1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo " Về mối quan hệ giữa các quy định về chuyển quyền sử dụng đất của Luật đất đai và Bộ luật dân sự " pot

6 661 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 121,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lần đầu tiên, pháp luật đất đai ở nước ta cho phép người sử dụng đất được chuyển quyền sử dụng trong thời hạn giao đất nhằm tạo điều kiện cho người sử dụng đất tiếp cận với cơ chế thị tr

Trang 1

Nguyễn Quang Tuyến * uật đất đai năm 1993 được Quốc hội

khoá IX, kì họp thứ 3 thông qua ngày

14/07/1993 và có hiệu lực thi hành từ ngày

15/10/1993 Một trong những nội dung cơ

bản của đạo luật này là mở rộng các quyền

cho người sử dụng đất Lần đầu tiên, pháp

luật đất đai ở nước ta cho phép người sử dụng

đất được chuyển quyền sử dụng trong thời

hạn giao đất nhằm tạo điều kiện cho người sử

dụng đất tiếp cận với cơ chế thị trường, đưa

quyền sử dụng đất tham gia vào lưu thông

dân sự phù hợp với đòi hỏi của công tác quản

lí và sử dụng đất đai trong cơ chế thị trường

Tuy nhiên, trên thực tế để cho các giao dịch

về chuyển quyền sử dụng đất được thực hiện

thuận lợi và luôn nằm trong “quỹ đạo” kiểm

soát của Nhà nước thì cần phải xây dựng

“hành lang pháp lí” cho các quyền sử dụng

đất khi tham gia vào cơ chế thị trường Phúc

đáp các đòi hỏi này, Bộ luật dân sự (BLDS)

ra đời năm 1995 đ\ dành hẳn một phần -

Phần thứ năm - quy định về chuyển quyền

sử dụng đất (từ Điều 690 đến Điều 744)

Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi muốn

trao đổi một vài suy nghĩ về mối quan hệ

giữa các quy định của hai đạo luật này về

chuyển quyền sử dụng đất

định của Luật đất đai và Bộ luật dân sự về chuyển quyền sử dụng đất

Nghiên cứu nội dung các quy định của Luật đất đai và Bộ luật dân sự, chúng ta nhận thấy giữa hai đạo luật này có mối quan hệ với nhau khi đề cập vấn đề chuyển quyền sử dụng

đất Sở dĩ, chúng có mối quan hệ là do các lí

do sau đây:

Thứ nhất, theo phong tục, tập quán truyền thống của người dân trong cuộc sống thì việc

sử dụng đất luôn luôn gắn liền với các tài sản trên đất như nhà ở, vật kiến trúc khác, cây cối Theo quy định của Bộ luật dân sự thì đất

đai, nhà ở, công trình xây dựng gắn liền với

đất đai là bất động sản - tài sản (khoản 1 Điều

181 BLDS) Do đó, khi chuyển nhượng nhà ở

và các tài sản khác trên đất bao giờ cũng đi liền với chuyển nhượng quyền sử dụng đất đai Thứ hai, dưới góc độ lí luận xét về bản chất thì quyền sử dụng đất là loại quyền tài sản, vì:

- Gắn liền với chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự là hộ gia đình, cá nhân

- Gắn liền với loại tài sản đặc biệt là đất

L

* Giảng viên Khoa pháp luật kinh tế Trường đại học luật Hà Nội

Trang 2

đai (quan hệ về tài sản)

- Người sử dụng có một số quyền năng

nhất định đối với đất được giao (quyền chiếm

hữu, sử dụng và các quyền năng khác)

Thứ ba, theo quy định của Bộ luật dân sự

thì hộ gia đình là chủ thể của quan hệ pháp

luật dân sự trong hoạt động sản xuất nông,

lâm, ngư nghiệp và trong một số lĩnh vực sản

xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định

Tài sản chung của hộ gia đình được sử dụng

trong hoạt động sản xuất nông, lâm, ngư

nghiệp bao gồm: Vốn, công nghệ, đất đai và

các tư liệu sản xuất khác Điều 118 BLDS

quy định: “Quyền sử dụng đất hợp pháp

của hộ gia đình được xác định là tài sản

chung của hộ ”

Thứ tư, về địa vị pháp lí, các chủ thể thực

hiện việc chuyển quyền sử dụng đất là những

pháp nhân (tổ chức), hộ gia đình và cá nhân

Đây là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự

Các chủ thể này có các quyền và nghĩa vụ của

người sử dụng đất được quy định tại Điều 73

và Điều 79 Luật đất đai năm 1993

Thứ năm, xét về tính chất của mối quan

hệ giữa các chủ thể sử dụng đất khi chuyển

quyền sử dụng đất Đây là mối quan hệ được

xác lập theo chiều “ngang” giữa những người

sử dụng đất với nhau trong quá trình sử dụng

đất Các quan hệ về chuyển quyền sử dụng

đất này được xác lập dựa trên cơ sở bình

đẳng, tự nguyện, thoả thuận Mặt khác, ở đây

cũng cần lưu ý đến điểm chung là các chủ thể

sử dụng đất muốn xác lập được mối quan hệ

theo chiều “ngang” với nhau thì trước tiên họ

phải được Nhà nước giao đất cho để sử dụng

Thứ sáu, xét về mục đích chuyển quyền

sử dụng đất thì việc chuyển quyền sử dụng

đất nhằm mục đích thuận tiện cho sản xuất và

đời sống, đảm bảo sử dụng đất đúng mục

đích, chứ không nhằm mục đích kinh doanh kiếm lời Mặt khác, các quyền năng của chuyển quyền sử dụng đất, bao gồm: Chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa

kế, thế chấp quyền sử dụng đất và góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất đều là các quyền về tài sản, xét về bản chất đây là các quan hệ dân sự được thực hiện trên cơ sở thoả thuận giữa các bên

Thứ bảy, trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường, dưới tác động của các quy luật khách quan của thị trường thì các quan hệ đất đai không chỉ “đóng khung” trong quan hệ hành chính đơn thuần giữa Nhà nước và người sử dụng đất mà còn bao gồm các quan hệ đất đai mang tính chất kinh tế - dân sự giữa những người sử dụng đất với nhau Nhà nước muốn quản lí đất đai có hiệu quả trong cơ chế mới thì không chỉ quản lí bằng các biện pháp hành chính mà còn phải quản lí bằng các biện pháp kinh tế, dân sự Mặt khác, việc hình thành thị trường bất động sản đất đai thông qua các giao dịch về chuyển quyền sử dụng

đất là đòi hỏi tất yếu, khách quan của bất kì nền kinh tế thị trường nào, nhằm bảo đảm quyền tự do kinh doanh và quyền tự do cư trú của mỗi cá nhân - công dân

giữa các quy định của Luật đất đai và Bộ luật dân sự về chuyển quyền sử dụng đất Mặc dù giữa các quy định của Luật đất

đai và Bộ luật dân sự về chuyển quyền sử dụng đất có mối quan hệ với nhau như đ\ phân tích ở phần trên nhưng giữa chúng lại có tính độc lập nhất định Điều này được thể hiện ở những điểm sau đây:

Trang 3

Cơ sở để xây dựng các quy định về

chuyển quyền sử dụng đất của Luật đất đai

dựa trên nguyên tắc: Đất đai thuộc sở hữu

toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lí

Nhà nước giao đất cho các tổ chức, hộ gia

đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài Người

sử dụng đất được chuyển quyền sử dụng đất

trong thời hạn giao đất và sử dụng đúng mục

đích đất được giao, nên các quy định về

chuyển quyền sử dụng đất của Luật đất đai là

các quy định nhằm phục vụ cho việc quản lí

đất, điều chỉnh mối quan hệ giữa Nhà nước

(chủ thể sở hữu và quản lí đất đai) với người

sử dụng đất (chủ thể sử dụng đất) Đây là mối

quan hệ hành chính, theo chiều “dọc” Do đó,

các quy định về chuyển quyền sử dụng đất

của Luật đất đai chủ yếu đề cập đối tượng,

điều kiện, trình tự và thủ tục chuyển quyền sử

dụng đất, trách nhiệm của các cơ quan quản lí

nhà nước về đất đai trong việc quản lí, giám

sát các hoạt động chuyển quyền sử dụng đất

và quyết định cho phép hay không cho phép

người sử dụng đất được chuyển quyền sử

dụng đất? Mối quan hệ giữa Nhà nước và

người sử dụng đất được điều chỉnh bởi

phương pháp quyền uy - mệnh lệnh Người sử

dụng đất thực hiện việc chuyển quyền sử

dụng đất sau khi xin phép và được sự đồng ý

của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Trong Bộ luật dân sự, các quy định về

chuyển quyền sử dụng đất tập trung vào mối

quan hệ theo chiều “ngang” giữa những người

sử dụng đất với nhau (đây là các quyền về tài

sản) Các quy định về chuyển quyền sử dụng

đất của Bộ luật dân sự chủ yếu đề cập chủ

thể, hình thức, nội dung của các hợp đồng

chuyển quyền sử dụng đất, quyền và nghĩa vụ

của các bên và hậu quả pháp lí của các giao

dịch chuyển quyền sử dụng đất

Mối quan hệ giữa những người sử dụng

đất với nhau được xác lập dựa trên cơ sở tự nguyện và được điều chỉnh bằng phương pháp bình đẳng - thoả thuận Tất nhiên, mối quan

hệ theo chiều “ngang” giữa những người sử dụng đất với nhau chỉ được xác lập khi họ

được Nhà nước giao đất hoặc cho thuê đất để

sử dụng (tức là khi họ đ\ có quyền sử dụng

đất hợp pháp) Điều này được thể hiện bằng việc người sử dụng đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Do đó, pháp luật quy định chỉ những người được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới được phép chuyển quyền sử dụng đất nên các quy định

về chuyển quyền sử dụng đất của Bộ luật dân

sự bao giờ cũng nhấn mạnh là những thoả thuận này phải phù hợp với quy định của pháp luật đất đai

định về chuyển quyền sử dụng đất của Luật đất đai và Bộ luật dân sự

Bộ luật dân sự được Quốc hội Khoá IX thông qua ngày 28/10/1995 và có hiệu lực từ ngày 01/07/1996, tính đến nay đ\ qua gần 6 năm thi hành Cũng trong thời gian đó, Luật

đất đai năm 1993 đ\ hai lần sửa đổi, bổ sung một số điều vào các năm 1998 và năm 2001

Do đó, giữa các quy định của Luật đất đai và

Bộ luật dân sự về chuyển quyền sử dụng đất hiện nay có một số điểm bất cập Những bất cập này thể hiện ở một số điểm sau đây: Thứ nhất, Luật sửa đổi, bổ sung một số

điều của Luật đất đai năm 1998 đ\ mở rộng

đối tượng sử dụng đất được chuyển quyền

sử dụng đất: Không chỉ là hộ gia đình, cá nhân, mà còn cả các tổ chức sử dụng đất Trong khi đó, Bộ luật dân sự vẫn chỉ có các quy định về chuyển quyền sử dụng đất của

hộ gia đình, cá nhân

Trang 4

Thứ hai, Luật sửa đổi, bổ sung một số

điều của Luật đất đai năm 2001 có bổ sung

thêm Điều 78g Theo đó mở rộng phạm vi

nhận thế chấp giá trị quyền sử dụng đất của

người sử dụng Cụ thể: Tổ chức kinh tế, hộ

gia đình, cá nhân sử dụng đất có quyền thế

chấp giá trị quyền sử dụng đất theo quy định

của Luật đất đai, thì được thế chấp hoặc bảo

l1nh bằng giá trị quyền sử dụng đất, tài sản

thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất đó tại

tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt

Nam (bao gồm ngân hàng nhà nước, tổ chức

tín dụng Việt Nam, ngân hàng liên doanh và

các chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoạt

động tại Việt Nam) Trong khi đó, các quy

định tại Điều 729 và Điều 730 của Bộ luật dân

sự vẫn chỉ giới hạn cho hộ gia đình, cá nhân thế

chấp quyền sử dụng đất tại ngân hàng Việt

Nam, các tổ chức tín dụng Việt Nam do Nhà

nước cho phép thành lập và các tổ chức kinh tế,

cá nhân Việt Nam ở trong nước

Thứ ba, về điều kiện chuyển quyền sử

dụng đất: Bộ luật dân sự quy định hộ gia

đình, cá nhân có quyền chuyển quyền sử

dụng đất cho người khác khi có đủ bốn điều

kiện quy định tại Điều 693 Một trong bốn

điều kiện này là: “Có giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất được cơ quan nhà nước có thẩm

quyền cấp theo quy định của pháp luật về đất

đai” Trong khi đó, các văn bản hướng dẫn thi

hành Luật đất đai lại quy định: “Người sử

dụng đất khi thực hiện các quyền của mình

phải có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Tổng

cục quản lí ruộng đất trước đây hoặc Tổng cục

địa chính phát hành” (khoản 1 Điều 3 Nghị

định số 17/1999/NĐ-CP) Như vậy, theo quy

định này thì hiện nay pháp luật đất đai thừa

nhận không chỉ người sử dụng đất được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo mẫu của Tổng cục địa chính phát hành (bìa đỏ) mà cả những người sử dụng đất được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo mẫu do Tổng cục quản lí ruộng

đất trước đây phát hành (không phải là bìa đỏ) cũng được chuyển quyền sử dụng đất Vẫn biết rằng về mặt lí luận, giá trị pháp lí của văn bản dưới luật (nghị định) không thể cao hơn giá trị pháp lí của văn bản luật (bộ luật) Song người viết vẫn băn khoăn với câu hỏi: Liệu một trong bốn điều kiện cho phép người sử dụng đất được chuyển quyền sử dụng đất là phải có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp được quy định tại Điều 693 BLDS có bao gồm cả người được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo mẫu do Tổng cục quản lí ruộng

đất phát hành trước đây không (không phải là bìa đỏ) hay chỉ là những người được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo mẫu do Tổng cục địa chính phát hành? Nếu chỉ những người được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng

đất theo mẫu do Tổng cục địa chính phát hành mới được phép chuyển quyền sử dụng

đất thì quy định này lại chưa thống nhất với quy định tại các văn bản hướng dẫn thi hành Luật đất đai được viện dẫn trên đây

Thứ tư, về vấn đề xử lí quyền sử dụng đất

đ\ thế chấp: Các văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành Luật đất đai, cụ thể là Nghị định số 17/1999/NĐ-CP quy định cách thức xử lí quyền sử dụng đất đ\ thế chấp theo hai con

đường Đầu tiên, khi bên thế chấp giá trị quyền sử dụng đất không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ theo hợp

đồng thế chấp thì quyền sử dụng đất đ\ thế chấp được xử lí theo thoả thuận trong hợp

Trang 5

đồng Trường hợp không xử lí được theo thoả

thuận đ\ ghi trong hợp đồng thì giải quyết

theo quy định của pháp luật Mặc dù giá trị

pháp lí của Nghị định số 17/1999/NĐ-CP

thấp hơn giá trị pháp lí của Bộ luật dân sự

Nhưng theo chúng tôi thì cách thức xử lí

quyền sử dụng đất đ\ thế chấp quy định như

vậy hợp lí hơn so với quy định tại Điều 737

BLDS (Điều 737 BLDS chỉ đưa ra một cách

thức duy nhất để giải quyết vấn đề này Đó là

nếu bên thế chấp không thực hiện hoặc thực

hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì bên nhận

thế chấp có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước

có thẩm quyền tổ chức đấu giá quyền sử dụng

đất để thu hồi vốn và l\i) Bởi vì, xét về bản

chất, thế chấp quyền sử dụng đất (biện pháp

bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự) là quan

hệ giao dịch dân sự và hình thức của nó là

loại hợp đồng dân sự Do đó khi bên thế chấp

không thực hiện hoặc thực hiện không đúng

nghĩa vụ trả nợ được ghi trong hợp đồng thì

trước tiên phải xử lí theo thoả thuận trong hợp

đồng Nếu không xử lí được theo thoả thuận

đ\ ghi trong hợp đồng thì mới xử lí theo quy

định của pháp luật, có như vậy mới phù hợp

với bản chất của thế chấp quyền sử dụng đất,

tôn trọng quyền tự do thoả thuận ý chí của

các bên

Thứ năm, việc sử dụng thuật ngữ trong các

quy định của Luật đất đai và Bộ luật dân sự về

thế chấp quyền sử dụng đất là không thống

nhất Bộ luật dân sự sử dụng thuật ngữ “thế

chấp quyền sử dụng đất”, trong khi đó Luật sửa

đổi, bổ sung một số điều của Luật đất đai năm

1998 và năm 2001 lại sử dụng thuật ngữ “thế

chấp giá trị quyền sử dụng đất”

Thứ sáu, Bộ luật dân sự được ban hành

năm 1995, khi đó Luật đất đai năm 1993

chưa có sự sửa đổi, bổ sung một số điều và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền chưa kịp thời ban hành một số văn bản dưới luật nhằm hướng dẫn thi hành Luật đất đai năm năm 1993 Chính vì vậy, chúng ta chưa thấy

rõ được một số điểm bất cập trong các quy

định của Bộ luật dân sự và pháp luật đất đai

về chuyển quyền sử dụng đất Hiện nay, Luật

đất đai năm 1993 đ\ hai lần được sửa đổi, bổ sung một số điều vào các năm 1998 và 2001

đồng thời các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đ\ ban hành hàng loạt các văn bản dưới luật hướng dẫn, thi hành Luật đất đai năm 1993 Điều này làm bộc lộ rõ những

điểm bất cập giữa các quy định về chuyển quyền sử dụng đất của Luật đất đai và Bộ luật dân sự Một số điều quy định về điều kiện chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa

kế và thế chấp quyền sử dụng đất không cần thiết quy định trong Bộ luật dân sự Vì đây là các quy định về quản lí đất đai đ\ được đề cập trong Luật đất đai năm 1993 Theo suy nghĩ của chúng tôi có thể tại thời điểm xây dựng Bộ luật dân sự, khi mà Luật đất đai năm

1993 mới ban hành, còn thiếu các văn bản hướng dẫn thi hành nên các quy định của Bộ luật dân sự về điều kiện chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế và thế chấp quyền

sử dụng đất là sự bổ sung cần thiết cho Luật

đất đai năm 1993 Nhưng nay khi Luật đất

đai được sửa đổi, bổ sung một số điều và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật đất đai được ban hành tương đối đồng bộ, thiết nghĩ không nên quy định các vấn đề này trong Bộ luật dân sự

Thứ bảy, Luật sửa đổi, bổ sung một số

điều của Luật đất đai năm 1998 bổ sung thêm một quyền năng của người sử dụng đất khi chuyển quyền sử dụng đất là quyền được góp

Trang 6

vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất để hợp tác

sản xuất, kinh doanh Thiết nghĩ vấn đề này cần

được bổ sung trong Bộ luật dân sự cho thống nhất

với các quy định của pháp luật đất đai

4 Một số kiến nghị góp phần khắc

phục những bất cập trong các quy định

của Luật đất đai và Bộ luật dân sự về

chuyển quyền sử dụng đất

Nhằm khắc phục những bất cập trong các

quy định của Luật đất đai và Bộ luật dân sự

về chuyển quyền sử dụng đất, chúng tôi xin

đưa ra một số kiến nghị sau đây:

Thứ nhất, Bộ luật dân sự cần bổ sung

những quy định về chuyển quyền sử dụng đất

của tổ chức cho phù hợp với các quy định của

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật

đất đai năm 1998 và năm 2001

Thứ hai, sửa đổi các quy định tại Điều

729 và Điều 730 của Bộ luật dân sự theo

hướng cho phép người sử dụng đất được

quyền thế chấp giá trị quyền sử dụng đất tại

các tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại

Việt Nam cho phù hợp với quy định của Luật

sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đất đai

năm 2001 vừa được Quốc hội thông qua

Thứ ba, cần phân biệt rõ phạm vi điều

chỉnh của pháp luật dân sự trong các giao

dịch chuyển quyền sử dụng đất với phạm vi

điều chỉnh của luật đất đai về quyền của

người sử dụng đất Luật dân sự điều chỉnh các

giao dịch chuyển quyền sử dụng đất, đây là

các giao dịch về quyền tài sản Các quy định

của luật dân sự đề cập chủ thể, nội dung, hình

thức và hậu quả pháp lí của các giao dịch về

chuyển quyền sử dụng đất Luật đất đai điều

chỉnh các hành vi chuyển quyền sử dụng đất

trong lĩnh vực quản lí hành chính về đất đai

Các quy định của Luật đất đai đề cập các điều kiện, hồ sơ, trình tự và thủ tục chuyển quyền

sử dụng đất.(1)

Thứ tư, cần sử dụng thống nhất thuật ngữ trong các quy định của Luật đất đai và Bộ luật dân sự về chuyển quyền sử dụng đất Theo chúng tôi nên thống nhất sử dụng thuật ngữ “thế chấp giá trị quyền sử dụng đất” Vì thuật ngữ này đúng nghĩa hơn so với thuật ngữ “thế chấp quyền sử dụng đất”

Thứ năm, bổ sung vào Điều 737 Bộ luật dân sự về xử lí quyền sử dụng đất đ\ thế chấp quy định: “Khi người sử dụng đất không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả

nợ theo hợp đồng thế chấp thì quyền sử dụng

đất đ1 thế chấp được xử lí theo thuận đ1 ghi trong hợp đồng, trường hợp không xử lí được theo thoả thuận đ1 ghi trong hợp đồng thì giải quyết theo quy định của pháp luật” Thứ sáu, trước mắt chưa có điều kiện sửa

đổi, bổ sung Bộ luật dân sự thì Quốc hội cần ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật dân sự Trong đó, cần bổ sung một số quy định về chuyển quyền sử dụng đất cho phù hợp với các quy định của Luật sửa

đổi, bổ sung một số điều của Luật đất đai năm 1998 và năm 2001 Đồng thời bỏ các

điều 700, 706, 715, 728, 729, 730 và 740 BLDS quy định về điều kiện chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế và thế chấp quyền sử dụng đất./

(1).Xem: Một số suy nghĩ quanh các quy định về hợp

đồng thế chấp quyền sử dụng đất trong BLDS và các văn bản pháp luật hiện hành - Nguyễn Quang Tuyến, Tạp chí luật học, số 5 năm 2000

Ngày đăng: 31/03/2014, 12:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w