trong bài bồi thường thiệt hại về tinh thần trong BLDS của tác giả Tô Quốc Kì được đăng trong Tạp chí Tòa án số 10/1999 có đoạn: “Mặc dù, từ khi BLDS có hiệu lực tới nay, các vụ kiện về yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài về tinh thần mà tòa án phải giải quyết ngày một nhiều hơn Tuy nhiên, do chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể nên các tòa địa phương rất lúng túng trong khâu giải quyết”

Vấn đề xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong các vụ án hình

sự cũng là vấn đề khó khăn còn gây nhiều tranh c<i Vì vậy, vấn đề giải quyết các tranh chấp, yêu cầu về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng luôn được đề cập trong các báo cáo công tác ngành tòa án, cũng như trong những công văn hướng dẫn công tác xét xử trong lĩnh vực hình sự, dân sự, kinh tế, lao động và tố tụng của Tòa án nhân dân tối cao

2.2 Một số nét về thực trạng hoạt động xét

xử các vụ án liên quan tới trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Qua tìm hiểu thực tiễn công tác xét xử tại các tòa án cho thấy:

Trang 6

- Thứ nhất, hiệu quả công tác xét xử

của các cấp tòa án trong lĩnh vực bồi

thường thiệt hại ngoài hợp đồng còn chưa

cao, đặc biệt việc xem xét đến trách nhiệm

bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong

các vụ án hình sự còn chưa được các thẩm

phán quan tâm đúng mức Các bản án, quyết

định của tòa án về trách nhiệm bồi thường thiệt

hại vẫn chưa thực sự có cơ sở thuyết phục và

thiếu chính xác

Ví dụ: Vụ án xét xử Nguyễn Ngọc Tư

về tội “Vi phạm các quy định về an toàn

giao thông vận tải” tại bản án hình sự sơ

thẩm số 44/HSST ngày 7/9/1999 củaToà án

huyện Tân Châu và bản án hình sự phúc

thẩm số 19/HSPT ngày 25/10/1999 Toà án

tỉnh Tây Ninh Trong vụ án này, hành vi của

Nguyễn Ngọc Tư là không tuân thủ các

quy định về an toàn giao thông vận tải

trong khi lùi xe nên đ< gây ra cái chết của

anh Kiên Hậu quả xảy ra hoàn toàn do lỗi

của bị cáo Nhưng sau khi gây ra tai nạn

Nguyễn Ngọc Tư hoàn toàn không bồi

thường thiệt hại cho gia đình nạn nhân Bên

cạnh đó, toà án cấp sơ thẩm và phúc thẩm

đều buộc chủ phương tiện là anh Nguyễn

Văn Phước bồi thường cho gia đình người

bị hại nhưng quyết định không cụ thể, rõ

ràng từng khoản bồi thường theo quy định

của pháp luật Ngoài ra, toà án cấp phúc

thẩm đ< buộc anh Phước phải bồi thường

thêm 10.000.000đ để cấp dưỡng nuôi con

của nạn nhân một lần nhưng không tuyên

rõ cấp dưỡng theo phương thức nào và cho những ai

- Thứ hai, các yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, đặc biệt trong các trường hợp oan sai do cán bộ, công chức hoặc những người có thẩm quyền trong các cơ quan tiến hành tố tụng, trong các cơ quan nhà nước chưa

được giải quyết một cách thỏa đáng Ví dụ: Uỷ ban nhân dân x< An Hiệp, huyện Châu Thành,

Đồng Tháp ra quyết định “tạm đình chỉ hôn nhân” giữa chị Võ Thị Bé (ở tổ 15, ấp An Hòa,

An Hiệp) và anh Lê Thanh Tùng (ngụ ở ấp Trung 2, x< Tân Hòa, Phú Tân, An Giang) Ngày 27/11/1998, hai anh chị đ< được Uỷ ban nhân dân x< An Hiệp cấp giấy chứng nhận kết hôn nhưng vào ngày “nhóm họ” (hai tháng sau

đó), Uỷ ban nhân dân x< đến đọc quyết định

“tạm đình chỉ hôn nhân” của họ, thu lại tờ hôn thú đ< cấp và mời cô dâu, chú rể lên x< làm việc vào ngày hôm sau (tức ngày dự định diễn

ra lễ cưới) Sự việc nêu trên đ< gây thiệt hại về danh dự, uy tín và vật chất cho cả cô dâu, chú

rể và gia đình đôi bên Sau sự việc trên, chị Bé

đ< gửi đơn khiếu nại đến Uỷ ban nhân dân huyện Mặc dù Uỷ ban nhân dân nhìn nhận vụ việc này là sai thẩm quyền, tuy nhiên vẫn bác yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại của chị Bé Không đồng ý với quyết định trên, chị Bé đ< khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Châu Thành và yêu cầu Uỷ ban nhân dân bồi thường cho chị khoản tiền là 10.600.000đ đối với những thiệt hại về vật chất, và tinh thần đ< gây

ra Tuy nhiên, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành vẫn ra quyết định bác toàn bộ yêu cầu

Trang 7

đòi bồi thường thiệt hại của chị Bé (tại

phiên tòa sơ thẩm ngày 17/03/2000)

Những vụ án được trích dẫn trên đây

chỉ phần nào nói lên thực trạng xác định

trách nhiệm bồi thường thiệt hại tại các cấp

tòa án Thực trạng này, nếu không sớm

được khắc phục sẽ làm suy giảm lòng tin

của quần chúng nhân dân vào tính nghiêm

minh của pháp luật, pháp chế x< hội chủ

nghĩa, gây mất công bằng x< hội

3 Một số kiến nghị

Qua phần tích trên đây, trong phạm vi

bài viết của mình, chúng tôi xin nêu ra một số

kiến nghị để cùng trao đổi với các bạn đọc:

3.1 Về khía cạnh lập pháp:

- Cần sửa lại cách sắp xếp các quy định

trong BLDS về bồi thường thiệt hại ngoài

hợp đồng theo hướng chỉ đưa vào BLDS

các quy định chung mang tính nguyên tắc

về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài

hợp đồng và chuyển lên mục kế tiếp với

mục trách nhiệm dân sự hoặc có thể ghép

vào mục về trách nhiệm dân sự và sửa đổi,

bổ sung một số quy định như đ< phân tích

trên đây

- Cần rà soát toàn bộ các quy định về

bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong

các lĩnh vực pháp luật khác nhau để tiến

hành sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới

nhằm bảo đảm tính thống nhất với các quy

định mang tính nguyên tắc trong BLDS

- Cần ban hành các văn bản hướng dẫn

mang tính định hướng chung cho việc xác

định và ấn định mức bồi thường thiệt hại về vật chất và tinh thần trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn hoạt động xét xử các loại án này của các tòa án

3.2 Về cơ chế phối hợp giải quyết yêu cầu

đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng:

Theo quy định của BLDS, người bị thiệt hại có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền hoặc tòa án giải quyết yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại Do vậy cần có văn bản quy định cụ thể về cơ quan có thẩm quyền giải quyết trong các vụ việc khác nhau cũng như cơ chế phối hợp giải quyết giữa các cơ quan cùng liên đới chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, đặc biệt

đối với trường hợp bồi thường thiệt hại do cán

bộ, công chức nhà nước, người có thẩm quyền trong các cơ quan tiến hành tố tụng gây ra 3.3 Nâng cao hiểu biết pháp luật của người dân nói chung và của các cán bộ, công chức nhà nước, người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng nói riêng trong lĩnh vực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thông qua việc đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền, giáo dục và phổ biến pháp luật Qua đó giúp mỗi người ý thức được hơn trách nhiệm của mình đối với chính các quyền dân sự của mình, đối với các quyền dân sự của người khác

và đối với lợi ích chung của toàn x< hội./

(1) Vì từ năm 1999 trở lại đây chưa có số liệu thống kê riêng biệt về loại án này nên chúng tôi tạm thời trích dẫn số liệu từ năm 1996 tới quý I năm 1999 trong Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ của Tòa án nhân dân tối cao về “Vấn đề áp dụng một số chế định của Bộ luật dân

sự trong thực tiễn xét xử của tòa án, năm 1999”

Ngày đăng: 31/03/2014, 12:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w