Đinh Thị Mai Phương * rách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là nội dung quan trọng trong chế định trách nhiệm dân sự của pháp luật các nước trên thế giới.. Chẳng hạn, tại Trung
Trang 1
Đinh Thị Mai Phương * rách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài
hợp đồng là nội dung quan trọng
trong chế định trách nhiệm dân sự của
pháp luật các nước trên thế giới
Chẳng hạn, tại Trung Quốc, việc xác
định trách nhiệm bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng được quy định một cách
tương đối hoàn thiện, nhất là pháp luật về
bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong
mối quan hệ giữa Nhà nước với cá nhân,
tổ chức
Để giải quyết trách nhiệm bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng trong các trường
hợp oan sai do công chức trong các cơ
quan nhà nước gây ra, Trung Quốc đ< ban
hành Luật nhà nước bồi thường thiệt hại
vào năm 1995 Luật này không chỉ cụ thể
hoá các nguyên tắc được ghi nhận trong
luật dân sự mà còn cụ thể hóa từng vấn đề
như phạm vi, trình tự bồi thường, cơ quan
có trách nhiệm bồi thường, cá nhân, tổ
chức có quyền yêu cầu bồi thường và chế
độ cụ thể trong quá trình giải quyết trách
nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng Hơn thế, các vấn đề này còn được
quy định một cách cụ thể trong các lĩnh
vực khác nhau như trong tố tụng dân sự, tố
tụng hành chính và trong tố tụng hình sự
Luật này đ< dành toàn bộ Chương 4 để quy định về cách thức xác định thiệt hại cũng như các tiêu chuẩn tính để ấn định mức bồi thường thiệt hại về vật chất cũng như về tinh thần mà người bị hại phải gánh chịu
Tại Nhật Bản, ngoài hệ thống các quy phạm pháp luật tương đối hoàn thiện điều chỉnh về vấn đề này, các luật gia còn định kì soạn thảo ra các cuốn hướng dẫn về các quy
định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng với nội dung bao gồm:
+ Cách tính khoản bồi thường thiệt hại về vật chất, trong đó có các phần nhỏ như:
- Xác định phần thu nhập bị mất:
* Đối với những người đang có việc làm;
* Đối với những người không có việc làm;
- Khấu trừ chi phí sinh hoạt phát sinh do mức chênh lệch giữa chi phí cần thiết khi chưa
bị gây thiệt hại và sau khi bị thiệt hại trong tổng số tiền bồi thường thiệt hại cho người bị hại
- Cách tính thiệt hại liên quan tới thu nhập lẽ
ra phải có nếu không bị gây thiệt hại
+ Cách tính khoản bồi thường thiệt hại về tinh thần, trong đó bao gồm:
- Trường hợp bồi thường do bị thương tật
T
* Viện nghiên cứu khoa học pháp lí
Bộ tư pháp
Trang 2về thân thể;
- Tiền bồi thường do thiệt hại về
tính mạng;
- Bồi thường sau chấn thương
+ Cách tính bồi thường thiệt hại trên
cơ sở lỗi, trong đó bao gồm:
- Bồi thường thiệt hại bằng tiền;
- Các hình thức bồi thường không phải
bằng tiền;
- Một số trường hợp cụ thể
Cùng với những nội dung trên, những
phán quyết điển hình cũng được dẫn chiếu
để các thẩm phán có thể áp dụng trong quá
trình xét xử các vụ việc sau này
Pháp luật về bồi thường thiệt hại ngoài
hợp đồng của các nước rất có giá trị để
chúng ta tham khảo
1 Đánh giá chung pháp luật hiện
hành về trách nhiệm bồi thường thiệt
hại ngoài hợp đồng ở nước ta
Trước khi có BLDS, vấn đề này mới
chỉ được đề cập trong một số văn bản
hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao
như Thông tư số 173/UBTP ngày
23/03/1972 hướng dẫn xét xử về bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng; Thông tư
số 03/TATC ngày 05/04/1983 hướng dẫn
giải quyết một số vấn đề về bồi thường
thiệt hại trong tai nạn ô tô
Với sự ra đời của BLDS, các quy định
pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt
hại ngoài hợp đồng đ< được ghi nhận một
cách tương đối đầy đủ Sự ghi nhận trách
nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
trong BLDS đ< tạo ra cơ sở pháp lí cho các
tòa án trong công tác xét xử những tranh
chấp liên quan tới trách nhiệm bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng, góp phần quan trọng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong giao lưu dân sự
Trong BLDS, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được quy định tại Chương
V, Phần thứ ba Bên cạnh các quy định cơ bản
được quy định trong chương này, các quy định khác có liên quan còn nằm trong nhiều phần khác nhau của BLDS như Phần thứ nhất về các quy định chung, các quy định về nghĩa vụ dân
sự và trách nhiệm dân sự
Ngày 3/5/1997, Chính phủ đ< ban hành Nghị định số 47/CP về việc giải quyết bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức nhà nước, người có thẩm quyền trong các cơ quan tiến hành tố tụng gây ra; Bộ tài chính đ< ban hành Thông tư số 38/1998-TT-BTC ngày 30/3/1998 hướng dẫn việc lập dự toán, sử dụng và quyết toán ngân sách nhà nước cho bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức nhà nước, người có thẩm quyền của cơ quan nhà nước, cơ quan tiến hành tố tụng gây ra; Ban tổ chức - cán bộ Chính phủ đ< ban hành Thông tư số 54/1998-TT-TCCP ngày 4/6/1998 hướng dẫn thực hiện một số nội dung Nghị định
số 47/CP ngày 3/5/1997 của Chính phủ
Kể từ khi BLDS có hiệu lực, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đ< ban hành số lượng
đáng kể các văn bản hướng dẫn về vấn đề bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Tuy nhiên, ở mức độ khái quát có thể thấy, các quy định pháp luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng vẫn tồn tại một số bất cập sau:
1.1 Các quy định pháp luật nước ta về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng chưa có sự gắn kết với các quy định trong những phần khác của BLDS Điều này
Trang 3gây ra tình trạng khó áp dụng luật Thật
vậy, vấn đề trách nhiệm bồi thường thiệt
hại ngoài hợp đồng được quy định tại
Chương V, Phần thứ ba (về Nghĩa vụ dân
sự và Hợp đồng dân sự); Chương I về
Những quy định chung tại Mục 3 (Trách
nhiệm dân sự) Theo quan điểm của chúng
tôi, bố cục như vậy chưa thực sự hợp lí
Xét về bản chất, trách nhiệm bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng là dạng
đặc biệt của trách nhiệm dân sự Tuy
nhiên, xem xét các quy định tại mục 3,
Chương I, Phần thứ ba, BLDS, mối quan
hệ giữa trách nhiệm dân sự và trách nhiệm
bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng chưa
được thể hiện một cách rõ ràng Nếu chỉ
căn cứ vào quy định tại Điều 308 và Điều
310 chúng ta chưa thể thấy được mối quan
hệ này Cách xây dựng hai điều luật này
chưa thật hợp lí Quy định tại các Điều
308 cũng như tại Điều 310 chưa nêu rõ
được nội hàm và ngoại diên của khái niệm
trách nhiệm dân sự nói chung và trách
nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
nói riêng Hơn thế, quy định tại Điều 609
cũng không làm rõ được điều này
Theo ý kiến của chúng tôi, sự “cô lập”
của các quy định về trách nhiệm bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong
BLDS trong mối quan hệ với các chế định
khác là một trong các nguyên nhân mang
tính lập pháp đ< tạo ra tình trạng khó khăn
và tâm lí “ngại” áp dụng các quy định trên
thực tiễn
1.2 Các quy định về xác định thiệt hại
và ấn định mức bồi thường thiệt hại trong
BLDS chưa cụ thể, mới mang tính nguyên
tắc, trong khi đó, các văn bản hướng dẫn thi hành vẫn chưa được ban hành
Việc xác định thiệt hại và ấn định mức bồi thường đối với những thiệt hại về vật chất và tinh thần đều đ< được quy định tại các điều
612, 613, 614, 615 và 616 Tuy nhiên, nếu chỉ căn cứ vào quy định trong các điều luật trên thì thẩm phán không thể đưa ra quyết định hợp lí trong các trường hợp cụ thể, đặc biệt
đối với những thiệt hại về tinh thần
Tình trạng thiếu văn bản hướng dẫn đ< gây ra tình trạng mỗi thẩm phán, mỗi tòa án hiểu và áp dụng theo một cách khác nhau
Đối với những thiệt hại về vật chất, mặc
dù đ< có Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19/6/1997 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp, Bộ tài chính “Hướng dẫn việc xét xử và thi hành án
về tài sản” nhưng nhiều vấn đề liên quan tới việc bồi thường những thiệt hại về vật chất vẫn chưa được đề cập Đối với những thiệt hại
về vật chất do tính mạng, sức khỏe, danh dự,
uy tín bị xâm phạm thì hoàn toàn không thể
áp dụng những hướng dẫn trong Thông tư này Chúng tôi xin đơn cử một ví dụ rất phổ biến
về tình trạng này, đó là cách xác định mức tiền cấp dưỡng mà người người bị hại có nghĩa
vụ cấp dưỡng trong khoản bồi thường thiệt hại
về vật chất do tính mạng, sức khỏe bị xâm phạm, phương thức thực hiện việc cấp dưỡng, phạm vi các đối tượng được cấp dưỡng vẫn là vấn đề nan giải, gây khó khăn cho các thẩm phán trong hoạt động xét xử
Đối với những thiệt hại về tinh thần, cũng tương tự như đối với thiệt hại về vật chất cho
Trang 4tới nay vẫn chưa có văn bản hướng dẫn chi
tiết Hơn thế, theo quy định tại các Điều
613 (khoản 4); Điều 614 (khoản 4); Điều
615 (khoản 3) thì chính bản thân thẩm
phán là người có quyền ra quyết định ấn
định mức bồi thường đối với những thiệt
hại về tinh thần Điều này đ< gây ra tình
trạng thiếu thống nhất trong hoạt động xét
xử của tòa án, tình trạng đơn thư khiếu nại,
tố cáo và tình trạng kháng cáo diễn ra rất
phổ biến trong các vụ án liên quan tới việc
xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng
Theo quy định tại Điều 310, trách
nhiệm bồi thường thiệt hại bao gồm thiệt
hại về tinh thần và bồi thường thiệt hại về
vật chất Do vậy, theo quan điểm của
chúng tôi, khi xảy ra thiệt hại về vật chất,
thiệt hại về tinh thần, các chủ thể bị thiệt
hại đều có quyền yêu cầu tòa án buộc
người đ< gây ra thiệt hại phải bồi thường
Việc có yêu cầu bên gây thiệt hại phải bồi
thường thiệt hại về vật chất, tinh thần hay
không hoàn toàn thuộc quyền của người bị
hại, tòa án chỉ giữ vai trò là người xem xét
yêu cầu đó và ra quyết định
1.3 Các quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong BLDS không những mới chỉ dừng lại ở các quy định mang tính nguyên tắc mà còn tồn tại những khoảng trống chưa
được điều chỉnh trước yêu cầu phát sinh trong thực tiễn
Ví dụ: Hiện nay, các quy định pháp luật tạo cơ sở pháp lí cho việc giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại về vật chất và tinh thần do tài sản vô hình, đặc biệt đối với các đối tượng
sở hữu trí tuệ vẫn chưa được ghi nhận trong BLDS; các quy định liên quan tới cơ sở pháp lí nhằm xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với pháp nhân, tổ chức gây thiệt hại cho tới nay cũng chưa được ghi nhận Tình trạng này gây ra rất nhiều khó khăn cho các thẩm phán trong công tác xét xử, đặc biệt đối với những vi phạm về môi trường
2 Thực trạng giải quyết các vụ việc dân
sự liên quan tới trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
2.1 Về số liệu thụ lí và giải quyết các yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng tại các tòa án được thể hiện ở bảng dưới đây:(1)
Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Thụ lí Giải quyết Thụ lí Giải quyết
- Bồi thường thiệt hại do tai nạn giao thông 890 547 877 664
- Bồi thường thiệt hại do tai nạn lao động 184 142 175 162
- Bồi thường thiệt hại do hành hung 2.563 1.832 3.016 2.593
- Bồi thường thiệt hại do các nguyên nhân khác 2.020 1.271 2.066 1.718
Trang 5Năm 1998 Q.I Năm 1999
Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Thụ lí Giải quyết Thụ lí Giải quyết
- Thiệt hại về sức khỏe, tính mạng 5.488 4.204 1.539 692
- Thiệt hại về danh dự, nhân phẩm, uy tín 347 272 84 25
- Thiệt hại trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh 484 292 128 50
Từ những số liệu trên đây cho thấy,
cùng với công tác xét xử của các cấp tòa
án, các quy định về trách nhiệm bồi thường
thiệt hại trong BLDS đ< phát huy hiệu lực
thực tế trong việc giải quyết các tranh chấp
phát sinh trong đời sống Quyền và lợi ích
hợp pháp của các cá nhân, tổ chức đ< được
quan tâm và giải quyết được một phần
đáng kể
Bên cạnh những kết quả đạt được,
những số liệu trên đây cũng cho thấy, tình
trạng xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh
dự, nhân phẩm, uy tín và tài sản đối với các
cá nhân, tổ chức hiện đang ngày một gia
tăng Tuy nhiên, qua sự chênh lệch giữa số
liệu án đ< thụ lí và số liệu án đ< giải quyết
chứng tỏ, trong quá trình xét xử loại tranh
chấp này, các tòa án còn gặp rất nhiều khó
khăn Vấn đề giải quyết các yêu cầu đòi
bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, đặc
biệt bồi thường tổn thất về tinh thần vẫn là
chủ đề luôn được bàn luận và quan tâm của
những người làm công tác xét xử và các đối
tượng áp dụng pháp luật khác thông qua
các diễn đàn công khai và các phương tiện
thông tin đại chúng Ví dụ, trong bài bồi thường thiệt hại về tinh thần trong BLDS của tác giả Tô Quốc Kì được đăng trong Tạp chí Tòa án số 10/1999 có đoạn: “Mặc dù, từ khi BLDS có hiệu lực tới nay, các vụ kiện về yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài về tinh thần mà tòa án phải giải quyết ngày một nhiều hơn Tuy nhiên, do chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể nên các tòa địa phương rất lúng túng trong khâu giải quyết”
Vấn đề xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong các vụ án hình
sự cũng là vấn đề khó khăn còn gây nhiều tranh c<i Vì vậy, vấn đề giải quyết các tranh chấp, yêu cầu về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng luôn được đề cập trong các báo cáo công tác ngành tòa án, cũng như trong những công văn hướng dẫn công tác xét xử trong lĩnh vực hình sự, dân sự, kinh tế, lao động và tố tụng của Tòa án nhân dân tối cao
2.2 Một số nét về thực trạng hoạt động xét
xử các vụ án liên quan tới trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Qua tìm hiểu thực tiễn công tác xét xử tại các tòa án cho thấy:
Trang 6- Thứ nhất, hiệu quả công tác xét xử
của các cấp tòa án trong lĩnh vực bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng còn chưa
cao, đặc biệt việc xem xét đến trách nhiệm
bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong
các vụ án hình sự còn chưa được các thẩm
phán quan tâm đúng mức Các bản án, quyết
định của tòa án về trách nhiệm bồi thường thiệt
hại vẫn chưa thực sự có cơ sở thuyết phục và
thiếu chính xác
Ví dụ: Vụ án xét xử Nguyễn Ngọc Tư
về tội “Vi phạm các quy định về an toàn
giao thông vận tải” tại bản án hình sự sơ
thẩm số 44/HSST ngày 7/9/1999 củaToà án
huyện Tân Châu và bản án hình sự phúc
thẩm số 19/HSPT ngày 25/10/1999 Toà án
tỉnh Tây Ninh Trong vụ án này, hành vi của
Nguyễn Ngọc Tư là không tuân thủ các
quy định về an toàn giao thông vận tải
trong khi lùi xe nên đ< gây ra cái chết của
anh Kiên Hậu quả xảy ra hoàn toàn do lỗi
của bị cáo Nhưng sau khi gây ra tai nạn
Nguyễn Ngọc Tư hoàn toàn không bồi
thường thiệt hại cho gia đình nạn nhân Bên
cạnh đó, toà án cấp sơ thẩm và phúc thẩm
đều buộc chủ phương tiện là anh Nguyễn
Văn Phước bồi thường cho gia đình người
bị hại nhưng quyết định không cụ thể, rõ
ràng từng khoản bồi thường theo quy định
của pháp luật Ngoài ra, toà án cấp phúc
thẩm đ< buộc anh Phước phải bồi thường
thêm 10.000.000đ để cấp dưỡng nuôi con
của nạn nhân một lần nhưng không tuyên
rõ cấp dưỡng theo phương thức nào và cho những ai
- Thứ hai, các yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, đặc biệt trong các trường hợp oan sai do cán bộ, công chức hoặc những người có thẩm quyền trong các cơ quan tiến hành tố tụng, trong các cơ quan nhà nước chưa
được giải quyết một cách thỏa đáng Ví dụ: Uỷ ban nhân dân x< An Hiệp, huyện Châu Thành,
Đồng Tháp ra quyết định “tạm đình chỉ hôn nhân” giữa chị Võ Thị Bé (ở tổ 15, ấp An Hòa,
An Hiệp) và anh Lê Thanh Tùng (ngụ ở ấp Trung 2, x< Tân Hòa, Phú Tân, An Giang) Ngày 27/11/1998, hai anh chị đ< được Uỷ ban nhân dân x< An Hiệp cấp giấy chứng nhận kết hôn nhưng vào ngày “nhóm họ” (hai tháng sau
đó), Uỷ ban nhân dân x< đến đọc quyết định
“tạm đình chỉ hôn nhân” của họ, thu lại tờ hôn thú đ< cấp và mời cô dâu, chú rể lên x< làm việc vào ngày hôm sau (tức ngày dự định diễn
ra lễ cưới) Sự việc nêu trên đ< gây thiệt hại về danh dự, uy tín và vật chất cho cả cô dâu, chú
rể và gia đình đôi bên Sau sự việc trên, chị Bé
đ< gửi đơn khiếu nại đến Uỷ ban nhân dân huyện Mặc dù Uỷ ban nhân dân nhìn nhận vụ việc này là sai thẩm quyền, tuy nhiên vẫn bác yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại của chị Bé Không đồng ý với quyết định trên, chị Bé đ< khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Châu Thành và yêu cầu Uỷ ban nhân dân bồi thường cho chị khoản tiền là 10.600.000đ đối với những thiệt hại về vật chất, và tinh thần đ< gây
ra Tuy nhiên, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành vẫn ra quyết định bác toàn bộ yêu cầu
Trang 7đòi bồi thường thiệt hại của chị Bé (tại
phiên tòa sơ thẩm ngày 17/03/2000)
Những vụ án được trích dẫn trên đây
chỉ phần nào nói lên thực trạng xác định
trách nhiệm bồi thường thiệt hại tại các cấp
tòa án Thực trạng này, nếu không sớm
được khắc phục sẽ làm suy giảm lòng tin
của quần chúng nhân dân vào tính nghiêm
minh của pháp luật, pháp chế x< hội chủ
nghĩa, gây mất công bằng x< hội
3 Một số kiến nghị
Qua phần tích trên đây, trong phạm vi
bài viết của mình, chúng tôi xin nêu ra một số
kiến nghị để cùng trao đổi với các bạn đọc:
3.1 Về khía cạnh lập pháp:
- Cần sửa lại cách sắp xếp các quy định
trong BLDS về bồi thường thiệt hại ngoài
hợp đồng theo hướng chỉ đưa vào BLDS
các quy định chung mang tính nguyên tắc
về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài
hợp đồng và chuyển lên mục kế tiếp với
mục trách nhiệm dân sự hoặc có thể ghép
vào mục về trách nhiệm dân sự và sửa đổi,
bổ sung một số quy định như đ< phân tích
trên đây
- Cần rà soát toàn bộ các quy định về
bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong
các lĩnh vực pháp luật khác nhau để tiến
hành sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới
nhằm bảo đảm tính thống nhất với các quy
định mang tính nguyên tắc trong BLDS
- Cần ban hành các văn bản hướng dẫn
mang tính định hướng chung cho việc xác
định và ấn định mức bồi thường thiệt hại về vật chất và tinh thần trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn hoạt động xét xử các loại án này của các tòa án
3.2 Về cơ chế phối hợp giải quyết yêu cầu
đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng:
Theo quy định của BLDS, người bị thiệt hại có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền hoặc tòa án giải quyết yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại Do vậy cần có văn bản quy định cụ thể về cơ quan có thẩm quyền giải quyết trong các vụ việc khác nhau cũng như cơ chế phối hợp giải quyết giữa các cơ quan cùng liên đới chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, đặc biệt
đối với trường hợp bồi thường thiệt hại do cán
bộ, công chức nhà nước, người có thẩm quyền trong các cơ quan tiến hành tố tụng gây ra 3.3 Nâng cao hiểu biết pháp luật của người dân nói chung và của các cán bộ, công chức nhà nước, người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng nói riêng trong lĩnh vực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thông qua việc đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền, giáo dục và phổ biến pháp luật Qua đó giúp mỗi người ý thức được hơn trách nhiệm của mình đối với chính các quyền dân sự của mình, đối với các quyền dân sự của người khác
và đối với lợi ích chung của toàn x< hội./
(1) Vì từ năm 1999 trở lại đây chưa có số liệu thống kê riêng biệt về loại án này nên chúng tôi tạm thời trích dẫn số liệu từ năm 1996 tới quý I năm 1999 trong Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ của Tòa án nhân dân tối cao về “Vấn đề áp dụng một số chế định của Bộ luật dân
sự trong thực tiễn xét xử của tòa án, năm 1999”