Đó là, thủ tục bắt khẩn cấp ở điểm a khoản 1 Điều 63 chỉ đặt ra đối với người đ thành niên khi người đó chuẩn bị phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng còn trong khoản 2 Đi
Trang 1Đỗ Thị Phượng *
ấn đề tội phạm nói chung, tội phạm do
người chưa thành niên thực hiện nói
riêng đ và đang trở thành sự quan tâm, lo
lắng của nhiều nước trên thế giới Người
chưa thành niên là những người đang ở lứa
tuổi mà khả năng nhận thức về tính nguy
hiểm cho x hội của hành vi phạm tội bị hạn
chế và đôi khi còn bị tác động mạnh mẽ của
những điều kiện bên ngoài Chính sách hình
sự của Nhà nước ta đối với người chưa thành
niên chủ yếu là giáo dục và giúp đỡ họ sửa
chữa những sai lầm, phát triển lành mạnh để
trở thành những công dân có ích cho x hội
Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) đ
dành một chương riêng (chương 31 - 10
điều) quy định thủ tục về những vụ án mà bị
can, bị cáo là người chưa thành niên Việc
quy định thủ tục này nhằm mục đích khắc
phục những thiếu sót trong công tác điều tra,
truy tố, xét xử; đưa ra biện pháp xử lí người
chưa thành niên phạm tội phù hợp với những
quy định của pháp luật; kết hợp hài hoà giữa
các biện pháp cưỡng chế và giáo dục, thuyết
phục, tạo điều kiện cần thiết để người chưa
thành niên biết sửa chữa sai lầm; cải tạo họ trở
thành người lương thiện, có ích cho x hội
Ngoài ra, những quy định trong BLTTHS còn
nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của
người chưa thành niên
Mặc dù vậy, việc quy định các thủ tục về
bắt, tạm giữ, tạm giam, giám sát bị can, bị
cáo người chưa thành niên vẫn còn những
vướng mắc, mâu thuẫn giữa những quy định
về thủ tục chung và thủ tục dành cho bị can,
bị cáo chưa thành niên dẫn đến việc áp dụng còn gặp nhiều khó khăn Trong khuôn khổ bài viết này chúng tôi xin đề cập một số vấn
đề về bắt, tạm giữ, tạm giam và giám sát bị can, bị cáo chưa thành niên nhằm đóng góp ý kiến cho sửa đổi, bổ sung BLTTHS
1 Về việc bắt, tạm giữ, tạm giam
Điều 273 BLTTHS quy định:
"1 Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi
có thể bị bắt, tạm giữ, tạm giam nếu có đủ căn cứ quy định tại các điều 62, 63, 64, 68
và 71 Bộ luật này nhưng chỉ trong những trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng do cố
ý hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng
2 Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi có thể bị bắt, tạm giữ, tạm giam nếu có đủ căn cứ quy định tại các điều 62, 63, 64, 68 và 71 Bộ luật này nhưng chỉ trong những trường hợp phạm tội nghiêm trọng do cố ý, phạm tội rất nghiêm trọng hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng”
Bắt, tạm giữ, tạm giam là những biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự được
áp dụng đối với bị can, bị cáo hoặc đối với người chưa bị khởi tố, nhằm ngăn chặn những hành vi nguy hiểm cho x hội của họ, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc có hành động gây cản trở cho
V
* Giảng viên Khoa tư pháp Trường đại học luật Hà Nội
Trang 2việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án
Đối với người chưa thành niên thì ngoài việc
phải tuân thủ các quy định chung thì còn
tuân thủ các quy định ở Điều 273 BLTTHS
Tuy nhiên, giữa quy định về thủ tục chung và
thủ tục đặc biệt còn nhiều vướng mắc
Thứ nhất: Việc áp dụng thủ tục bắt khẩn cấp
Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 63
BLTTHS: ”Khi có căn cứ để cho rằng người đó
đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm
trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng”
thì được bắt khẩn cấp
Đây là trường hợp cơ quan có thẩm
quyền đ có quá trình theo dõi hoặc kiểm tra,
xác minh các nguồn tin biết người đó đang bí
mật tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện
phạm tội hoặc tạo ra những điều kiện cần thiết
khác để thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng
hoặc đặc biệt nghiêm trọng nên cần phải bắt
ngay trước khi tội phạm được thực hiện
Việc quy định này cũng hoàn toàn phù
hợp với Điều 17 Bộ luật hình sự năm 1999:
"Người chuẩn bị phạm một tội rất nghiêm
trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng thì phải
chịu trách nhiệm hình sự về tội định thực
hiện" Tuy nhiên, khoản 2 Điều 273
BLTTHS lại quy định: "Người từ đủ 16 tuổi
đến 18 tuổi có thể bị bắt nếu có đủ căn cứ
quy định tại Điều 63 Bộ luật này nhưng chỉ
trong những trường hợp phạm tội nghiêm
trọng do cố ý, phạm tội rất nghiêm trọng
hoặc đặc biệt nghiêm trọng” Như vậy,
chúng ta thấy quy định về trường hợp bắt
khẩn cấp ở điểm a khoản 1 Điều 63 và khoản
2 Điều 273 BLTTHS là không thống nhất
nhau Đó là, thủ tục bắt khẩn cấp ở điểm a
khoản 1 Điều 63 chỉ đặt ra đối với người đ
thành niên khi người đó chuẩn bị phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng còn trong khoản 2 Điều 273 không chỉ áp dụng cho người chưa thành niên (từ 16 đến dưới 18 tuổi) chuẩn bị phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng mà ngay cả người đó chuẩn bị phạm tội nghiêm trọng do
cố ý cũng đ bị bắt khẩn cấp rồi Ta thấy theo quy định tại Điều 12 Bộ luật hình sự thì:
“Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm” Như vậy, trong trường hợp họ chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng thì họ mới bị truy cứu trách nhiệm hình
sự (Điều 17 Bộ luật hình sự) Và chỉ trong trường hợp này mới đặt ra việc áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với họ Vì biện pháp ngăn chặn được đặt ra cũng chỉ nhằm mục
đích đảm bảo thuận lợi cho việc điều tra, truy
tố, xét xử và nhằm ngăn chặn tội phạm, tôn trọng các quyền tự do, dân chủ của công dân Việc quy định như trên không những không thể hiện được chính sách nhân đạo của Nhà nước ta coi họ là đối tượng cần được bảo vệ ngay cả khi họ có hành vi phạm tội mà lại làm xấu hơn tình trạng của họ Để đảm bảo cho các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử
được thuận lợi đặc biệt là đối với người chưa thành niên có hành vi phạm tội thì không thể
áp dụng các quy định như người đ thành niên phạm tội Trong trường hợp này cần quy
định áp dụng việc bắt khẩn cấp đối với họ khi có căn cứ cho rằng người đó đang chuẩn
bị phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng Như vậy, mới phù hợp với quy định ở Điều 63 BLTTHS và Điều
17 Bộ luật hình sự
Trang 3Thứ hai, Điều 64 BLTTHS quy định về
việc bắt người phạm tội quả tang hoặc đang
bị truy n Để nhằm ngăn chặn ngay một
người đang thực hiện tội phạm, nhằm nâng
cao tinh thần cảnh giác, đấu tranh phòng
chống tội phạm bất kì người nào cũng có
quyền bắt quả tang khi thấy người đó đang
thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực
hiện tội phạm thì bị đuổi bắt Nhưng đối với
việc bắt quả tang người chưa thành niên phạm
tội thì ngoài các căn cứ quy định ở Điều 64
BLTTHS còn cần phải đảm bảo thêm các điều
kiện ở Điều 273 BLTTHS như sau:
* Chỉ được bắt người phạm tội quả tang
khi người đó từ 14 đến dưới 16 tuổi mà phạm
tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc phạm tội
đặc biệt nghiêm trọng
* Chỉ được bắt người phạm tội quả tang khi
người đó từ 16 đến dưới 18 tuổi mà phạm tội
nghiêm trọng do cố ý, phạm tội rất nghiêm
trọng hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng
Việc xác định được người đó phạm tội do
lỗi cố ý hay vô ý, phạm tội nghiêm trọng hay
rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng
là trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố
tụng và phải qua thời gian điều tra, truy tố,
xét xử mới có thể khẳng định được Không
những thế, việc xác định người đó đang ở độ
tuổi nào đ đủ 18 tuổi hay chưa cũng không
thể xác định ngay khi bắt quả tang được Vậy
áp dụng việc bắt quả tang đối với người chưa
thành niên ở Điều 273 BLTTHS như thế nào
cho khỏi vi phạm đây? Trên thực tế khi phát
hiện thấy một người đang thực hiện tội phạm
thì vẫn áp dụng như Điều 64 BLTTHS nghĩa
là vẫn bắt và giải ngay người đó đến cơ quan
công an, viện kiểm sát, hoặc uỷ ban nhân
dân nơi gần nhất Sau đó các cơ quan này
mới xem xét xác định họ có thuộc đối tượng
ở Điều 273 BLTTHS hay không Có trường hợp vẫn lập biên bản về việc bắt người, sau đó giao người bị bắt cho cơ quan điều tra có thẩm quyền, cơ quan này ra lệnh tạm giữ và trong thời gian tạm giữ mới xác định được người đó
có phải người chưa thành niên hay không Nếu trong những trường hợp này đối tượng bị bắt lại là người chưa thành niên phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng thì rõ ràng đ áp dụng việc bắt quả tang là không đúng luật định Nhưng nếu không áp dụng như trên thì hành vi thực hiện tội phạm đó sẽ không còn tính quả tang nữa và không thể áp dụng được cả Điều 64 BLTTHS và Điều 273 BLTTHS Theo chúng tôi thì quy định như Điều 273 BLTTHS hiện nay vẫn còn mang tính hình thức Việc bắt quả tang đối với người chưa thành niên nên áp dụng theo thủ tục chung như người đ thành niên ở Điều 64 BLTTHS mà không cần phải phân biệt việc bắt quả tang đối với người chưa thành niên từ đủ 14 đến 16 tuổi hay từ
16 đến 18 tuổi Có như vậy mới nâng cao
được tinh thần đấu tranh phòng, chống tội phạm của nhân dân, hơn nữa nó cũng không
ảnh hưởng gì đến quyền lợi của người chưa thành niên Nhưng trước khi ra quyết định tạm giữ thì cơ quan điều tra có thẩm quyền phải xác minh nếu người bị bắt là người chưa thành niên nhưng không thuộc đối tượng như
Điều 273 BLTTHS quy định thì không được
áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam mà phải áp dụng thủ tục giám sát với họ Thứ ba, về việc tạm giam đối với bị can,
bị cáo chưa thành niên
Điều 70 BLTTHS quy định về đối tượng, thẩm quyền, thủ tục tạm giam bị can, bị
Trang 4cáo Khi áp dụng biện pháp tạm giam này
đối với bị can, bị cáo chưa thành niên cũng
phải quy định là khi có căn cứ ở Điều 70
BLTTHS thì có thể ra lệnh tạm giam bị can,
bị cáo nhưng chỉ trong những trường hợp cụ
thể quy định tại Điều 273 BLTTHS Tuy
nhiên, Điều 273 lại bỏ qua điều luật này
Chúng tôi thiết nghĩ cần phải bổ sung vào
Điều 273 cụm từ "Điều 70" để đảm bảo sự
chặt chẽ của pháp luật và sự thống nhất giữa
các căn cứ áp dụng
Thứ tư, việc quy định giữa hai mức tuổi
để áp dụng các biện pháp bắt, tạm giữ, tạm
giam khác nhau như hiện nay trong Điều 273
BLTTHS là không cần thiết Vì việc xác định
tuổi chịu trách nhiệm hình sự chỉ đặt ra với
việc định tội danh và xem xét mức hình phạt
Các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình
điều tra, truy tố, xét xử phải tiến hành các
biện pháp xác minh tuổi của bị can, bị cáo
chưa thành niên Còn bắt, tạm giữ, tạm giam
người chưa thành niên chỉ là những biện
pháp ngăn chặn để đảm bảo thuận lợi cho
việc điều tra, truy tố, xét xử Thời hạn tạm
giữ, tạm giam được tính vào thời hạn thi
hành án phạt tù Mà thời hạn tạm giữ, tạm
giam người chưa thành niên theo quy định
của BLTTHS hiện nay vẫn được áp dụng như
đối với người đ thành niên ở những trường
hợp phạm tội nghiêm trọng, rất nghiêm
trọng, đặc biệt nghiêm trọng Do đó, để đảm
bảo thuận lợi cho công tác điều tra, truy tố,
xét xử không nhất thiết phải quy định hai
loại đối tượng (từ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi và
từ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi) khi áp dụng biện
pháp ngăn chặn mà nên thống nhất chung là
người chưa thành niên Việc áp dụng thời
hạn tạm giữ, tạm giam đối với người chưa
thành niên cũng phải được quy định trong
Điều 273 BLTTHS là áp dụng giống như quy
định ở Điều 69, Điều 71 BLTTHS
Từ những phân tích trên chúng tôi kiến nghị sửa đổi, bổ sung Điều 273 như sau:
"1 Người chưa thành niên có thể bị bắt khẩn cấp, bắt quả tang nếu có đủ căn cứ quy
định tại Điều 63, Điều 64 bộ luật này
2 Người chưa thành niên có thể bị bắt, tạm giữ, tạm giam nếu có đủ căn cứ quy định tại Điều 62, Điều 68, Điều 70 bộ luật này nhưng chỉ trong những trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng
3 Việc áp dụng thời hạn tạm giữ, tạm giam đối với người chưa thành niên theo quy
định tại Điều 69 và Điều 71 bộ luật này."
2 Về việc giám sát bị can, bị cáo chưa thành niên
Điều 274 BLTTHS quy định:
"1 Cơ quan điều tra, viện kiểm sát và toà án có thể ra quyết định giao bị can, bị cáo chưa thành niên cho cha, mẹ hoặc người
đỡ đầu của họ giám sát để bảo đảm sự có mặt của bị can, bị cáo khi có giấy triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng
2 Những người được giao nhiệm vụ giám sát có nghĩa vụ giám sát chặt chẽ người chưa thành niên, theo dõi tư cách, đạo đức và giáo dục người đó"
Chúng tôi có một vài ý kiến về Điều
274 BLTTHS như sau:
2.1 Theo quy định tại Điều 274 thì nếu xét thấy việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với người chưa thành niên là không cần thiết, cơ quan điều tra, viện kiểm sát, toà
án có thể ra quyết định giao bị can, bị cáo chưa thành niên cho cha mẹ, người đỡ đầu
Trang 5của họ giám sát để bảo đảm sự có mặt của bị
can, bị cáo khi có giấy triệu tập của cơ quan
tiến hành tố tụng Những người được giao
nhiệm vụ giám sát có nghĩa vụ giám sát chặt
chẽ người chưa thành niên, theo dõi tư cách,
đạo đức và giáo dục người đó
Hiện nay có nhiều quan điểm trái ngược
nhau về thủ tục này
Quan điểm thứ nhất cho rằng việc giám
sát bị can, bị cáo chưa thành niên có thể áp
dụng theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố
tụng hoặc theo đề nghị của cha mẹ hoặc
người đỡ đầu của bị can, bị cáo Trong
trường hợp được cơ quan tiến hành tố tụng
giao trách nhiệm giám sát bị can, bị cáo chưa
thành niên; cha mẹ, người đỡ đầu của bị can,
bị cáo chưa thành niên không được từ chối
Căn cứ vào Luật bảo vệ chăm sóc và giáo
dục trẻ em, Luật hôn nhân và gia đình thì cha
mẹ, ông bà, các thành viên lớn tuổi khác
trong gia đình và người đỡ đầu có trách
nhiệm về việc chăm sóc, nuôi dạy người
chưa thành niên Cho nên họ phải có nghĩa
vụ giám sát, giáo dục, chăm sóc người chưa
thành niên
Quan điểm thứ hai cho rằng khi được yêu
cầu, cha mẹ, người đỡ đầu có quyền từ chối
nếu thực sự thấy rằng họ không thể kiểm
soát được hành vi của bị can, bị cáo, không
thể đảm bảo được sự có mặt của bị can, bị
cáo theo giấy triệu tập Vì vậy, biện pháp
này chỉ được áp dụng khi có sự đồng ý của
cha mẹ hoặc người đỡ đầu người chưa
thành niên
Xét về mặt thực tiễn thì những người
theo quan điểm thứ hai có phần hợp lí Vì
hiện nay có không ít người chưa thành niên
phạm tội mà có nhân cách hư hỏng, gia đình
không thể kiểm soát được hành vi của họ, cho nên nếu thấy rằng việc thực hiện nghĩa
vụ giám sát là khó khăn thì họ có quyền từ chối Tuy vậy, hiện nay không có văn bản pháp luật nào hướng dẫn về việc cha mẹ, người đỡ đầu có quyền từ chối không thực hiện nghĩa vụ giám sát của mình khi được yêu cầu
Chúng tôi đồng ý với quan điểm thứ nhất vì: Điều 274 BLTTHS là thủ tục dành cho
bị can, bị cáo chưa thành niên Khác với
Điều 75 BLTTHS là biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh đối với bị can, bị cáo đ thành niên Thủ tục bảo lĩnh chỉ được đặt ra đối với bị can, bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng và phải có cá nhân, tổ chức nhận bảo lĩnh Và việc cá nhân, tổ chức nhận bảo lĩnh là do họ hoàn toàn tự nguyện, các cơ quan tiến hành tố tụng không thể bắt buộc họ
được Còn ở Điều 274 BLTTHS, cơ quan
điều tra, viện kiểm sát, toà án có thể ra quyết
định giao bị can, bị cáo chưa thành niên cho cha mẹ hoặc người đỡ đầu của họ giám sát Quy định ở Điều 274 BLTTHS không những
là quyền đối với bị can, bị cáo chưa thành niên mà còn là nghĩa vụ bắt buộc đối với cha
mẹ, người đỡ đầu của họ Những người này không có quyền từ chối nghĩa vụ giám sát và phải thực hiện tốt trách nhiệm của mình Hơn nữa nếu trao quyền từ chối cho gia đình người chưa thành niên thì sẽ dẫn đến hiện tượng cha mẹ, người đỡ đầu dù có điều kiện nhưng vì sĩ diện, vì danh dự bản thân, muốn chối bỏ trách nhiệm giáo dục, giám sát con cái, muốn phó mặc cho pháp luật về việc xử
lí người chưa thành niên Chúng ta thấy rằng,
về góc độ tâm sinh lí người chưa thành niên thì họ rất cần được sự quan tâm của gia đình,
Trang 6nhà trường, x hội cho nên khi phạm tội, với
mặc cảm tội lỗi nếu được quan tâm, chăm
sóc, giáo dục đầy đủ có thể họ sẽ tạo điều
kiện thuận lợi cho công tác điều tra, truy tố,
xét xử và cải tạo tốt khi phải chấp hành án
Do đó, ngoài nghĩa vụ giám sát chặt chẽ
người chưa thành niên, cha mẹ, người đỡ đầu,
của họ phải có nghĩa vụ "theo dõi tư cách, đạo
đức và giáo dục người đó" Đó cũng là mục
đích của biện pháp giám sát này
2.2 Theo quy định tại Điều 274 BLTTHS
thì chủ thể được giao nhiệm vụ giám sát là cha
mẹ hoặc người đỡ đầu của bị can, bị cáo chưa
thành niên
Nếu theo quy định của Điều 46, 47, 48
Luật hôn nhân gia đình năm 1986 thì "người
đỡ đầu" có thể được cha mẹ cử, nếu cha mẹ
không cử được thì những người thân thích có
thể cử người đỡ đầu cho người đó Việc cử
người đỡ đầu do uỷ ban nhân dân x,
phường, thị trấn công nhận Nhưng hiện nay
Luật hôn nhân và gia đình năm 2001 đ thay
thế khái niệm “người đỡ đầu” bằng khái
niệm “người giám hộ” cho phù hợp với quy
định của Bộ luật dân sự (Điều 67, Điều 69,
Điều 70) Cho nên, để thống nhất sử dụng
thuật ngữ trong luật TTHS với các ngành luật
khác, chúng tôi kiến nghị thay thế cụm từ
"người đỡ đầu" thành "người giám hộ” trong
Điều 274 BLTTHS
2.3 Một vấn đề nữa là trong Điều 274
BLTTHS không đặt ra trách nhiệm cụ thể đối
với người có nghĩa vụ giám sát khi họ vi
phạm nghĩa vụ giám sát, để bị can, bị cáo chưa thành niên bỏ trốn hoặc tiếp tục phạm tội Như vậy, sẽ không có gì là đảm bảo họ
sẽ thực hiện đầy đủ nghĩa vụ giám sát và hiệu quả của việc thực hiện biện pháp này không cao Chúng tôi kiến nghị bổ sung vào
Điều 274 BLTTHS cụm từ sau: "Những người được giao nhiệm vụ giám sát phải chịu trách nhiệm về dân sự nếu vi phạm nghĩa vụ giám sát" Như vậy, khi cha mẹ, người giám
hộ của bị can, bị cáo chưa thành niên thực hiện nghĩa vụ giám sát nhưng lại vi phạm nghĩa vụ thì cần áp dụng trách nhiệm vật chất đối với họ Họ có thể bị phạt khoản tiền tương ứng với tính chất, mức độ thiệt hại mà
bị can, bị cáo chưa thành niên đ gây ra trong thực tế Có như vậy mới nâng cao được
ý thức, trách nhiệm của người nhận giám sát
Từ những phân tích trên, chúng tôi kiến nghị sửa đổi Điều 274 BLTTHS như sau:
"1 Cơ quan điều tra, viện kiểm sát và toà
án có thể ra quyết định giao bị can, bị cáo chưa thành niên cho cha, mẹ hoặc người giám hộ của họ giám sát để bảo đảm sự có mặt của bị can, bị cáo khi có giấy triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng
2 Những người được giao nhiệm vụ giám sát có nghĩa vụ giám sát chặt chẽ người chưa thành niên, theo dõi tư cách, đạo đức và giáo dục người đó
3 Những người được giao nhiệm vụ giám sát phải chịu trách nhiệm về dân sự nếu
vi phạm nghĩa vụ giám sát”./