1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo " Một số ý kiến về "xuất khẩu lao động" " doc

4 428 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số ý kiến về xuất khẩu lao động
Tác giả ThS. Lưu Bình Nhưỡng
Người hướng dẫn Giảng viên Chính Khoa Pháp Luật Kinh Tế
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Pháp luật kinh tế
Thể loại Nghiên cứu
Năm xuất bản 2002
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 67,02 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nếu mới xem qua thì cụm từ này tạo cho người đọc cảm giác mới, đặc biệt là trong bối cảnh nước ta đang thực hiện chỉ thị của Bộ chính trị chúng ta đ và đang đưa hàng vạn lao động và chuy

Trang 1

ThS Lưu Bình Nhưỡng * rong Luật sửa đổi, bổ sung một số

điều của Bộ luật lao động (đ được

Quốc hội khóa X thông qua tại kì họp thứ

11, từ ngày 15/3 đến ngày 2/4/2002) có sử

dụng cụm từ "xuất khẩu lao động" Đây là

cụm từ được luật sử dụng như là một trong

những vấn đề bổ sung vào Điều 135 của

Bộ luật lao động năm 1994 Nếu mới xem

qua thì cụm từ này tạo cho người đọc cảm

giác mới, đặc biệt là trong bối cảnh nước

ta đang thực hiện chỉ thị của Bộ chính trị

chúng ta đ và đang đưa hàng vạn lao

động và chuyên gia đi làm việc có thời hạn

ở các nước thuộc Liên Xô cũ, Nhật Bản,

Hàn Quốc, Li Bi

Nhưng nếu xét về phương diện khoa

học pháp lí thì việc dùng cụm từ "xuất

khẩu lao động" là không phù hợp Sau

đây tôi xin nêu một vài ý kiến để bạn

đọc tham khảo

1 "Xuất khẩu" được dùng để chỉ hoạt

động kinh tế của các chủ thể kinh doanh

nhằm đưa hàng hoá, tư bản ra nước ngoài

hoặc của chủ thể nào đó nhằm phổ biến tư

các đối tượng được xuất khẩu nói trên

không hề có đối tượng nào là con người

nói chung và người lao động nói riêng Bởi

lẽ, nếu đem đối chiếu với ba loại đối tượng theo quan niệm trên thì người lao động không thể là hàng hoá cũng không phải là tư bản và càng không thể là tư tưởng

Những cái đó có thể là sản phẩm của người lao động hoặc gắn liền với cuộc sống của con người, đặc biệt là các hoạt động chính trị - x hội (tư tưởng) nhưng không thể đồng nhất với người lao động được

Nếu xem xét xuất khẩu lao động ở khía cạnh xuất khẩu sức lao động thì cũng không thể đảm bảo tính khoa học Bởi lẽ trước hết, sức lao động là đại lượng không thể xác định, đo đếm, đánh giá bằng những giác quan và chức năng thông thường như nhìn, nghe, cầm, nắm, Người

ta không thể biết sức lao động có hình hài, màu sắc, kích cỡ, nặng, nhẹ ra sao; cũng không biết là sẽ vận chuyển, bàn giao cho các chủ thể khác bằng cách nào Tóm lại, mặc dù là đại lượng vật chất nhưng sức lao động không giống các hàng hoá khác

ở việc xác định và chuyển giao Do đó, việc xuất khẩu sức lao động là không thể thực hiện được

T

* Giảng viên chính Khoa pháp luật kinh tế Trường đại học luật Hà Nội

Trang 2

Điểm thứ hai tạo nên sự vướng mắc

trong việc dùng cụm từ "xuất khẩu lao

động" theo cách hiểu lao động nghĩa là sức

lao động chính là ở chỗ: Sức lao động mà

người ta xuất khẩu đem bán cho chủ sử

dụng lao động nước ngoài là tài sản của

chính người lao động chứ không phải là tài

sản, hàng hoá của chủ thể đưa người lao

động ra nước ngoài Hoạt động mua - bán

hàng hoá sức lao động được diễn ra ở

trong các đơn vị sử dụng lao động của

quốc gia tiếp nhận lực lượng lao động từ

Việt Nam hoặc bất kì quốc gia nào đưa tới

Việc mua - bán, trao đổi được diễn ra trực

tiếp giữa các chủ thể của mối quan hệ lao

động đó sẽ được điều chỉnh bằng luật pháp

của quốc gia có sử dụng lao động Những

người lao động Việt Nam hay của bất kì

quốc gia nào được đưa đến có quyền thoả

thuận về giá cả, phương thức trao đổi cũng

như các điều kiện lao động trong hợp đồng

lao động với các chủ sử dụng lao động

Khung về vấn đề cung ứng lao động có thể

do các chủ thể khác thiết kế nên nhưng xét

cho cùng nó đều phụ thuộc vào các bên

trong mối quan hệ lao động, đặc biệt là

các nội dung quan trọng như công việc,

tiền lương, nơi làm việc, thời giờ làm việc

Điều đó là hoàn toàn dễ hiểu và có thể

nhận biết được qua việc pháp luật quy định

cho những chủ thể đưa lao động ra nước

ngoài được hưởng lợi (lệ phí) từ hoạt động

dịch vụ đó của mình chứ hoàn toàn không

phải là hưởng tiền bán người lao động hoặc bán sức lao động của những người lao động ra nước ngoài, trên cơ sở dịch vụ của họ

2 Trong bản Hiến Chương của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) thông qua tại Hội nghị hoà bình Vec - Xay (cộng hoà Pháp) ngày 28/4/1919 có ghi: "Lao động không phải là hàng hoá".(3) Tuyên bố có tính nguyên tắc này đ khẳng định lao

động, với tư cách là lực lượng lao động, tức là người lao động không thể được xem

là thứ mà người ta có thể đem ra trao đổi, mua bán trên thị trường như những hàng hoá thông thường Điều này bao hàm cả hai ý nghĩa cơ bản: Về mặt triết học, người lao động là con người - chủ thể cải tạo thế giới Người lao động là chủ thể sáng tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần cho nhân loại, do đó, không thể đánh đồng

nghĩa thứ hai mà nguyên tắc trên nêu lên

là nhằm chống lại sự bất công đ từng tồn tại trên thế giới cả thời kì dài, gây ra bao nhiêu đau khổ cho nhân loại cần lao,

đó là chế độ mua bán nô lệ, đặc biệt là các nô lệ da màu

Nói như vậy không có nghĩa là không thừa nhận tính hàng hoá của sức lao động của người lao động Sức lao động đ được thừa nhận là loại hàng hoá đặc biệt Tuy nhiên, như đ phân tích ở trên, sức lao

động là tài sản có thật nhưng lại là tài sản

Trang 3

vô hình của người lao động Nó tồn tại bên

trong người lao động như là những tài sản

đặc định gắn với nhân thân của từng

người Sức lao động của ai sẽ do người ta

tự định đoạt vì họ là sở hữu chủ hoàn toàn

tự do trước các chủ thể khác có nhu cầu

trong x hội Ngay cả nhà nước cũng chỉ

có thể ra mệnh lệnh buộc công dân của

mình phải thực hiện nghĩa vụ lao động chứ

cũng không thể trưng thu hoặc quốc hữu hoá

sức lao động của công dân được

Tổ chức lao động quốc tế còn có hai

công ước quan trọng về lao động di trú

(Migration Workers) năm 1949 và 1975

nhằm quy định về trách nhiệm của các

quốc gia tham gia công ước trong việc đưa

đi và tiếp nhận lao động ngoài lnh thổ

quốc gia để đảm bảo quyền lợi của người

lao động di trú Các công ước này tuyệt

nhiên không sử dụng cụm từ "xuất khẩu lao

động" vì điều đó là không phù hợp với

nguyên tắc chung của ILO

3 Sau khi thông qua Bộ luật lao động,

ngày 20/01/1995, Chính phủ Việt Nam đ

ban hành Nghị định số 07/CP quy định về

việc đưa người lao động đi làm việc có

thời hạn ở nước ngoài Sau đó, để đáp ứng

với tình hình mới, Chính phủ ban hành

Nghị định số 152/1999 ngày 20/9/1999

quy định về việc đưa người lao động và

chuyên gia đi làm việc có thời hạn ở nước

ngoài thay thế cho Nghị định số 07/CP

Các quy định của pháp luật đ có vai trò

hết sức to lớn trong các hoạt động hợp tác quốc tế về lao động của Việt Nam Kết quả là chúng ta đ đưa được hàng vạn người lao động và chuyên gia đi làm việc

có thời hạn ở nước ngoài, góp phần vào các chương trình giải quyết việc làm cho người lao động, tăng thu nhập cho người lao động và nguồn thu cho ngân sách nhà nước đồng thời nâng cao tay nghề, trình độ mọi mặt cho người lao động Việt Nam,

đáp ứng với sự đòi hỏi của thị trường lao

động và yêu cầu về lao động của nền kinh

tế Theo các quy định của pháp luật, các cơ quan, tổ chức có quyền tuyển chọn, tổ chức đưa người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài Các tổ chức, cơ quan đó cũng phải thực hiện trách nhiệm pháp lí trước những người lao động mà

họ đưa đi Đây chính là một trong những hoạt động dịch vụ tạo điều kiện cho người lao động được bán sức lao động bên ngoài lnh thổ Việt Nam, một trong những mục tiêu quan trọng trong chiến lược giải quyết việc làm mà Đảng và Nhà

4 Philippine là quốc gia trong khu vực

có rất nhiều kinh nghiệm và thành công trong việc đưa người lao động đi làm việc

có thời hạn ở nước ngoài Theo thống kê của Bộ lao động và việc làm (DOLE) thì từ năm 1981 đến năm 1999 quốc gia này đ

đưa hàng triệu lượt người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài với số tiền

Trang 4

thu về hàng năm đạt con số kỉ lục (năm

1999, số tiền ngoại tệ được người lao động

ở nước ngoài gửi về nước là 5,856 tỉ đô la

Mĩ).(5) Sở dĩ có thành công như vậy là do

người lao động Philippine có kĩ năng và tay

nghề cao do được định hướng nghề nghiệp từ

sớm Mặt khác, họ lại sử dụng tiếng Anh rất

thành thạo Hơn nữa, Philippine có chính

sách rõ ràng về việc đưa người lao động đi

làm việc ở nước ngoài, biểu hiện ở việc

ban hành đạo luật F.O.W.A (Philippinos

này quy định về việc đưa người lao động

Philippine đi làm việc ở nước ngoài với nội

dung điều chỉnh quan hệ giữa người lao

động Philippine với các tổ chức của

Philippine thực hiện hoạt động nói trên và

việc giải quyết tranh chấp giữa các chủ

thể đó với nhau Trong đạo luật đó,

người ta không sử dụng thuật ngữ “xuất

khẩu lao động”

5 Trong thực tế, về phương diện x

hội, cụm từ "xuất khẩu lao động" được

dùng để chỉ hiện tượng đưa người lao động

từ quốc gia này sang quốc gia khác Người

ta có thể hiểu được dụng ý của người nói

khi sử dụng cụm từ này trong cách nói

thông thường Song không phải vì thế mà

tuỳ tiện đưa vào đạo luật - thứ đòi hỏi tính

khoa học và tính nhân văn cao của quốc

gia, một sản phẩm của Quốc hội đầy uy

quyền và trách nhiệm Mà xét cho cùng,

cũng không thể vin vào cớ dùng văn nói thay cho văn viết một cách bình thường

được Vì trách nhiệm của các nhà lập pháp, bên cạnh việc làm ra pháp luật, còn phải bảo vệ sự trong sáng của tiếng Việt trong các "sản phẩm" của mình

Theo tôi, có thể sử dụng hai tên gọi cho hoạt động này: Hoặc là giữ nguyên tên

cũ của Nghị định số 07/CP (đưa người Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài) hoặc sử dụng cụm từ “…về người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài” Vì như vậy, các quy định đ bao hàm đầy đủ các vấn đề: Quy định về việc đưa đi; quy

định về quyền và trách nhiệm của các bên; quy định về việc quản lí nhà nước Trong thời gian tới, Nhà nước cần ban hành pháp lệnh quy định về vấn đề này để đảm bảo tăng cường hiệu quả điều chỉnh quan hệ giữa các chủ thể trong lĩnh vực này./

(1).Xem: Chỉ thị số 41 ngày 22/9/1998 của Bộ chính trị về xuất khẩu lao động và chuyên gia (2).Xem: Từ điển tiếng Việt, Nxb KHXH TTTĐH, H.1994; Từ điển Anh-Việt, Nxb GD, 1995

(3).Xem “Một số công ước của tổ chức lao động quốc tế (ILO)”, Bộ LĐTB -XH 12/1993

(4).Xem Văn kiện ĐHĐB toàn quốc lần thứ IX của ĐCSVN

(5) Thống kê của Bộ Lao động và Việc làm Philippine 2000

(6) Tạm dịch là Luật về công nhân Philippine làm việc ở nước ngoài TG

Ngày đăng: 31/03/2014, 12:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w