Bản tham luận đề xuất các hướng tu bổ, tôn tạo di tích nên chú trọng bảo tồn tínhnguyên bản, giá trị truyền thống của di tích, chủ yếu là các di tích lịch sử - văn hóa,đưa
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ ĐÔ THỊ
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP Chuyên ngành: Kinh tế và Quản lý Đô thị (Kinh tế – Quản lý Tài nguyên và Môi trường)
Đề tài:
PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA DỰ ÁN TU BỔ, TÔN TẠO CỤM
DI TÍCH ĐÌNH – ĐỀN – CHÙA HAI BÀ TRƯNG PHƯỜNG
ĐỒNG NHÂN, QUẬN HAI BÀ TRƯNG
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Thư
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ ĐÔ THỊ
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP Chuyên ngành: Kinh tế và Quản lý Đô thị (Kinh tế – Quản lý Tài nguyên và Môi trường)
Đề tài:
PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA DỰ ÁN TU BỔ, TÔN TẠO CỤM
DI TÍCH ĐÌNH – ĐỀN – CHÙA HAI BÀ TRƯNG PHƯỜNG
ĐỒNG NHÂN, QUẬN HAI BÀ TRƯNG
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Thư
Trang 3Tôi xin cam đoan nội dung báo cáo đã viết là do bản thân thực hiện, không saochép, cắt ghép các báo cáo hoặc luận văn của người khác; nếu sai phạm tôi xin chịukỷ luật với Nhà trường.
Hà Nội, ngày 17 tháng 05 năm 2015
Sinh viên
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình hoàn thành chuyên đề, em đã nhận được sự giúp đỡ nhiệttình của các thầy giáo, cô giáo trong Khoa Môi Trường & Đô Thị, cũng như các côchú, anh chị đang làm việc tại phòng Quản lý đô thị - Uỷ ban nhân dân Quận HaiBà Trưng, Thành phố Hà Nội
Trước hết, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Bùi Thị Hoàng Lan,người đã dành rất nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn em trong suốt quá trìnhnghiên cứu và hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp của mình
Em xin chân thành cảm ơn PGS.TS Lê Thu Hoa, TS Nguyễn Hữu Đoàn,
TS Nguyễn Thanh Huyền, TS Nguyễn Kim Hoàng, Th.S Nguyễn Thanh Bình vàtập thể khoa Môi trường và Đô thị, bộ môn Kinh tế và Quản lý Đô thị và nhiều thầy
cô giáo khác đã trang bị cho em những kiến thức quý báu để em hoàn thành chuyên
đề nghiên cứu này
Em xin chân thành cảm ơn các cô chú, anh chị đang làm việc tại phòng Quản
lý đô thị - UBND Quận Hai Bà Trưng, đặc biệt là chú Nguyễn Tiến Quang –nguyên Phó trưởng Phòng Quản lý Đô thị, anh Trần Đức Quyền – nguyên cán bộPhòng Quản lý đô thị đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho em trong việc tìm hiểu thực tếvà thu thập số liệu và hoàn thiện chuyên đề
Em xin chân thành cảm ơn các cô chú, anh chị đang làm việc trong ban tổchức lễ hội Kỉ niệm 1975 năm Khởi nghĩa Hai Bà Trưng, các sư cô sinh sống trongchùa Hai Bà Trưng và các anh chị, cô bác sinh sống tại chung cư ở khu vực quanhcụm di tích Đình – Đền – Chùa Hai Bà Trưng, phường Đồng Nhân, quận Hai BàTrưng đã giúp đỡ và hỗ trợ em rất nhiều trong công tác điều tra và nghiên cứu thựctế
Hà Nội, ngày 17 tháng 05 năm 2015
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Thư
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1 Tác động của dự án Tu bổ, tôn tạo cụm di tích Đình – Đền – Chùa Hai Bà
Trưng đến các hoạt động văn hóa đô thị theo đánh giá của cộng đồng ………….30
Bảng 2.Tác động của dự án Tu bổ, tôn tạo cụm di tích Đình – Đền – Chùa Hai Bà Trưng đến các hoạt động xã hội đô thị theo đánh giá của cộng đồng ………36
Bảng 3 Tác động của dự án Tu bổ, tôn tạo cụm di tích Đình – Đền – Chùa Hai Bà Trưng đến các hoạt động kinh tế đô thị theo đánh giá của cộng đồng………37
Bảng 4 Tác động của dự án Tu bổ, tôn tạo cụm di tích Đình – Đền – Chùa Hai Bà Trưng đến các môi trường đô thị theo đánh giá của cộng đồng ……….41
DANH MỤC HÌNH ẢNH Hình 1 Cụm di tích Đình – Đền – Chùa Hai Bà Trưng, số 12 phường Đồng Nhân, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội ……… 21
Hình 2 Lễ kỉ niệm 1975 năm Khởi nghĩa Hai Bà Trưng thu hút nhiều người tham gia ……… 33
Hình 3 Vở tuồng tái hiện lại cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng 1975 năm về trước……… …… 34
Hình 4 Hoạt động thi nấu cơm bằng niêu đất ……… 34
Hình 5 Rác thải dồn đọng trong khuôn viên di tích ……….43
Hình 6 Vật liệu xây dựng trong khuôn viên cụm di tích ……….44
Trang 6MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 9
1 Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến đề tài và tính cấp thiết của đề tài 9
2 Mục tiêu nghiên cứu 11
3 Phạm vi nghiên cứu 12
4 Phương pháp nghiên cứu 12
5 Câu hỏi nghiên cứu 13
6 Kết cấu chuyên đề 13
CHƯƠNG I LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC TU BỔ, TÔN TẠO DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA ĐÔ THỊ 14
1.1 Tổng quan về di tích lịch sử - văn hóa đô thị 14
1.1.1 Một số khái niệm 14
1.1.2 Đặc trưng của di tích lịch sử - văn hoá đô thị 14
1.1.3 Phân loại di tích lịch sử - văn hoá đô thị 15
1.1.4 Giá trị của di tích lịch sử - văn hóa đô thị 16
1.2 Công tác tu bổ, tôn tạo di tích lịch sử - văn hóa 16
1.2.1 Khái niệm 16
1.2.2 Yêu cầu của công tác tu bổ, tôn tạo di tích lịch sử - văn hoá 17
1.2.3 Nội dung công tác tu bổ, tôn tạo di tích lịch sử - văn hóa 17
1.2.4 Hình thức tu bổ, tôn tạo di tích lịch sử - văn hóa 18
1.2.5 Nguyên tắc khoa học trong công tác tu bổ, tôn tạo di tích lịch sử - văn hóa 18
1.2.6 Trình tự lập và thực thi dự án tu bổ, tôn tạo di tích lịch sử - văn hóa .19 1.3 Phân tích tác động dự án tu bổ, tôn tạo di tích lịch sử - văn hóa 20
1.3.1 Khái niệm 20
1.3.2 Mục tiêu của phân tích tác động dự án tu bổ, tôn tạo di tích lịch sử -văn hóa 20
Trang 71.3.3 Các tiêu chí đánh giá tác động của công tác tu bổ, tôn tạo di tích 20
lịch sử - văn hóa 20
1.3.4 Phương pháp đánh giá tác động dự án Tu bổ, tôn tạo di tích lịch sử -văn hóa 20
1.3.5 Tác động của dự án Tu bổ, tôn tạo di tích lịch sử - văn hóa đô thị 22
1.4 Một số kinh nghiệm phân tích tác động của dự án Tu bổ, tôn tạo di tích lịch sử - văn hóa của các nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm 23
1.4.1 Kinh nghiệm của Nhật Bản 23
1.4.2 Kinh nghiệm của Đài Loan 25
1.4.3 Bài học kinh nghiệm 27
Tiểu kết chương I 27
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TU BỔ, TÔN TẠO CỤM DI TÍCH ĐÌNH – ĐỀN – CHÙA HAI BÀ TRƯNG PHƯỜNG ĐỒNG NHÂN, 29
QUẬN HAI BÀ TRƯNG 29
2.1 Tổng quan về cụm di tích Đình – Đền – Chùa Hai Bà Trưng 29
2.1.1 Giới thiệu chung về cụm di tích Đình – Đền – Chùa Hai Bà Trưng 29
2.1.2 Giá trị của cụm di tích Đình – Đền – Chùa Hai Bà Trưng 30
2.2 Phân tích thực trạng công tác tu bổ, tôn tạo cụm di tích Đình – Đền – Chùa Hai Bà Trưng 33
2.2.1 Các giai đoạn tu bổ, tôn tạo cụm di tích trướcđây 33
2.2.2 Dự án tu bổ, tôn tạo cụm di tích năm 2014 34
2.3 Nội dung đầu tư, tu bổ, tôn tạo và phát huy giá trị di tích 35
2.3.1 Mục tiêu bảo tồn, tôn tạo di tích 35
2.3.2 Định hướng bảo tồn tôn tạo di tích 35
2.3.3 Một số quan điểm, nguyên tắc đối với việc bảo tồn, tôn tạo cụm di tích 36 2.3.4 Phạm vi của dự án 36
2.4 Đánh giá tác động của dự án tu bổ, tôn tạo cụm di tích Đình – Đền – Chùa Hai Bà Trưng 36
2.4.1 Mô tả phương pháp khảo sát, thu thập số liệu 36
2.4.2 Mô tả kết quả khảo sát 38
Tiểu kết chương II 52
Trang 8CHƯƠNG III MỘT SỐ GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ TĂNG CƯỜNG TÁC ĐỘNG TÍCH CỰC CỦA DỰ ÁN TU BỔ, TÔN TẠO CỤM DI TÍCH ĐÌNH –
ĐỀN – CHÙA HAI BÀ TRƯNG PHƯỜNG ĐỒNG NHÂN 55
QUẬN HAI BÀ TRƯNG 55
3.1 Định hướng phát triển 55
3.1.1 Định hướng phát triển di tích lịch sử - văn hóa của quận Hai Bà Trưng 55 3.1.2 Định hướng phát triển cụm di tích Đình – Đền – Chùa Hai Bà Trưng 56
3.2 Một số giải pháp 57
3.2.1 Một số giải pháp tăng cường tác động của dự án đến hoạt động văn hóa đô thị 57
3.2.2 Một số giải pháp nhằm tăng cường tác động của dự án đến hoạt động xã hội đô thị 59
3.2.3 Một số giải pháp nhằm tăng cường tác động của dự án đến hoạt động kinh tế đô thị 59
3.2.4 Một số giải pháp nhằm giảm thiểu tác động của dự án đến môi trường đô thị 61
3.3 Kiến nghị 61
Tiểu kết chương III 64
KẾT LUẬN 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
PHỤ LỤC 68
Trang 9LỜI MỞ ĐẦU
1 Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến đề tài và tính cấp thiết của đề tài
Đô thị là nơi tập trung đông dân cư sinh sống có truyền thống lịch sử lâu đời,
đi kèm theo đó là hệ thống di tích lịch sử - văn hóa có giá trị cao, mang đậm bản sắc
đô thị Chính vì thế nên trong phạm vi các đô thị hiện nay có rất nhiều di tích lịch sử
- văn hóa có giá trị và cần tu bổ, tôn tạo và cần có hướng khai thác hợp lý
Di tích lịch sử - văn hoá đô thị là tài sản vô giá trong kho tàng di sản văn hoálâu đời của dân tộc, là những chứng tích vật chất phản ánh sâu sắc nhất về đặc trưngvăn hoá, về cội nguồn và truyền thống đấu tranh dựng nước, giữ nước hào hùng, vĩđại của cộng đồng các dân tộc trong một quốc dân, đồng thời là một bộ phận cấuthành kho tàng di sản văn hoá nhân loại
Hiện nay trên lãnh thổ Việt Nam có trên 4 vạn di tích, trong đó 7 di tích là Disản văn hóa và thiện nhiên Thế giới Cho đến nay, Bộ Văn hóa Thông tin đã xếphạng được hơn 3000 di tích lịch sử - văn hóa, kiến trúc - nghệ thuật cấp Quốc gia.Theo thống kê gần đây nhất, có 79,3% số di tích xếp hạng Quốc gia là phân bố ởBắc Bộ, vùng Nam bộ chiếm 14,4% và vùng Trung bộ có 6,3% Ngoài ra, còn hàngngàn di tích khác được đánh giá xếp hạng di tích cấp địa phương Trong đó, phầnlớn các di tích thuộc các đô thị trên toàn quốc Điển hình như đô thị Hà Nội
Đô thị Hà Nội với sự hình thành, phát triển qua hàng ngàn năm văn hiến đãhình thành và lưu giữ một hệ thống di sản phong phú về thể loại, lớn về quy mô và
có giá trị đặc biệt, chính vì thế mà Hà Nội trở thành một trong những trung tâm vănhoá du lịch lớn nhất ở Việt Nam Hệ thống di tích Hà Nội tính đến thời điểm hiệnnay có khoảng gần 3000 di tích lịch sử văn hóa bao gồm các di tích lịch sử văn hóatruyền thống, Đình, Đền, Chùa, Miếu, Phủ - Di tích cách mạng kháng chiến, Di tíchkhảo cổ, Thành Cổ
Theo tiến trình thời gian, hệ thống di tích nói chung và di tích lịch sử - vănhóa của Hà Nội bị xuống cấp bởi các nguyên nhân cơ bản sau:
- Thiên nhiên và thời gian khắc nghiệt – nắng gắt, mưa nhiều, gió bãotheo mùa, không khí luôn trong tình trạng độ ẩm cao gây tổn hại cho vật liệu kiếntrúc trong di tích (gỗ, gạch ngói )
- Địa hình nhiều sông hồ nên hầu như tất cả các di tích bằng gỗ bị mối,mọt xâm thực
- Sự vô ý thức của một bộ phận xã hội đã gây nên nạn chiếm dụng, pháhoại hay gây hư hỏng do sử dụng di tích và các mục đích khác như kinh tế, giáo dục(làm kho, trường học, trụ sở, )
- Do hỏa hoạn, chiến tranh
- Ngoài ra, với sự phát triển không đồng bộ của đô thị Hà Nội đangtrong quá trình đô thị háo, di tích còn chịu các tác động khá như hiện tượng nềncông trình di tích bị hạ thấp do đường giao thông luôn được tôn cao dẫn đến hayngập lụt, đọng nước Không gian, cảnh quan di tích bị chèn ép do cư dân đô thị xâydựng các công trình tự phát xung quanh di tích hay xu hướng của những người khágiả muốn tô điểm lòe loẹt cho di tích bằng các hình thức “công đức”
Trang 10Chính vì thế cần có những biệp pháp bảo tồn, tôn tạo phù hợp Tuy nhiên,thực hiện dự án tu bổ, tôn tạo di tích lịch sử - văn hóa nhất là đối với các di tích lịch
sử - văn hóa cần đảm bảo hài hòa các yếu tố như nguồn di sản văn hóa ở Việt Namnói chung và trên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng là rất đa dạng, phong phúmang đậm nét văn hóa đặc trưng của vùng miền, quốc gia, có giá trị giáo dục vănhóa cao, cũng là nguồn tài nguyên quan trọng trong phát triển du lịch văn hóa
Vì thế công tác bảo tồn, tôn tạo di tích đặc biệt là các di tích lịch sử - văn hóa
đô thị ở Hà Nội nói chung và quận Hai Bà Trưng nói riêng là một trong những nộidung quản lý văn hóa đô thị luôn là đề tài thu hút sự quan tâm của cộng đồng, cũngnhư được chính quyền quản lý các cấp quan tâm, thực hiện các dự án tu bổ, tôn tạocác di tích lịch sử - văn hóa nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị vật thể và phi vậtthể đi kèm
Đã có nhiều nghiên cứu về công tác bảo tồn, tôn tạo di tích lịch sử - văn hóa
đô thị, cụ thể:
Các tham luận trong kỷ yếu hội thảo “Hoạt động tôn tạo, xây mới trong công
tác bảo tồn, phát huy giá trị di tích” năm 2013, bao gồm:
ThS KTS Đoàn Bá Cừ (2013)“Tôn tạo di tích, hãy lưu truyền gen văn hóa”.
Bản tham luận đề xuất các hướng tu bổ, tôn tạo di tích nên chú trọng bảo tồn tínhnguyên bản, giá trị truyền thống của di tích, chủ yếu là các di tích lịch sử - văn hóa,đưa ra một số trường hợp thành công trong tu bổ tôn tạo di tích theo hướng này nhưcông trình tôn tạo di tích Văn Miếu – Quốc Tự Giám Thăng Long, Đền Lý Bát Đế(Đền Đô ở Đình Bảng Bắc Ninh), Đền Thượng thuộc di tích lịch sử - văn hóa ĐềnHùng Phú Thọ
TS Nguyễn Hữu Toàn (2013)“Tu bổ, tôn tạo nhằm bảo vệ và phát huy giá
trị di tích trong cuộc sống đương đại” Bản tham luận đề xuất một số phương pháp
nhằm phát huy tốt nhất gái trị của di tích trong cuộc sống đương đại chú trọng bảotồn nguyên trạng và tính nguyên gốc của di tích hài hòa với mục đích phát huy trị ditích phục vụ đời sống đương đại
Th.S.KTS Vũ Thị Hà Ngân (2013)“Tôn tạo, xây mới tại các khu phố Cổ,
cách tiếp cận từ cộng đồng tại Nhật Bản” Bản tham luận phân tích sự cần thiết
trong việc bảo tồn di tích trong lòng đô thị và đề xuất một số phương án tôn tạo, tu
bổ, xây mới di tích hoặc trong khuôn viên di tích từ những bài học thực tiễn có thểáp dụng ở Việt Nam
Và một số nghiên cứu khác liên quan đến vấn đề này, bao gồm:
PGS.TS.KTS Doãn Minh Khôi (2010) “Bảo tồn di tích trong phát triển
không gian đô thị” Bài nghiên cứu chỉ ra những khó khăn trong công tác bảo tồn,
tôn tạo di tích trong không gian đô thị từ đó đưa ra hướng khắc phục khó khăn, chútrọng tới sự hài hòa giữa cũ – mới, tĩnh – động, đóng – mở trong không gian di tíchmới, bên cạnh đó cũng đánh giá những cơ hội và thách thức của đời sống di tíchtrong chiến lược phát triển đô thị mới, nhằm tạo cho di tích một đời sống riêngkhông phụ thuộc vào sự biến đổi thất thường của không gian đô thị
TS Nguyễn Văn Bình (2007)“Bảo tồn di sản văn hóa và phát triển du lịch”.
Bài nghiên cứu chỉ ra thực trạng trong công tác bảo tồn di sản văn hóa, qua đó, đề
Trang 11xuất một số giải pháp khắc phục từ góc độ du lịch đối với công tác bảo tồn, pháthuy giá trị văn hóa nhằm bảo tồn tính nguyên bản, nét đặc sắc của di sản nhằm thuhút du khách đến thăm quan, chú trọng đến văn hóa phi vật thể trong không gianvăn hóa vật thể, biến nguồn di sản phong phú trở thành tài nguyên du lịch vô giá.
Quận Hai Bà Trưng là một đơn vị hành chính được hình thành và phát triểnkhá lâu đời, có nhiều di tích lịch sử - văn hóa đô thị, những nhân chứng của quátrình hình thành và phát triển trải qua hàng ngàn năm lịch sử, thể hiện nét văn hóađặc trưng riêng có của đô thị Chính vì thế, quận luôn ưu tiên đầu tư vào các dự ánbảo tồn, tôn tạo các di tích văn hóa nhằm bảo tồn và phát huy các gía trị văn hóacũng như phục vụ sự nghiệp phát triển văn hóa của quận Công tác quản lý các dựán này tại quận cũng được giám sát thực hiện một cách đầy đủ tại phòng Quản lý
đô thị quận Hai Bà Trưng Tuy nhiên, qua quá trình quan sát và nghiên cứu, tôinhận thấy khi thực hiện các dự án này, chính quyền cũng như các ban ngành liênquan chưa thực sự chú trọng đến công tác đánh giá, phân tích các ảnh hưởng củadự án đến đời sống nhân dân nhằm đánh giá tính hiệu quả của dự án nói chungcũng như hiệu quả của nguồn vốn đầu tư Chính vì thế không kiểm soát tốt nguồnvốn đầu tư vào lĩnh vực bảo tồn, tôn tạo di tích hay tính toán thời điểm, hạng mụcnên đầu tư hợp lý
Sau quá trình thực tập ở phòng Quản lý Đô thị quận Hai Bà Trưng, nhận thấyviệc nghiên cứu về vấn đề văn hóa đô thị của Quận Hai Bà Trưng là cần thiết, đặcbiệt là phân tích các tác động của một dự án Tu bổ, tôn tạo di tích lịch sử - văn hóa
đô thị, vì vậy tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Phân tích tác động của dự án tu bổ, tôn tạo cụm di tích Đình – Đền – Chùa Hai Bà Trưng phường Đồng Nhân quận Hai Bà Trưng” Chuyên đề hướng tới phân tích những ảnh hưởng tích cực cũng
như tiêu cực của dự án Tu bổ, tôn tạo cụm di tích Đình – Đền – Chùa Hai Bà Trưngphường Đồng Nhân, quận Hai Bà Trưng, theo đó đề ra một số giải pháp tăng cườngtác động tích cực của hoạt động tu bổ, bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử -văn hóa đô thị
2 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận và nghiên cứu thực tế, đề tài nghiêncứu có những mục đích chính sau đây:
Một là, hệ thống hóa lại cơ sở lý thuyết về di tích lịch sử - văn hóa đô thị;công tác tu tổ, tôn tạo di tích lịch sử - văn hóa đô thị; phân tích tác động của dự án
Tu bổ, tôn tạo di tích lịch sử - văn hóa đô thị
Hai là, giới thiệu dự án “Tu bổ, tôn tạo cụm di tích Đình – Đền – Chùa HaiBà Trưng phường Đồng Nhân, quận Hai Bà Trưng” (năm 2014), đánh giá thựctrạng dự án, phân tích các tác động của dự án đến các hoạt động văn hóa, xã hội,kinh tế và môi trường đô thị
Ba là, đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường các tác động tích cực, giảmthiểu những tác động tiêu cực của dự án Tu bổ, tôn tạo cụm di tích Đình – Đền –Chùa Hai Bà Trưng đồng thời đưa ra một số kiến nghị nhằm gia tăng tính hiệu quảtrong công tác tu bổ, quản lý di tích lịch sử - văn hóa có thể áp dụng trên địa bàn
Trang 12quận Hai Bà Trưng.
3 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi thời gian: năm 2014, 6 tháng đầu năm 2015
Phạm vi không gian: phạm vi không gian cụm di tích Đình – Đền – Chùa HaiBà Trưng phường Đồng Nhân, quận Hai Bà Trưng và khu vực lân cận
4 Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng kết hợp các phương pháp theo phương châm gắn lý luận với thựctiễn Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, đề tài ứng dụng lý luận vào thực tiễn đồng thời
bổ sung lý luận Trong đó sử dụng các phương pháp nghiên cứu chính:
- Phương pháp thống kê mô tả: tìm hiểu dân cư sinh sống và có các hoạtđộng liên quan trực tiếp trong khuôn viên cụm di tích lịch sử - văn hóa Đình – Đền– Chùa Hai Bà Trưng trên các tiêu chí: độ tuổi, nghề nghiệp và khảo sát ý kiếncủa họ về dự án cũng như mức độ ảnh hưởng của dự án đến cuộc sống cá thườngnhật
- Phương pháp điều tra dự báo: Để thực hiện đề tài này, tôi sử dụng phươngpháp điều tra dự báo về mức độ đánh giá của người dân sinh sống và có hoạt độngliên quan trực tiếp đến cụm di tích trong khu vực xung quanh cụm di tích Đình –Đền – Chùa Hai Bà Trưng đến tác động của dựa án Tu bổ, tôn tạo cụm di tích Đình– Đền – Chùa Hai Bà Trưng đến các hoạt động văn hóa, xã hội, kinh tế, môi trường
đô thị Tôi sẽ lựa chọn điều tra 100 người trong số những người dân sinh sống ở đâyvà tiến hành phỏng vấn họ qua bảng hỏi, thu được 70 phiếu trả lời và có 50 phiếuhợp lệ (có câu trả lời đủ hoặc hơn 70% số câu hỏi) Các câu hỏi sẽ liên quan đến sựđánh giá của người dân về các nội dung:
Đánh giá về sự thay đổi của cụm di tích
Mức độ đáp ứng được kì vọng của cư dân sau khi hoàn thành dự án
Sự tác động trực tiếp đến hoạt động thường ngày của cư dân sau khi hoànthành dự án
Đánh giá của người dân về mức độ tác động của dự án đến văn hóa đô thị
Đánh giá của người dân về mức độ tác động của dự án đến xã hội đô thị
Đánh giá của người dân về mức độ tác động của dự án đến kinh tế đô thị
Đánh giá của người dân về sự tác động của dự án đến môi trường đô thị
- Phương pháp phân tích tổng hợp: tìm hiểu các thông tin thu thập được từ
Trang 13cụ Từ quản lý Đình và Đền; các sư thầy, sư cô quản lý Chùa, ban tổ chức lễ hộihàng năm và tìm hiểu trên mạng Internet Bên cạnh đó, kết hợp với những thông tinthu thập được từ việc điều tra sự đánh giá của cư dân đô thị mức độ ảnh hưởng củadự án Tu bổ, tôn tạo cụm di tích lịch sử - văn hóa Đình – Đền – Chùa Hai Bà Trưng
để tổng hợp và đưa ra những nhận xét, đánh giá; từ đó đưa ra các kiến nghị và giảipháp nhằm tăng cường tác động tích cực, đồng thời hạn chế tác động tiêu cực củadự án đến các hoạt động và môi trường đô thị
5 Câu hỏi nghiên cứu
Chuyên đề tập trung giải quyết những câu hỏi:
- Dự án “Tu bổ, tôn tạo cụm di tích Đình – Đền – Chùa Hai Bà Trưngphường Đồng Nhân, quận Hai Bà Trưng” tiến hành như thế nào?
- Tác động của dự án Tu bổ, tôn tạo cụm di tích Đình – Đền – Chùa HaiBà Trưng lên các khía cạnh của đời sống đô thị bao gồm: hoạt động văn hóa đô thị,hoạt động xã hội đô thị, hoạt động kinh tế đô thị, môi trường đô thị như thế nào theođánh giá của người dân sinh sống xung quanh cụm di tích?
- Có thể thực hiện những giải pháp, kiến nghị gì để phát huy tối đa tácđộng tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của dự án Tu bổ, tôn tạo cụm di tíchĐình – Đền – Chùa Hai Bà Trưng nhằm khai thác hiệu quả, bảo tồn và phát huy tối
đa giá trị của cụm di tích trong tương lai?
6 Kết cấu chuyên đề
Ngoài lời mở đầu, kết luận, nội dung chuyên đề gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về công tác tu bổ, tôn tạo di tích lịch sử - văn hóa
Trang 14CHƯƠNG I LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC TU BỔ, TÔN TẠO
DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA ĐÔ THỊ 1.1 Tổng quan về di tích lịch sử - văn hóa đô thị
1.1.1 Một số khái niệm
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, cần thống nhất cách hiểu của các kháiniệm sau: văn hóa, di sản văn hóa, di tích lịch sử - văn hóa, di tích lịch sử - văn hóa
đô thị
Văn hoá là một hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần đặc trưng nhất chobản sắc của cộng đồng người, do cộng đồng con người sáng tạo và tích luỹ trongquá trình hoạt động thực tiễn và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác
Di sản văn hoá là hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần do một cộng đồngngười sáng tạo và tích luỹ trong một quá trình lịch sử lâu dài và được lưu truyền từthế hệ trước cho thế hệ sau
Di sản văn hoá bao gồm di sản văn hoá phi vật thể và di sản văn hoá vật thể,là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học được lưu truyền
từ thế hệ này qua thế hệ khác…
(Theo điều 1 Luật Di sản văn hoá Việt Nam)
Di tích lịch sử - văn hoá là một bộ phận của di sản văn hoá, là công trình xâydựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó
có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học
(Theo Điều 4 Luật Di sản văn hóa Việt Nam)
Di tích lịch sử - văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật cổvật, bảo vật quốc gia thuộc công trình địa điểm có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học
(Theo Điều 4 Luật Di sản văn hóa Việt Nam)
Di tích lịch sử - văn hoá đô thị là di tích lịch sử - văn hoá nằm trong quỹ đấthiện tại là đô thị
1.1.2 Đặc trưng của di tích lịch sử - văn hoá đô thị
Di tích lịch sử - văn hoá đô thị là một bộ phận cấu thành nên di sản văn hoánên mang những đặc trưng của di sản văn hoá
Theo Xavier Greffe trong công trình “Quản lý di sản văn hoá” (1999) cho
rằng di sản văn hoá có ba đặc trưng chính:
- Tính truyền thống: di sản văn hoá mang nhiều ý nghĩa đối với mộtcộng đồng, là phương tiện biểu hiện của lịch sử hoặc để chia sẻ các giá trị
- Tính khoa học: di sản văn hoá được thừa nhận thường có giá trị lớn vềmặt lịch sử hoặc nghệ thuật, có tính không thể thay thế được, nhằm bảo tồn bản chất
di sản của một đối tượng hoặc công trình di sản văn hoá
- Tính kinh tế: di sản văn hóa còn có giá trị kinh tế đối với cộng đồng
Trang 15Bên cạnh đó, giáo sư, tiến sĩ Hoàng Vinh cho rằng, di sản văn hoá còn đặctrưng bởi tính hiểu biết, tính tượng trưng và tính sử liệu.
Ngoài ra, di tích lịch sử - văn hoá có một trong các tiêu chí riêng sau đây:
- Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử, văn hoá tiêubiểu của quốc gia hoặc của địa phương
- Công tình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anhhùng dân tộc, danh nhân, nhân vật lịch sử có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triểncủa quốc gia hoặc của địa phương trong các thời kì lịch sử
- Địa điểm khảo cổ có giá trị tiêu biểu
- Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc
đô thị và địa điểm cư trú có giá trị tiêu biểu cho một hoặc nhiều giai đoạn phát triểnkiến trúc, nghệ thuật
1.1.3 Phân loại di tích lịch sử - văn hoá đô thị
Tùy từng tiêu chí và mục đích nghiên cứu, di tích được phân loại thành từngnhóm nhất định
Theo tiêu chí tính chất di động của di tích: di tích lịch sử - văn hóa đượcphân thành di tích động (là hoặc có thể là những đối tượng trưng bày của bảo tàng)và các di tích bất động
Theo tiêu chí vật liệu cấu thành, di tích lịch sử - văn hóa được phân thành hailoại chính: di tích gỗ, di tích gạch – đá
Theo tiêu chí thời kì lịch sử, di tích lịch sử - văn hóa được phân thành baloại: di tích thời tiền sử, di tích thời kì lịch sử trung đại, di tích thời kì cận hiện đại
Theo tiêu chí tình trạng bảo tồn, di tích lịch sử - văn hóa được phân thànhbốn loại: di tích còn nguyên vẹn, di tích ở dạng đổ nát từng phần, di tích ở dạng phếtích, di tích chỉ còn vị trí
Theo tiêu chí chức năng sử dụng, di tích lịch sử - văn hóa được phân thành
ba loại chính: đô thị, thành lũy; các công trình tín ngưỡng, tôn giáo; nhà ở
Theo tiêu chí mức giá trị và cấp quy định xếp hạng (Theo Luật di sản VănHóa được thông qua tháng 6/2001), di tích lịch sử - văn hóa được phân thành baloại:
- Di tích Quốc gia đặc biệt: là di tích có giá trị đặc biệt tiêu biểu củaQuốc gia, do Thủ tướng Chính phủ quyết định xếp hạng
- Di tích Quốc gia là di tích có giá trị đặc biệt của Quốc gia, do bộ Vănhóa – Thông tin quyết định xếp hạng
- Di tích cấp Tỉnh: là di tích có giá trị tiêu biểu của địa phương, do Chủtịch Ủy ban nhân dân cấp Tỉnh quyết định xếp hạng
Trong phạm vi đề tài nghiên cứu, tôi đề xuất phân loại di tích theo tiêu chítình trạng bảo tồn, chức năng sử dụng và tiêu chí mức giá trị và cấp quy định xếphạng
Trang 161.1.4 Giá trị của di tích lịch sử - văn hóa đô thị
1.1.4.1 Giá trị kiến trúc, nghệ thuật
Di tích lịch sử - văn hóa đô thị là những di sản mang đậm phong cách kiếntrúc và nghệ thuật của thời kì đương đại được lưu giữ qua quá trình lịch sử lâu dài,tích lũy và truyền lại đời nay một cách chân thực nhất về phong cách nghệ thuật,kiến trúc của thời đại trước, đây chính là những nhân chứng sống của những thời kìlịch sử đã vắng bóng qua thời gian Đây cũng chính là những chứng tích cho ngườiđời nay, đời sau nhận thức được cách sinh sống của đời trước thông qua những nét
vẽ, những kiến trúc đặc sắc của di tích Chính vì thế, di tích lịch sử - văn hóa có giátrị kiến trúc, nghệ thuật đặc sắc không thể thay thế và cần tu bổ, bảo tồn để lưu giữđược giá trị kiến trúc nghệ thuật quý giá đấy
1.1.4.2 Giá trị lịch sử, văn hóa
Di tích lịch sử - văn hóa đô thị là những di sản được xây dựng trong nhữngthời kì lịch sử nhất định nên luôn mang đậm phong cách nghệ thuật của thời kì lịch
sử đó nên có giá trị lịch sử, văn hóa đặc sắc của thời kì lịch sử đó Đó là nhữngđiểm phân biệt giữa các di tích lịch sử - văn hóa cùng một không gian, đặc biệt làkhông gian đô thị nhưng khác thời kì hình thành Một đô thị càng có lịch sử hìnhthành và phát triển lâu đời thì càng sở hữu kho tàng di tích lịch sử - văn hóa phongphú và đa dạng về cả số lượng và chất lượng, hình thức, niên đại nên lưu giữ đượcvăn hóa của nhiều thời kì lịch sử, tạo nên những giá trị lịch sử, văn hóa vô giá.1.1.4.3 Giá trị khai thác, sử dụng
Di tích lịch sử - văn hóa đô thị là một bộ phận trong tổng thể không gian đôthị, lưu giữ những giá trị lịch sử - văn hóa, kiến trúc – nghệ thuật đặc sắc nên bảnthân nó có giá trị khai thác – sử dụng rất lớn Di tích lịch sử - văn hóa đô thị làkhông gian lưu giữ những lễ hội văn hóa truyền thống, thuần phong mĩ tục của đôthị Bên cạnh đó, không gian trong di tích rất phù hợp cho các hoạt động sinh hoạtvăn hóa, đặc biệt là các hoạt động sinh hoạt văn hóa truyền thống, mang đậm bảnsắc dân tộc và bản thân đô thị Ngoài ra, di tích còn là nguồn tài nguyên giá trị phục
vụ cho du lịch đô thị nhằm quảng bá hình ảnh đô thị và phát triển kinh tế đô thị
1.2 Công tác tu bổ, tôn tạo di tích lịch sử - văn hóa
1.2.1 Khái niệm
Là hoạt động nhằm tu sửa, gia cố, tôn tạo di tích lịch sử - văn hoá, ngăn chặn
có hiệu quả tình trạng xuống cấp của hệ thống di tích và nguy cơ mất mát, thấttruyền vĩnh viễn di sản văn hóa vật thể, nâng cao tính bền vững, đảm bảo sự tồn tại
Trang 17lâu dài của hệ thống di sản (Kỷ yếu hội thảo “Hoạt động tôn tạo, xây mới trongc
ông tác bảo tồn, phát huy giá trị di tích” năm 2013).
1.2.2 Yêu cầu của công tác tu bổ, tôn tạo di tích lịch sử - văn hoá
- Giữ gìn tối đa các yếu tố cấu thành di tích
- Lập quy hoạch, dự án trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền phêduyệt, trừ trường hợp sửa chữa nhỏ không ảnh hưởng đến yếu tố gốc cấu thành ditích Đối với di tích cấp tỉnh, phải được sự đồng ý bằng văn bản của cơ quan cóthẩm quyền về văn hoá, thể thao và du lịch cấp tỉnh; đối với di tích quốc gia đặc biệtphải có sự đồng ý bằng văn bản của Bộ trưởng Bộ Văn Hoá, Thể thao và Du lịch
- Công bố công khai quy hoạch, sự án đã phê duyệt tại địa phương nơi
có di tích
(Điều 34 mục 1 chương IV Luật Di sản văn hoá Việt Nam năm 2001)
1.2.3 Nội dung công tác tu bổ, tôn tạo di tích lịch sử - văn hóa
Nội dung công tác tu bổ, tôn tạo di tích văn hóa được quy định cụ thể trongcác văn bản luật và các văn bản dưới luật như pháp lệnh “Bảo vệ và sử dụng di tíchlịch sử văn hóa và Danh lam thắng cảnh” số 14 LCT-HĐHN ngày 04/04/1984 củaHội đồng nhà nước; Luật Di sản Văn hóa được kì họp thứ 9, Quốc hội khóa X thôngqua ngày 29/06/2001; Pháp lệnh số 09/2001/LCTN ngày 12/07/2001 của Chủ tịchnước về việc công bố luật di sản văn hóa
Đặc biệt là quyết định số 05/2003/QĐ – BVHTT ra ngày 06/02/2003 của Bộtrưởng Bộ Văn hóa Thông tin về việc ban hành qui chế bảo quản, tu bổ và phục hồi
di tích lịch sử, văn hóa đã tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động khoa học này Bản quichế đã đề ra những nguyên tắc, có thể coi như những định hướng cơ bản cho hoạtđộng Bảo tồn, TTDT nói chung:
“Chỉ tiến hành bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích trong trường hợp cần thiết vàphải lập thành dự án; Bảo đảm tính nguyên gốc, tính chân xác, tính toàn vẹn và sựbền vững cho di tích;
Về việc thay thế bằng kĩ thuật hay chất liệu mới phải được thí nghiệm trước
để đảm bảo kết quả chính xác khi áp dụng vào di tích;
Chỉ thay thế một bộ phận cũ bằng một bộ phận mới của di tích khi có đủchứng cứ khoa học chuẩn xác và phải có sự phân biệt rõ ràng giữa bộ phận mới thaythế bộ phận gốc.”
Nội dung trong các văn bản pháp qui ở Việt Nam khá đồng nhất với văn kiệnquốc tế liên quan đến vấn đề tu bổ, tôn tạo di tích
Hiến chương Burra (1999) chỉ rõ: “Mục đích của bảo tồn là duy trì giá trị vănhóa của một địa điểm; Bảo tồn là một phần không thể tách rời của việc quản lý tốtcác địa điểm có giá trị văn hóa (Điều 2); Các kỹ thuật và chất liệu truyền thốngđược ưu tiên sử dụng khi bảo tồn Trong một số trường hợp, kỹ thuật và chất liệuhiện đại có thể thích hợp nếu mang lại những lợi ích đáng kể cho việc bảo tồn Việc
sử dụng chất liệu hiện đại có thể thích hợp nếu nó mang lại những lợi ích đáng kể
Trang 18cho việc bảo tồn Việc sử dụng chất liệu và kỹ thuật hiện đại cần phải được thựchiện trên cơ sở những luận cứ khoa học vững chắc, hoặc bởi một cá nhân, tổ chức
có kinh nghiệm (Điều 4)”1
1.2.4 Hình thức tu bổ, tôn tạo di tích lịch sử - văn hóa
- Tu bổ, tôn tạo di tích với quy mô lớn với mục tiêu phục hồi và tái tạolại toàn bộ hay từng phần di tích đã bị mất, bị làm sai lệch hay biến đổi hình dáng.Trong đó phục hồi di tích đặt ra nhiệm vụ tước bỏ những lớp bổ sung sau này làmsai lệch hình dáng ban đầu, làm giảm các mặt giá trị của di tích (trừ trường hợpnhững bổ sung sau này nếu có giá trị thẩm mỹ trở thành bộ phận hữu cơ của di tíchthì cần được trân trọng) Còn tái tạo di tích có nghĩa là phục dựng lại những yếu tố,các bộ phận di tích đã bị mất, hoặc chỉ còn lại những chi tiết đơn lẻ Ngoài ra có thểtái định vị các bộ phận di tích đã bị sụp đổ hoặc vùi lấp trong các phế tích kiến trúc
- Tu bổ mang tính chất sửa chữa nhỏ, có nhiệm vụ bảo vệ và gia cường
về mặt kỹ thuật để cho di tích luôn được giữ trong trạng thái bảo quản ổn định màkhông làm thay đổi hình dạng lịch sử vốn có của nó như: Bảo dưỡng thường xuyênvà định kỳ cho di tích, nhằm kiểm tra về mặt kỹ thuật, phát hiện, ngăn chặn hoặcloại trừ nguyên nhân gây hại di tích; sửa chữa nhỏ (mái dột, hệ thống máng nước,thoát nước, sơn cửa, quét vôi)
- Bảo quản cấp thiết: khi phát hiện di tích đang ở trong tình trạng bảoquản không tốt có khả năng đe dọa sự toàn vẹn và hoàn chỉnh của nó hoặc có nguy
cơ bị biến dạng, sụp đổ thì phải áp dụng ngay biện pháp bảo quản cấp thiết hoặc ditích bị hư hỏng đột xuất do thiên tai gây ra Nhưng phổ biến nhất là áp dụng biệnpháp gia cố, tạo hệ thống dỡ các cấu kiện chịu tải trong di tích
- Bảo quản phòng ngừa bằng biện pháp kỹ thuật nhằm ngăn chặn hoặctriệt tiêu các nguyên nhân gây hại cho di tích, có thể áp dụng biện pháp kỹ thuật đểbảo quản từng phần di tích, bảo quản toàn bộ di tích, tạo lớp cách ly chống thấmnước, chống ẩm, phun thuốc phòng và diệt mối, mọt, ngâm tẩm xử lý hóa chất chocác cấu kiện cũ và mới trước khi lắp dựng lại
(Trích Tham luận “Tu bổ và tôn tạo các di tích lịch sử và văn hóa là hoạt
động đặc thù chuyên ngành”, TS Đặng Văn Bài)
1.2.5 Nguyên tắc khoa học trong công tác tu bổ, tôn tạo di tích lịch sử - văn hóa
Các dự án tu bổ, tôn tạo di tích lịch sử - văn hóa nói chung, dự án tu bổ, tôntạo di tích lịch sử - văn hóa đô thị nói riêng cần tuân thủ các nguyên tắc khoa họcnhất định, bao gồm:
- Thứ nhất, theo đuổi mục đích cơ nhất là gia cố tăng cường độ bềnvững di tích, đảm bảo các điều kiện cần thiết để di tích có thể tồn tại lâu dài ơ dangnguyên gốc; từng hình dáng, cơ cấu kiến trúc, màu sắc, đường nét trang trí mỹ thuậtđến vật liệu xây dựng,…
Trang 19- Thứ hai, có thái độ trân trọng đối với các yếu tố nguyên gốc và các bộphận di tích được bổ sung sau này nhưng có gá trị lịch sử, văn hóa, khoa học vàthẩm mỹ.
- Thứ ba, chỉ tiến hành tu bổ, phục hồi di tích có cơ sở cứ liệu khoa họcchính xác (tài liệu viết, bản vẽ đạc họa, ảnh chụp, bản dập,…) phần mới phục hồiphải phù hợp và tạo thành một khối thống nhất với phần nguyên gốc còn giữ lại Do
đó trong thực tế chúng ta luôn cố gắng tới mức tối đa sử dụng vật liệu và công nghệtruyền thống vào việc tu bổ, phục hồi di tích Đặc biệt là phần mới bổ sung trongquá trình tu bổ phải có dấu hiệu để phân biệt với các bộ phận nguyên gốc của ditích
- Thứ tư, trước khi tiến hành tu bổ cần phải triển khai việc nghiên cứuliên ngành để có sự hiểu biết cặn kẽ di tích về các mặt: giá trị, tình trạng bảo quản,cũng như các hoàn cảnh lịch sử và đặc thù văn hóa ở địa phương nơi có di tích dựkiến được tu bổ
- Thứ năm, quá trình tu bổ di tích phải được triển khai dưới sự giám sátthường xuyên và nghiêm ngặt của tư vấn giám sát và cộng đồng cư dân nơi có ditích
1.2.6 Trình tự lập và thực thi dự án tu bổ, tôn tạo di tích lịch sử - văn hóa
- Lập dự án là bước khởi đầu quan trọng, thường được giao cho các cơquan chuyên môn có uy tín làm tư vấn và các chủ dự án có kinh nghiệm thực tế lâunăm, nên thường áp dụng hình thức chỉ định thầu, bao gồm:
+ Khảo sát thực địa là bước tiền đề quan trọng nhằm thu thập các thông tinchính xác về hiện trạng dự án
+ Thu thập các tư liệu và thông số cơ bản; xác định giá trị và hiện trạng ditích có ý nghĩa quan trọng để thiết kế và thi công tu bổ di tích
- Thiết kế sơ bộ và phương án tu bổ, tôn tạo kết hợp phát huy giá trị ditích: căn cứ vào hiện trạng di tích, tư liệu lịch sử, lời kể của nhân chứng, xây dựngbản vẽ tu bổ, phục hồi trung thực các yếu tố nguyên gốc ban đầu; căn cứ vàonguyên tắc bảo tồn và quy chế tu bổ di tích mà đưa ra các phương án tu bổ, tôn tạothích hợp; sau khi bản thiết kế sơ bộ và các phương án tu bổ được phê duyệt, chúng
ta mới bắt tay vào việc thiết kế kỹ thuật chi tiết và tổng dự toán kinh phí đầu tư
- Thẩm định dự án của cấp quản lý nhà nước có thẩm quyền
- Thực thi dự án tại hiện trường bao gồm: gia công tu bổ các chi tiếtkiến trúc, gia công tu bổ bộ phận chịu lực, gia công tu bổ phần che phủ Ngoài ra,cần chú trọng công tác giám sát thi công và nghiệm thu từng phần trong quá trình tu
bổ di tích
- Nghiệm thu và quyết toán dự án Trong giai đoạn này, đơn vị thi côngphải trình ra tài liệu bao gồm nhật kí thi công, hồ sơ hoàn công và quyết toán kinhphí
Trang 201.3 Phân tích tác động dự án tu bổ, tôn tạo di tích lịch sử - văn hóa
1.3.1 Khái niệm
Đánh giá tác động của dự án Tu bổ, tôn tạo di tích lịch sử - văn hóa là một loại hình đánh giá dự án được thực hiện vào thời điểm thích hợp sau một thời gian đã hoàn thành dự án Tu bổ, tôn tạo di tích lịch sử - văn hóa nhằm làm rõ hiệu quả vàđặc biệt là các tác động văn hóa, kinh tế - xã hội, xã hội của dự án so với những dự định được đặt ra ban đầu
1.3.2 Mục tiêu của phân tích tác động dự án tu bổ, tôn tạo di tích lịch sử - văn hóa
- Xác định các kết quả và mức độ ảnh hưởng lâu dài của dự án đến đời sốngkinh tế - chính trị - xã hội của những người hưởng lợi từ dự án cũng như đốitượng khác
- Rút ra bài học kinh nghiệm, đề xuất kinh nghiệm triển khai các phương ánsau của dự án hoặc dự án mới có tính chất tương tự
- Xem tác động tiêu cực của dự án là gì? Tối đa hóa tác động tích cực như thếnào? Ảnh hưởng của dự án đến dài hạn ra sao?
1.3.3 Các tiêu chí đánh giá tác động của công tác tu bổ, tôn tạo di tích
lịch sử - văn hóa
Đây là một bước quan trọng trong quá trình lập và thực hiện dự án nhưngthường không được thực hiện tốt vì nhiều lí do khách quan như cần có sự tham gia,kết hợp giữa nhiều yếu tố để một dự án, nhất là dự án tu bổ, tôn tạo di tích đạt hiệuquả tốt nhất sau khi đã hoàn thành và được đưa và sử dụng, cụ thể:
- Mức độ phù hợp với định hướng phát triển chung của quận và bênquản lý cụm di tích
- Mức độ hài lòng của các bên liên quan
- Mức độ tác động của dự án đến hoạt động của di tích trước và sau khithực hiện dự án
- Mức độ nhận thức của người dân đô thị về dự án
- Hiệu quả văn hóa - kinh tế - xã hội cụ thể của dự án
- Tác động của dự án đối với môi trường sinh thái
1.3.4 Phương pháp đánh giá tác động dự án Tu bổ, tôn tạo di tích lịch sử - văn hóa
Có 2 phương pháp chủ yếu để đánh giá tác động của dự án Tu bổ, tôn tạo ditích lịch sử - văn hóa là phương pháp định tính và định lượng Các phương phápđịnh tính như phương pháp nghiên cứu tình huống, phương pháp đánh giá nhanh,
Trang 21kết hợp của nhiều phương pháp thu thập số liệu thứ sinh, phỏng vấn nhóm, phươngpháp quan sát, phương pháp đo lường Các phương pháp định lượng bao gồm điềutra chọn mẫu, phương pháp lấy ý kiến chuyên gia, thu thập số liệu.
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tôi đề xuất sử dụng 2 phương phápđịnh lượng là phương pháp điều tra mẫu kết hợp phân tích dựa trên số liệu thống kêthu được Có nhiều phương pháp thu thập số liệu như nghiên cứu tài liệu, lập bảnghỏi và điều tra, quan sát trực tiếp, phỏng vấn
Phương pháp điều tra mẫu và phân tích bao gồm so sánh theo không gian; sosánh theo thời gian và so sánh kết hợp không gian và thời gian Trong đó phươngpháp so sánh theo không gian mà cụ thể là phương pháp PSM (Propensity ScoreMatching) được đánh giá rất cao trong đánh giá tác động của dự án Tính ưu việtcủa phương pháp này chính là tính khả thi của nó
Đối với các phương pháp so sánh có liên quan đến thời gian như so sánhphản thân và khác biệt kép, cần phải tổ chức khảo sát trong nội bộ người tham giatrước và sau khi tham gia dự án, sau đó so sánh kết quả của hai đợt khảo sát phảiđược thực hiện đối với cùng một người tham gia để tạo ra sự tương đồng trong sosánh Mặc dù phương pháp này không phức tạp về kỹ thuật nhưng không phải dự ánnào cũng có tổ chức khảo sát tiền dự án nên việc áp dụng phương pháp so sánh thờigian trở nên khó áp dụng Việc đánh giá sự tác động thông thường chỉ được đề cậpđến sau khi dự án đã đi vào hoạt động, vì thế việc so sánh theo không gian trở nênkhả thi hơn so với so sánh theo thời gian
Các bước cơ bản để thực hiện so sánh bằng phương pháp so sánh theo khônggian:
- Bước 1: Tiến hành điều tra chọn mẫu hai nhóm: nhóm người tham gia (nhómngười bị ảnh hưởng) và nhóm người không tham gia (không bị ảnh hưởng) Cuộcđiều tra này phải đảm bảo được tính tương đồng, chẳng hạn như cùng phiếu điềutra, cùng thời điểm, cùng người phỏng vấn, cùng địa bàn…
- Bước 2: Từ số liệu của cuộc điều tra, xây dựng mô hình logic trong đó biếnphụ thuộc là không cho người không tham gia (người không bị ảnh hưởng) và 1 chongười tham gia (người bị ảnh hưởng), còn biến độc lập là những nhân tố có thể ảnhhưởng đến khả năng tham gia vào dự án của cả hai nhóm
- Bước 3: Tiến hành hồi quy cho mô hình logic rồi tính giá trị dự đoán hay xácsuất dự đoán nằm trong khoảng từ 0 đến 1
- Bước 4: loại bớt những cá thể có xác suất dự đoán quá thấp hoặc quá cao sovới cả mẫu
- Bước 5: Tương ứng với mỗi cá thể trong nhóm người tham gia, chúng ta tìmmột hoặc một số cá thể trong nhóm người không tham gia mà co xác suất dự đoángần giống nhất rồi so sánh với nhau
- Bước 6: cuối cùng tính trung bình của tất cả các dữ liệu độc lập thu được đểgiá trị trung bình chung, giá trị trung bình chung này chính là tác động của dự ánđối với những người tham gia hoặc bị ảnh hưởng
Trang 221.3.5 Tác động của dự án Tu bổ, tôn tạo di tích lịch sử - văn hóa đô thị
Khi thực hiện dự án Tu bổ, tôn tạo di tích lịch sử - văn hóa đô thị sẽ cónhững ảnh hưởng tích cực và tiêu cực đến nhiều khía cạnh trong đời sống đô thị nhưhoạt động văn hóa, xã hội, kinh tế và môi trường đô thị Vì vậy để đánh giá hiệu quảcủa dự án Tu bổ, tôn tạo di tích lịch sử - văn hóa đô thị, cần phân tích cụ thể tácđộng của dự án đến những khía cạnh này của đô thị
1.3.5.1 Tác động của dự án đến hoạt động văn hóa đô thị
Khi thực hiện dự án tu bổ, tôn tạo di tích lịch sử - văn hóa đô thị sẽ tác độnglớn đến hoạt động văn hóa đô thị ở không gian trong và xung quanh di tích
Thứ nhất, khi thực hiện dự án sẽ làm thay đổi không gian và các bộ phận cấuthành trong không gian di tích nên làm thay đổi định hướng loại hình hoạt động vănhóa (hướng về truyền thống hay hướng đến hoạt động văn hóa hiện đại)
Thứ hai, khi thực hiện dự án tu bổ, tôn tạo di tích có cân nhắc đến sự kết hợpgiữa di tích và sinh hoạt văn hóa hay không (ví dụ như có quy hoạch không giandành cho sinh hoạt văn hóa, …) Thứ ba, sau khi thực hiện tu bổ và tôn tạo di tích
có thu hút được sự quan tâm của người dân đến sinh hoạt văn hóa thường xuyên haykhông
1.3.5.2 Tác động của dự án đến hoạt động xã hội đô thị
Khi thực hiện dự án tu bổ, tôn tạo di tích lịch sử - văn hóa đô thị sẽ tạo rakhông gian sinh hoạt chung của cộng đồng cư dân đô thị, giảm các tình trạng mấttrật tự xã hội nơi công cộng địa phương khi quy hoạch các hoạt động xã hội trongkhuôn viên di tích như hệ thống các hoạt động sinh hoạt thường kì của địa phương.Tác động này thể hiện rõ nhất ở các không gian di tích lịch sử - văn hóa đô thị Dotình trạng không gian chung càng ngày bị thu hẹp để phục vụ nhu cầu xây dựng cơ
sở hạ tầng phục vụ cuộc sống và phát triển kinh tế - xã hội nên những không giantrống trong lòng các di tích rất thích hợp cho các hoạt động vui chơi, giải trí, nhữnghoạt động tập thể cần nhiều không gian ở đô thị Chính vì thế thực hiện dự án tu bổ,tôn tạo di tích lịch sử - văn hóa đô thị sẽ cải thiện không gian có thể sử dụng tronglòng di tích, có thể sử dụng không gian này vào các hoạt động xã hội tập thể nên cóthể phát huy các hoạt động xã hội đô thị theo hướng tích cực và giảm đáng kể tìnhtrạng mất trật tự xã hội đô thị
1.3.5.3 Tác động củadự án đến hoạt động kinh tế đô thị
Thực hiện dự án tu bổ, tôn tạo di tích lịch sử - văn hóa đô thị sẽ tác động tíchcực đến phát triển kinh tế đô thị, cụ thể:
Thứ nhất, khi thực hiện dự án tu bổ, tôn tạo di tích lịch sử - văn hóa đô thị sẽtác động tích cực đến các hoạt động kinh tế liên quan như hoạt động xây dựng, thiết
Trang 23kế và các hoạt động phụ trợ xây dựng, tạo công ăn việc làm cho một bộ phận dân cư
đô thị, đặc biệt là các lao động thất nghiệp tạm thời ở khu vực xung quanh di tíchvừa tác động tích cực đến phát triển kinh tế, mặt khác lại tác động làm giảm tìnhtrạng mất trật tự an toàn xã hội do một bộ phận dân cư thất nghiệp tạo ra
Thứ hai, khi thực hiện xong dự án tu bổ, tôn tạo di tích lịch sử - văn hóa đôthị sẽ tác động đến hoạt động du lịch liên quan đến di tích và các ngành dịch vụ đikèm Sau khi hoàn thành dự án, di tích được thay đổi diện mạo và tu bổ, sửa sangtrở nên đẹp và hấp dẫn du khách hơn sẽ làm tăng lượng khách tham quan di tích dẫnđến tăng doanh thu cho ngành du lịch Bên cạnh đó, các ngành dịch vụ phục vụ dulịch như kinh doanh quà lưu niệm, dịch vụ ăn uống - giải khát, vận tải, … cũng pháttriển
1.3.5.4 Tác động của dự án đến môi trường đô thị
Khi thực hiện dự án Tu bổ, tôn tạo di tích lịch sử - văn hóa đô thị sẽ tác độngđến môi trường trong và xung quanh di tích, làm ảnh hưởng đến môi trường đô thị.Bất cứ hoạt động phát triển đô thị nào cũng phải lấy nguồn lực từ môi trường Vậynên quan điểm phát triển chung đô thị nói chung và quan điểm phát triển di tích lịch
sử - văn hóa nói riêng cần phải xem xét hiệu quả tổng thể, tức là tính tới tất cả cácchi phí của các thành phàn kinh tế khi khắc phục hậu quả môi trường cũng như phítổn để sử dụng tài nguyên Tuy nhiên, tác động môi trường của các dự án tu bổ, tôntạo di tích lịch sử - văn hóa đô thị thường là không lớn
Ngoài ra, dự án Tu bổ, tôn tạo di tích lịch sử - văn hóa thường có tác dụngkiến tạo không gian, cải thiện chất lượng môi trường sinh thái vì thế tạo ra nhiều tácđộng tích cực lên môi trường đô thị
1.4 Một số kinh nghiệm phân tích tác động của dự án Tu bổ, tôn tạo di tích
lịch sử - văn hóa của các nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm
Trong phạm vi đề tài này, tôi đề xuất một số bài học kinh nghiệm phân tíchtác động của dự án Tu bổ, tôn tạo di tích lịch sử - văn hóa đô thị thành công ở hainước trong khu vực châu Á, có truyền thống lịch sử lâu đời và có nhiều nét tươngđồng với văn hóa và truyền thống của Việt Nam là Nhật Bản và Đài Loan
1.4.1 Kinh nghiệm của Nhật Bản
Nhật Bản là một quốc gia có truyền thống lịch sử lâu đời nên có rất nhiều ditích lịch sử - văn hóa cần tu bổ, tôn tạo Công tác tu bổ, tôn tạo di tích lịch sử - vănhóa nói riêng và hoạt động bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống nóichung ở Nhật Bản được thực hiện rất tốt, để lại những bài học kinh nghiệm quý báucho Việt Nam nói riêng và các quốc gia khác trên thế giới nói chung
Công tác tu bổ, tôn tạo khu phố cổ ở đô thị Nara là một bài học điển hình.Nara là thủ đô đầu tiên của Nhật (710-794), nên có rất nhiều di tích, tuykhông bằng Kyoto và cách Kyoto khoảng 40 phút đi xe Phần lớn đất thành phốNara là của Chùa và các công trình cổ, dân số chỉ khoảng 366.000 người, nhưng du
Trang 24khách mỗi năm khoảng 13-14 triệu người, đây là một trong những đô thị cổ đượcchú trọng tu bổ và bảo tồn nhằm phát triển du lịch.
Từ những năm 1960, Nhật Bản áp dụng bảo tồn, tu bổ di tích lịch sử - văn
hóa, đặc biệt là ở các khu đô thị theo phương pháp Michizuruki – sự cộng tác giữa
người dân địa phương, cơ quan đầu tư và chính quyền Dù chính phủ Nhật Bản làchính quyền tập trung, các quyền quyết định được tập trung vào Bộ máy nhà nướcnhưng sự tham gia quản lý chung (có sự kết hợp giữa chính quyền và cư dân) củacác thành phố vẫn được ủng hộ Các quy định về quy hoạch đô thị, đặc biệt các đôthị cổ cho phép người dân tham gia vào các quyết định trong quá trình quản lýthành phố Chính điều này tạo điều kiện tốt cho việc tu bổ, tôn tạo theo cách
Michizuruki (được thực hiện bởi các “phần cứng” – xây dựng và quy hoạch và
“phần mềm” – phục hồi các di tích lịch sử và tạo dựng mạng lưới những người cóliên quan trong công tác tu bổ, tôn tạo di tích)
Ở Nara, những công trình di tích lịch sử - văn hóa được bảo tồn theo cácchương trình của Nhà nước Tuy nhiên, những ngôi nhà có giá trị thuộc sở hữu tưnhân được bảo tồn bởi chính những người chủ của nó Những công trình di tích tưnhân được bảo tồn là kết quả của sự cộng tác giữa chủ nhà và NPA (Liên hiệp hộiMachizuruki Nara)
Quy hoạch phố cổ ở Nara lần đầu tiên được đề xuất bởi chính quyền địaphương Năm 1985, Nara nghiên cứu dự án quy hoạch xây dựng các con phố Trongbản quy hoạch, những phố này chạy xuyên qua các phố cổ và được mở rộng từ 8 mđến 16 m Năm 1990, người dân và Liên hiệp hội Machizuruki Nara lập quy hoạchbảo tồn và phát triển Nara với sự giúp đỡ từ các nguồn vốn tư nhân Bản quy hoạchlập trong hai năm và được Liên hiệp hội Machizuruki Nara đệ trình lên chính quyềnNara Việc quy hoạch bảo tồn đã được nghiên cứu một cách kỹ lưỡng Năm 1994bản quy hoạch bảo tồn và phát triển đã đưa ra những tiêu chuẩn cho các công trìnhtrong các khu phố cổ Tiêu chuẩn này bao gồm các hướng dẫn về kiến trúc và cảnhquan truyền thống nhưng cũng rất linh hoạt Theo những hướng dẫn này, chủ nhân
có thể tôn tạo lại ngôi nhà và thay thế những vật liệu cũ bằng vật liệu mới tương tự
để ngôi nhà vẫn giữ được những đặc điểm gốc
Sau khi hoàn thành các dự án Tu bổ, tôn tạo các công trình di tích lịch sử văn hóa ở khu phố cổ Nara một thời gian, các nhà quản lý tiến hành các cuộc khảosát, thu thập thông tin về sự hài lòng của các đối tượng liên quan về mức độ ảnhhưởng và mức độ hài lòng của cộng đồng, đặc biệt là hai nhóm đối tượng: dân cưđịa phương và khách du lịch quốc tế
-Công tác đánh giá tác động (đánh giá sau dự án) của dự án được thực hiệnsau một thời gian khá dài, trung bình từ 1 đến 3 năm đối với các dự án Tu bổ, tôntạo lớn, chú trọng đánh giá hiệu quả của phương pháp quản lý, các nguồn lực đầu tưvào dự án Tu bổ, tôn tạo di tích lịch sử - văn hóa Đặc biệt, các khía cạnh liên quanđến văn hóa, lịch sử đô thị được đề cao hơn các yếu tố kinh tế đô thị đơn thuần, tuynhiên tác động về khía cạnh kinh tế đô thị của các dự án này đều rất cao Trungbình, sau 2 năm hoàn thành, dự án Tu bổ, tôn tạo di tích lịch sử - văn hóa phát huyđược hiệu quả, không những bảo tồn được các giá trị lịch sử - văn hóa của di tích
Trang 25mà còn phát triển được hoạt động du lịch, sinh hoạt văn hóa truyền thống, kéo theo
đó, phát triển ngành du lịch và các ngành kinh tế khác phụ trợ du lịch – tác độngtích cực đến kinh tế đô thị mà không làm ảnh hưởng đến môi trường sinh thái.1.4.2 Kinh nghiệm của Đài Loan
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tôi đề xuất một số kinh nghiệm của ĐàiLoan trong quá trình bảo tồn, tu bổ và tôn tạo thành công khu đô thị cổ Dadaocheng
ở Đài Bắc
Với hơn 150 năm lịch sử Dadaocheng tập trung một số lượng lớn các côngtrình kiến trúc cổ và đa dạng, gồm nhà phố dạng ống, văn phòng và các công trìnhtín ngưỡng.Tổng diện tích khu đô thị lich sử Dadaocheng là 40.48ha, với 77 côngtrình lịch sử (được liệt kế trong Điều lệ Quy hoạch đô thị) và 6 công trình di tích
Để thực hiện công tác bảo tồn và tôn tạo các di sản trên, các chủ sở hữu các côngtrình trên sẽ được bồi thường cho các chi phí thực hiện bảo tồn và sự thiệt thòi dokhông được phát triển ngôi nhà của mình (nâng tầng hay mở rộng, đập đi xây mới)bằng quyền “nhượng quyền phát triển” theo Điều 6 (Hệ thống TDR cho khu vực đôthị lịch sử đặc biệt Dadaocheng):
“Nếu chủ nhà hiến tặng toàn bộ công trình lịch sử, đất cho nhà nước, đồng
thời hoàn thành việc phục dựng và duy tu bảo dưỡng công trình, thì sẽ được phép chuyển nhượng toàn bộ quyền phát triển”.
TDR (transfer of development right) là một công cụ điều tiết phát triển thôngqua quy hoạch, nó cho phép hạn chế chỉ tiêu sử dụng đất (cụ thể là hệ số sử dụngđất) tại một lô đất cụ thể (vì mục tiêu nào đó) bằng cách chuyển giao một phần hoặctoàn phần quyền phát triển trên lô đất đó sang lô đất khác (có khả năng tiếp nhậnphát triển) TDR đã trở thành một thuật ngữ quen thuộc trong lĩnh vực quy hoạch,tuy nhiên cũng không phải được áp dụng rộng rãi ở nhiều nước, tuy nhiên khi ápdụng vào công tác bảo tồn, tôn tạo di tích ở Đài Loan lại đem lại hiệu quả rất tốt
Công cụ TDR đã mang đến cho người dân một cơ hội để tham gia vào quátrình ra quyết định và và hưởng lợi trực tiếp và gián tiếp từ công tác bảo tồn Cơ chếđặc biệt này, trong hơn mười năm qua, đã làm cho Dadaocheng đã thay đổi đáng kể.Nhiều chủ nhà đã dọn dẹp mặt tiền, bỏ đi nhưng dây điện, điện thoại cũ, thừa, khôiphục nguyên trạng mặt đứng bằng những kỹ thuật bảo tồn tinh tế Cho tới cuối năm
2012, đã có 340 hồ sơ đăng ký được nhận quyền TDR, trong số đó 275 trường hợpđã được chấp thuận và được nhận TDR; từ đó dần dần tiến hành cải tạo và khôiphục mặt đứng công trình về nguyên mẫu lịch sử Dadaocheng đã hồi sinh lại khungcảnh một thời vàng son của nó
Cùng với công cụ TDR, công tác dân vận phục vụ bảo tồn cũng được thựchiện hết sức hiệu quả Với các cuộc họp cộng đồng và những nỗ lực của Quỹ Vănhóa Yaoshan, người dân khu phố cổ Dadaocheng đã bắt đầu nhận ra rằng bảo tồnchính là một cách phát triển khác Thông qua việc bảo tồn cảnh quan đường phố
Trang 26lịch sử, bảo tồn các ngôi nhà cổ, hoạt động kinh doanh trở nên hiệu quả hơn nhờmôi trường và không khí lịch sử hấp dẫn, đặc biệt là các hoạt động bản lẻ và nhữngdịch vụ đô thị.
Một số chủ nhà đã trao lại một phần hay toàn bộ ngôi nhà di sản của mình đểlấy một giá trị bồi thường TDR và chuyển ra ngoài ở; những ngôi nhà hoặc phầnnhà sau khi trao lại cho nhà nước sẽ được quản lý bởi Phòng Tái thiết đô thị thuộc
Sở Quy hoạch Đài Bắc, và được sử dụng cho các mục đích công cộng Những địachỉ đó được đánh số theo số nhà, tạo thành chuỗi các địa chỉ phục công cộng dướihình thức: trung tâm văn hóa cộng đồng, bảo tàng nhỏ, hay thư viện v.v… Ngườidân khu vực có thể bày tỏ các ý kiến, quan sát, tâm tư về khu vực bằng cách dán cácmẩu giấy ghi ý kiến của mình lên bản đồ khu phố cổ tại những vị trí mà họ muốnphản ánh Những cán bộ chuyên trách từ cơ quan quản lý sẽ có trách nhiệm thu thậpvà xử lý các ý kiến đó
Năm 2005, Sở Quy hoạch thành phố đã giao cho Viện quản lý tài nguyênlịch sử IHRS – một tổ chức phi chính phủ, thực hiện việc đánh giá tổng thể quy chếquản lý “khu vực đô thị lịch sử đặc biệt Dadaocheng” Những khuyến nghị củaIHRS là các quy định trong khu vực đô thị lịch sử cần đặt người dân vào trọng tâm,hướng tới lợi ích và đồng thuận của người dân nhiều hơn; các công cụ kiểm soátnên theo hướng linh hoạt hơn; và các hướng dẫn thiết kế đô thị dưới Quy chế cầnđược xem lại và điều chỉnh định kỳ IHRM đã tổ chức hàng loạt các buổi trao đổisâu, các hội nghị, hội thảo, các tua du lịch thăm quan có hướng dẫn và phân tíchchuyên sâu cho người dân sống tại khu vực cũng như ở những khu vực khác, và cả
du khách để nâng cao hiểu biết của người dân về công tác bảo tồn, giới thiệu cho họcác kinh nghiệm bảo tồn ở Penang, Malaysia, hay Tsugamo, Nhật Bản Những traođổi như vậy đã giúp người dân hình dung được vai trò lớn lao của họ trong pháttriển cộng đồng và thúc đẩy bảo tồn
Công tác phân tích, đánh giá tác động của dự án Tu bô, tôn tạo di tích lịch sử
- văn hóa ở Đài Loan cũng có nhiều bài học rất giá trị
Thứ nhất, trước khi thực hiện các dự án Tu bổ, tôn tạo cụm di tích, chínhquyền đô thị đều thực hiện lấy ý kiến của người dân địa phương, bởi vì dự án nàydựa trên ý kiến của cộng đồng để xây dựng các phương án quy hoạch và cũng dựavào sự tự nguyện của cư dân để thực hiện và phát huy giá trị di tích lịch sử - vănhóa Chính vì thế, mỗi khi thực hiện dự án Tu bồ, tôn tạo các di tích lịch sử - vănhóa, ban quản lý dự án (có sự tham gia của cơ quan độc lập là Viện quản lý tàinguyên lịch sử IHRS) thực hiện các khảo sát, hội nghị lấy ý kiến đóng góp của cưdân trước khi thực hiện dự án, tiến hành đánh giá so sánh theo thời gian trước vàsau khi thực hiện dự án
Thứ hai, có sự tham gia tích cực của các cơ quan độc lập là Viện quản lý tàinguyên lịch sử IHRS, quỹ Văn hóa và các cơ quan phi chính phủ khác trong côngtác đánh giá hiệu quả của dự án Chính vì thế sự rành mạch và hiệu quả của các
Trang 27nguồn lực đầu tư vào dự án được phát huy tối đa, hạn chế tình trạng thất thoát vàtiêu cực trong việc thực thi dự án.
1.4.3 Bài học kinh nghiệm
Từ phân tích trên, dễ dàng nhận ra được những bài học từ thực tiễn tu bổ, tôntạo di tích lịch sử - văn hóa được áp dụng thành công đều có một số điểm chung, cụthể:
Thứ nhất, công tác tu bổ, tôn tạo di tích lịch sử - văn hóa đô thị có sự kết hợpgiữa Chính quyền đô thị và cộng đồng dân cư đô thị nhằm thống nhất mục đíchchung và phương thức thực hiện công tác bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị di tíchlịch sử - văn hóa đô thị
Thứ hai, có sự tác động, tham gia tích cực của các tổ chức xã hội, các tổ chứcphi chính phủ, đặc biệt là sự tham gia của Quỹ Văn hóa Yaoshan trong công tác tu
bổ, bảo tồn di tích lịch sử - văn hóa đô thị ở Đài Loan và có sự phản hồi tương tácgiữa các bên tham gia
Thứ ba, nhận thức tầm quan trọng của công tác tu bổ, tôn tạo di tích lịch sử văn hóa đô thị, đây không còn là vấn đề riêng của một lĩnh vực, một địa phương hay
-đô thị mà còn là vấn đề của quốc gia khi góp phần củng cố niềm tự hào văn hóa,truyền thống hình thành và phát triển của một dân tộc Tu bổ, bảo tồn di tích lịch sử
- văn hóa đô thị, do vậy, còn mang màu sắc của chính trị ở tầm quốc tế Ngoài ra, tu
bổ, bảo tồn di tích lịch sử - văn hóa đô thị cũng mang lại ý nghĩa vật chất thực tếgóp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế địa phương Vì vậy cần tập trung nhiềunguồn lực vào công tác này
Thứ tư, kết hợp giữa tu bổ, bảo tồn di tích lịch sử - văn hóa đô thị và du lịchnhằm quảng bá nét văn hóa đặc sắc của đô thị, quốc gia thông qua các di tích lịch sử
- văn hóa đô thị, gia tăng giá trị của di tích và phát triển ngành nghề kinh tế hợp lý
Thứ năm, công tác đánh giá tác động của dự án được một cơ quan độc lậpthực hiện so sánh theo thời gian, thực hiện khảo sát ý kiến cộng đồng cả trước vàsau khi thực hiện dự án đồng thời thực hiện giám sát và đánh giá hiệu quả cuảnhững nguồn lực tập trung vào các dự án này
Trang 28Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, cần thống nhất cách hiểu của các kháiniệm sau: văn hóa, di sản văn hóa, di tích lịch sử - văn hóa, di tích lịch sử - văn hóa
đô thị
Di tích lịch sử - văn hoá là một bộ phận của di sản văn hoá, là công trình xâydựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó
có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học
Di tích lịch sử - văn hoá đô thị là di tích lịch sử - văn hoá nằm trong quỹ đấthiện tại là đô thị
Công tác tu bổ, tôn tạo di tích lịch sử - văn hóa là hoạt động nhằm tu sửa, gia
cố, tôn tạo di tích lịch sử - văn hoá, ngăn chặn có hiệu quả tình trạng xuống cấp củahệ thống di tích và nguy cơ mất mát, thất truyền vĩnh viễn di sản văn hóa vật thể,nâng cao tính bền vững, đảm bảo sự tồn tại lâu dài của hệ thống di sản
Nội dung công tác tu bổ, tôn tạo di tích lịch sử - văn hóa bao gồm tiến hànhbảo quản, tu bổ, phục hồi di tích trong trường hợp cần thiết và phải lập thành dự án;Bảo đảm tính nguyên gốc, tính chân xác, tính toàn vẹn và sự bền vững cho di tíchlịch sử - văn hóa
Đánh giá tác động của dự án Tu bổ, tôn tạo di tích lịch sử - văn hóa đô thị làmột loại hình đánh giá dự án được thực hiện vào thời điểm thích hợp sau một thờigian đã hoàn thành dự án Tu bổ, tôn tạo di tích lịch sử - văn hóa nhằm làm rõ hiệuquả và đặc biệt là các tác động văn hóa, kinh tế - xã hội, xã hội của dự án so vớinhững dự định được đặt ra ban đầu
Dự án tu bổ, tôn tạo di tích lịch sử - văn hóa có những tác động tích cực vàtiêu cực đến hoạt động văn hóa đô thị, hoạt động xã hội đô thị, phát triển kinh tế đôthị, môi trường đô thị
Có rất nhiều bài học thành công của các đô thị lớn trên thế giới như một số
đô thị ở Nhật Bản và ở Đài Loan có thể nghiên cứu, qua đó áp dụng vào thực tiễn đểgiải quyết các vấn đề trong công tác tu bổ, tôn tạo di tích lịch sử - văn hóa đô thị ởthủ đô Hà Nội nói chung và ở quận Hai Bà Trưng nói riêng để đạt được kết quả tốtnhất, điển hình như: công tác tu bổ, tôn tạo di tích lịch sử - văn hóa có sự kết hợpgiữa Chính quyền đô thị và cộng đồng dân cư đô thị; có sự tác động, tham gia tíchcực của các tổ chức xã hội, các tổ chức phi chính phủ; nhận thức rõ tầm quan trọngcủa công tác tu bổ, tôn tạo di tích lịch sử - văn hóa; kết hợp giữa tu bổ di tích lịch sử
- văn hóa và du lịch nhằm quảng bá nét văn hóa đặc sắc của quốc gia thông qua các
di tích lịch sử - văn hóa, gia tăng giá trị của di tích và phát triển ngành nghề kinh tếhợp lý Quan trọng nhất là phương pháp đánh giá, phân tích tác động của các dự án
tu bổ, tôn tạo cụm di tích thực hiện kết hợp trước và sau khi thực hiện và hoàn thiệndự án dựa trên ý kiến đánh giá của các nhóm đối tượng khác nhau có liên quan trựctiếp đến di tích lịch sử - văn hóa, đặc biệt là cư dân địa phương
Trang 29CHƯƠNG II THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TU BỔ, TÔN TẠO CỤM DI TÍCH ĐÌNH – ĐỀN – CHÙA HAI BÀ TRƯNG PHƯỜNG ĐỒNG NHÂN,
QUẬN HAI BÀ TRƯNG 2.1 Tổng quan về cụm di tích Đình – Đền – Chùa Hai Bà Trưng
Cụm di tích Đình – Đền – Chùa Hai Bà Trưng nằm tại số 12 Đồng Nhân,phường Đồng Nhân, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội
Hình 1 Cụm di tích Đình – Đền – Chùa Hai Bà Trưng, số 12 phường Đồng
Nhân, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội
2.1.1 Giới thiệu chung về cụm di tích Đình – Đền – Chùa Hai Bà Trưng
Ngày 28/04/1962 Bộ Văn hoá (nay là Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch) cóQuyết định số 313/VH-QĐ xếp hạng chính thức trong lần xếp hạng đầu tiên dướichế độ Dân chủ cộng hòa (gồm 62 di tích, trong đó có đền Hai Bà Trưng ở phốĐồng Nhân) là Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia
Cụm di tích Đình – Đền – Chùa Hai Bà Trưng và Miếu Hai Bà Trưng là cụm
di tích có quy mô lớn của Thủ đô Hà Nội Đây là cụm di tích có nhiều giá trị về lịch
sử văn hóa, tôn giáo tín ngưỡng, kiến trúc nghệ thuật, khai thác sử dụng:
- Ngôi đền thờ Hai Bà Trưng – hai vị nữ tướng anh hùng dân tộc đầu tiên củanước ta ngay từ buổi đầu Công nguyên Hai Bà là tấm gương anh dũng, bất khuất,kiên cường, tiêu biều cho nhân cách, truyền thống của người phụ nữ Việt Nam
Trang 30- Cụm di tích này luôn giữ một vị thế quan trọng, nơi hội tụ những giá trị điểnhình quý gía về lịch sử, văn hóa, tôn giáo tín ngưỡng, kiến trúc, nghệ thuật, khaithác sử dụng mà rất ít các di tích trên địa bàn Hà Nội còn bảo lưu được Đây còn lànơi diễn ra những hoạt động văn hóa xã hội mang tính cộng đồng và những lễ hộiđặc sắc của Thủ đô Hà Nội.
- Cụm di tích đình, đền, chùa và miếu Hai Bà Trưng là cụm di tích có quy môlớn, hiện còn bảo lưu được tương đối đầy đủ và nguyên vẹn các thành phần kiếntrúc bao gồm 2 cụm di tích tách rời nhau: khu đình, đền, chùa tại phường ĐồngNhân và khu miếu tại phường Bạch Đằng
- Cụm di tích đình, đền, chùa Hai Bà Trưng là cụm di tích có cảnh quan rấtđẹp, phía trước có hồ nước lớn cùng với hệ thống sân vườn, cây xanh, thảm cỏ đẹpmắt, không gian thoáng đãng Di tích nằm trong lòng một khu dân cư sầm uất củaThủ đô Hà Nội
- Khu miếu thờ Hai Bà Trưng tuy có quy mô nhỏ hơn song lại ở một vị trí rấtđặc biệt; di tích ven Sông Hồng, với đầy đủ các thành phần kiến trúc cùng với hệthống cây xanh lưu niên quý hiếm
- Đây là cụm di tích kiến trúc còn lưu giữ được nhiều thành phần trang tríchạm khắc có gái trị lịch sử, văn hóa và mỹ thuật cao: bia đá, hệ thống tượng, đồthờ, các mảng, chi tiết trang trí chạm khắc trên gỗ
Các vấn đề của quá trình phát triển đô thị và việc bảo vệ di tích chưa cahwtjchẽ, làm ảnh hưởng lớn tới tổng thể di tích Khuôn viên di tích đã bị thu hẹp, khônggian di tích cũng bị ảnh hưởng do xâm lấn của các hộ xung quanh
Trong công tác quản lý sử dụng và khai thac còn nhiều bất cập, thiếu sựthống nhất chung, chưa có các quy định, quy chế đối với tổng thể cụm di tích
2.1.2 Giá trị của cụm di tích Đình – Đền – Chùa Hai Bà Trưng
2.1.2.1 Giá trị kiến trúc, nghệ thuật
Cụm di tích Đình – Đền – Chùa Hai Bà Trưng có giá trị đặc biệt về mặt cảnhquan, với không gian cây xanh, hồ nước,
Đây là cụm di tích còn bảo tồn được tương đối đầy đủ các thành phần gốc.Đền kiến trúc theo kiểu "nội Công ngoại Quốc", gồm tiền tế, đại bái và hậucung Tiền tế 7 gian Trong tiền tế được bày 2 voi gỗ sơn đen, ngà của voi là ngàthật Đây là 2 voi tượng trưng cho voi của Hai Bà cầm quân ra trận Bên cạnh đó làcác bức hoành phi, câu đối ca ngợisự nghiệp cùng công đức của Hai Bà Tòa báiđường được đặt ngai thờ và 1 tấm khảm thể hiện hình ảnh Hai Bà cưỡi voi đánhgiặc Bên cạnh đó có nhang án, hoành phi, câu đối Trong hậu cung đặt tượng HaiBà cùng 6 tượng nữ tướng dàn hai bên, trong đó là các tướng Lê Chân, Hòa Hoàng,Thiên Nga, Nguyễn Đào Nương, Phùng Thị Chính và Bát nạn Công chúa Phạm ThịCôn
Những thành phần kiến trúc và trang trí bằng thủ pháp chạm khắc trên gỗthực sự như những tác phẩm nghệ thuật mang đậm đặc trưng của nền văn hóađương đại với các đề tài phong phú, sống động
Trang 31Trang trí, điêu khắc được thể hiện nhiều nhất tại tòa Tiền Bài Từ đầu bầy,con chồng, đầu xà, kẻ, cuốn thư đến bề mặt cốn mê, cửa võng đều có nhữngmảng chạm đặc sắc, thể hiện sự tài hoa, khéo léo, tâm huyết của các nghệ nhânđương thời.
Đề tài trang trí chủ đạo ở đền rồng , phượng, tứ linh, tứ quý, với các thủ phápchạm nổi, bong kênh rất tinh tế Rồng được chạm theo nhiều dạng như Hổ phù,long cuốn thủy, lonh hóa Phượng được chạm trong tứ thế dang rộng cánh rất oaidũng nhưng không kém phần tinh tế (phượng trên cốm mê tòa thiêu hương) Trên vìkèo ván mê gian giữa tòa ống muống là bức chạm phượng chầu mặt trời Hai bênmặt trời có những đao lửa tua tủa như lưỡi mác
Gắn với các bộ vì kèo là những cửa võng chân quỳ dạ cá được chạm theo đềtài quen thuộc: rồng, phượng, hoa lá, vân mây, và được sơn son thếp vàng, tạo sựlộng lẫy, uy nghiêm nơi điện thờ
Khi nhắc tới nghệ thuật điêu khắc tại đền, không thể không nhắc tới điêukhắc tượng tròn: đó là các pho tượng Trưng Trắc, Trưng Nhị, tượng tám vị nữtướng Tất cả đều được tả thực nhưng không kém phần gợi cảm, mang đậm phongcách nghệ thuật thời nhà Nguyễn thế kỉ XIX
Ngoài tượng, nhiều đồ thờ tự khác như nhang án chân quỳ dạ cá, đổ bát Bửu,ngại, kiệu thờ cũng đều được nghệ nhân chú ý chau chuốt, mang đậm dấu ấnđương thời
Miếu Hai Bà Trưng tại phường Bạch Đằng là di tích ven sông có giá trị kiếntrúc đặc biệt, là điểm nhấn quan trọng trong tuyến du lịch tham quan sông Hồng củaThủ đô Hà Nội
Các di vật, đồ thờ tự còn bảo lưu tại miếu đáng chú ý nhất là 1 đạo sắc niênđại Chính Hòa 1 (1680) cùng cỗ long ngai, bài vị thờ Hai Bà, kiệu long đình mangphong cách nghệ thuật thời Nguyễn (thế kỉ XIX)
2.1.2.2 Giá trị lịch sử, văn hóa
Đền Đồng Nhân hiện được xây dựng trên một khu đất đẹp thuộc làng HoaViên Bên phải đền là đình làng còn bên trái là chùa Viên Minh Đình – Đền – Chùađã tạo thành một cụm di tích đẹp, có nhiều giá trị của Thủ đô Phía trước di tích còn
có một hồ nước rộng càng tô điểm thêm cho cảnh quan di tích
Thời Lý, di tích thuộc phường Bố Cái; thời Lê Sơ (thế kỷ XV) thuộc vềhuyện Long Đàm, phủ Thường Tín Sang thế kỷ XVII, dưới thời vua Lê Duy Đàm,
vì tránh tên húy của vua nên mới đổi huyện Long Đàm thành huyện Thanh Trì,thuộc vào tổng Thanh Trì, trấn Sơn Nam Thượng Sang thế kỷ XVIII, XIX, thuộc
về làng Hoa Viên, tồng Hậu Nghiêm, huyện Thọ Xương Tới giữa thế kỷ XIX,
“Làng Hoa Viên, tổng Hậu Nghiêm, sang đầu thế kỷ XX đổi thành Phương Viên”.(Theo sách Bắc thành dư địa chí)
Làng Đồng Nhân hiện nay, nguyên gốc chỉ là một xóm (xóm Chùa) của làngĐồng Nhân Châu (ở phường Bạch Đằng) Làng Đồng Nhân xóm chùa này mới chỉhình thành từ thế kỷ XIX còn làng Đồng Nhân Châu ngoài bờ sông Hồng thì đãđược sử sách ghi lại từ thế kỷ XII với sự kiện lập đền thờ Hai Bà Trưng Sách ĐạiNam thống nhất chí trong phần nói về đền Hai Bà Trưng có ghi rõ: “Đền Trưng nữ
Trang 32vương: nguyên trước ở xã Đồng Nhân, huyện Thanh Trì Tương truyền Trưngvương mất ở sông Nhị, sau hóa thành hai pho tượng đá, ngồi giữa dòng nước,thường có ánh sáng tỏa ra, rất anh linh Năm Đại Định thứ 3 (1142), triều Lý AnhTông, gặp đại hạn, đến đền cầu đảo được ứng nghiệm Bèn lập đền thờ ở trên bờsông Sau vì nước sông chảy xói lở mới dời đền đến thôn Hương Viên, huyện ThọXương.”
Như vậy, tới thế kỷ XII, đền Đồng Nhân đã trở thành một ngôi đền lớn đượctriều đình quan tâm, đến cầu khấn và chăm lo giữ gìn Khi đó đền còn nằm ở ngaybãi Đồng Nhân, ven sông Đến đời Chính Hòa (1680 – 1705), vua Lê Hi Tông đã cósắc phong: “Lĩnh Nam liệt khóa, thạch hóa chân dung” (Đấng nghĩa liệt khẳng kháiđất Lĩnh Nam, dung mạo kết tinh thành đá)
Do bãi sông bị lở, ngôi đền có nguy cơ bị cuốn trôi theo dòng nước, một sốdân bãi Đồng Nhân đã rời về xã Đại Từ Đến năm Gia Long 17 (1818), đền mớiđược chuyển vào tại thôn Hương Viên, trên nền khu Võ Sở (thời Lê, Võ Sở là nơiluyện tập và thi đấu võ nghệ của quân lính triều đình ) và tồn tại tới tận ngày nay.Dưới thời Bảo Đại, đền đã một lần được trùng tu lớn và có quy mô như ngày nay
Những cư dân tiếp tục bám trụ ngoài bãi sông Hồng cũng đã dựng lại mộtngôi miếu thờ để tưởng nhớ Hai Bà Trưng (ngôi miếu này hiện thuộc địa phận hànhchính phường Bạch Đằng, quận Hai Bà Trưng) nhưng dân làng Đồng Nhân cả trongbãi vẫn coi đó là ngôi đền chung, đến khi lễ hội vẫn rước kiệu ra đây
Cụm di tích đình, đền, chùa và miếu Hai Bà Trưng thực sự là một di sản vănhóa đặc biệt giá trị, đó là những hoạt động xã hội, văn hóa mang tính cộng đồng, tínngưỡng dân gian Đối với Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, cần coi đây là biểu tượngtôn kính, cao đẹp nhất về người phụ nữ Việt Nam: Anh hùng – Bất khuất – Trunghậu – Đảm đang Đó cũng là những giá trị văn hóa phi vật thể vô giá mà di tích đãmang lại cho chúng ta
2.1.2.3 Giá trị khai thác, sử dụng
Cụm di tích Đình – Đền – Chùa Hai Bà Trưng trong lịch sử tồn tại của mìnhđã luôn được Chính quyền đô thị và nhân dân quan tâm gìn giữ, tu bổ, tôn tạo để trởthành nơi sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng tinh thần trang nghiêm của người dân địaphương
Từ bao đời nay, di tích luôn là nơi kết tụ tinh thần của làng xã, là niềm tự hàovà nơi gửi gắm tấm lòng thành kính của mọi tầng lớp nhân dân tới hai nữ anh hùngTrưng Trắc – Trưng Nhị có công với đất nước
Đây là nơi lưu giữ những lễ hội truyền thống (trong đó đặc sắc nhất là lễ hộivào ngày mồng 6 tháng 2 âm lịch hàng năm nhằm tưởng nhớ công lao của Hai Bà),thuần phong, mỹ tục của địa phương, nơi giáo dục truyền thống yêu nước, uốngnước nhớ nguồn cho các thế hệ mai sau.Chính hội vào ngày 6/2 âm lịch có lễ tắmtượng, mở cửa hậu cung, tế và múa đèn Ðám rước thánh giá cử hành uy nghi từ đền
ra sông Hồng để tắm tượng Sau đó rước tượng Hai Bà trở về đền Cuộc tế đượctiến hành rất trang nghiêm Phần lễ có nhiều tiết mục đặc sắc, nhất là điệu múa đènthờ Tham gia biểu diễn tiết mục múa đèn là 10-12 cô gái trẻ đẹp, ăn mặc sặc sỡ,
Trang 33mỗi cô gái cầm 2 ngọn đèn Ðiệu múa uyển chuyển theo nhịp trống cơm bập bùnglàm náo nức lòng người Trong lễ hội còn có nhiều trò chơi, sinh hoạt tập thể thuhút sự tham gia của cộng đồng Ngày 6 âm lịch kết thúc hội, có tế lễ dâng hương.
Nếu được bảo tồn và chăm sóc một cách đúng mức, cụm di tích đình –đền –chùa Hai Bà Trưng có tiềm năng sử dụng và khai thác rất lớn Không những bảo tồnvà phát huy được những giá trị truyền thống vô cùng quý giá mà còn có thể tạo ranhững giá trị, thế mạnh riêng trong phát triển kinh tế đô thị, xây dựng hình ảnh đẹptrong mắt cộng đồng du khách thập phương và quốc tế
2.2 Phân tích thực trạng công tác tu bổ, tôn tạo cụm di tích Đình – Đền – Chùa Hai Bà Trưng
2.2.1 Các giai đoạn tu bổ, tôn tạo cụm di tích trướcđây
Cụm di tích đình – đền – chùa Hai Bà Trưng được lập vào thế kỷ VII, sửachữa một số lần vào các năm 1812, 1893, 1921
2001, Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội đầu tư để trùng tu toàn bộ dãy nhàkhách của cụm di tích
2003, Bộ Văn Hoá và Thông tin đầu tư để tu bổ lại đền thờ chính và hai dãyhành lang quanh khu di tích
Hiện nay, cụm di tích vẫn bảo lưu được nhiều di vật quý như 27 đạo sắcphong của triều Lê và Nguyễn, 8 pho tượng thờ, 2 tấm bia đá cổ ghi sự tích cảu HaiBà, 2 tượng voi bằng gỗ sơn đen, có đôi ngà voi thật, hai bộ kiệu thời Nguyễn cùngnhiều cửa võng, hoành phi, câu đối, hương án có giá trị lịch sử và nghệ thuật,…
Từ những dự án trên, tuy khác nhau về thời gian, cách thức và chủ thể thựchiện các dự án tu bổ, tôn tạo di tích nhưng đều có một số điểm chung, cụ thể:
- Công tác đầu tư bảo tồn tu bổ chưa được quan tâm đúng mức, còn mangtính nhỏ lẻ, tự phát với nguồn kinh phí hạn hẹp Chính vì vậy cụm di tích còn thiếusự đồng bộ, bố cục còn lộn xộn bất hợp lý
- Chỉ được đầu tư lớn ở hạng mục của khu đền, các công trình còn lại đềutrong tình trạng xuống cấp nghiêm trọng chỉ được sửa chữa với nguồn kinh phíchống xuống cấp, kinh phí tự có
- Sự lộn xộn bất hợp lý thể hiện ở các khu vực sân sau của chùa: Bếp ăn, nhàở Ngay cả những công trình chính của di tích như: Đình, Tao Bảo, nhà Tổ đềuchưa được quan tâm đúng mức
- Các dự án thực hiện nhỏ lẻ, phục vụ mục tiêu ngắn hạn, thiếu sự đầu tưđồng bộ, dài hạn nên đến thời điểm trước tháng 10/1014, tình trạng kỹ thuật chungvà các công trình đã xuống cấp hết sức nghiêm trọng: hạ tầng kỹ thuật (điện, nước,phòng cháy chữa cháy, phòng chống mối mọt, ), các công trình kiến trúc ( NghiMôn, đình, Nhà Tổ, Nhà Mẫu, )
Trang 342.2.2 Dự án tu bổ, tôn tạo cụm di tích năm 2014
2.2.2.1 Quy mô và tổng mức đầu tư dự án
Tổng chi phí: 7.619.815.000 Việt Nam đồng, trích từ nguồn ngân sách quậnHai Bà Trưng, thành phố Hà Nội
Chi phí xây dựng: 6.352.320.227 Việt Nam đồng
Chi phí quản lý dự án: 145.756.875 Việt Nam đồng
Chi phí tư vấn đầu tư xây dựng: 370.124.290 Việt Nam đồng
Chi phí khác của dự án: 58.903.333 Việt Nam đồng
Dự phòng chi phí: 692.710.473 Việt Nam đồng
2.2.2.2 Kế hoạch thực hiện dự án
2.2.2.2.1 Kế hoạch thực hiện dự án
Cơ quan quyết định đầu tư: Ủy ban nhân dân quận Hai Bà Trưng
Chủ đầu tư: Ban Quản lý dự án quận Hai Bà Trưng
Cơ quan tư vấn lập báo cáo thiết kế kĩ thuật: Viện Bảo tồn di tích
Cơ quan thực hiện dự án: Công ty cổ phần Tu bổ di tích và thiết bị văn hóatrung ương
2.2.2.2.2 Tiến độ thực hiện dự án
Chuẩn bị đầu tư: quý III/2013
Thực hiện đầu tư: trong vòng 180 ngày tính từ tháng 10năm 2014
2.2.2.3 Căn cứ pháp lý lập dự án
- Luật Xây dựng sô 16/2013/QH11 ngày 26/11/2003 của Quốc hội;
- Luật Di sản văn hóa số 28/2001-QH10 ngày 29/6/2001 và Luật di sản vănhóa sửa đổi số 32/2009/QH12 ngày 28/6/2009;
- Luật Đấu thầu số 61/2005/QH11 ngày 29/11/2005 của Quốc hội; Nghị định
số 85/2009/NĐ-CP ngày 15/10/2009 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Đấuthầu và lựa chọn nhà thầu xây dựng theo luật Xây dựng; Nghị định số 68/2012/NĐ-
CP ngày 12/9/2012 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung Nghị định số 85/2009/NĐ-CP;
- Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật liên quan đến đầu tư xâydựng cơ bản số 38/2009/QH12 ngày 19/6/2009 của Quốc hội;
- Một số nghị định liên quan như: nghị định số 52/1999/NĐ-CP, nghị định số12/2000/NĐ-CP, nghị định số 07/2003/NĐ-CP, nghị định số 52/1999/NĐ-CP vềquy chế quản lý đầu tư và xây dựng của Chính phủ; nghị định số 15/2013/NĐ-CPcủa Chính phủ về quản lý chất lượng công trình xây dựng; nghị định 12/2009/NĐ-
CP của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình; nghị định số12/2009/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình; nghịđịnh số 112/2009/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý chi phí đầu tư xây dựng côngtrình; nghị định số 98/2010/ NĐ-CP của Chính phủ hướng dẫn Luật di sản văn hóavà Luật di sản văn hóa sửa đổi; nghị định số 70/2012/NĐ-CP của Chính phủ về việc
Trang 35quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập, phê duyệt quy hoạch, dự án bảo quản, tu
bổ, phục hồi di tích – văn hóa, danh lam thắng cảnh; nghị định số 29/2011/NĐ-CPcủa Chính phủ quy định về đánh giá môi trừng chiến lược, đánh giá tác động môitrường, cam kết bảo vệ môi trường;
- Một số Thông tư liên quan bao gồm: Thông tư số 04/2010/TT-BXD của BộXây dựng hướng dẫn lập và quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình; Thông tư số18/2012/TT-BVHTTDL của Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch quy định chi tiết một
số quy định về bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích;
- Quyết định số 96/QĐ-UBND ngày 11/1/2010 của UBND thành phố Hà Nội
về việc phê duyệt chủ trương đầu tư dự án Tu bổ, tôn tạo cụm di tích Đình – Đền –Chùa Hai Bà Trưng, quận Hai Bà Trưng;
- Một số công văn liên quan: công văn số 3471/BVHTTDL-DSVH của BộVăn hóa Thể thao và Du lịch về việc thỏa thuận dự án tu bổ, tôn tạo di tích đền HaiBà Trưng gồm Đình – Đền – Chùa – Miếu, quận Hai Bà Trưng thành phố Hà Nội;Công văn số 610/UBND-TCKH của UBND quận Hai Bà Trưng về việc giao nhiệm
vụ thực hiện đầu tư xây dựng hạ tầng trong khuôn viên Đình – Đền – Chùa Hai BàTrưng (thuộc dự án Tu bổ, tôn tạo cụm di tích Đình, Đền, Chùa Hai Bà Trưng),phường Đồng Nhân
2.2.2.4 Căn cứ khoa học lập dự án
- Căn cứ hồ sơ lý lịch cụm di tích đình, đền, chùa Hai Bà Trưng do BanQuản lý dự án quận Hai Bà Trưng cung cấp
- Căn cứ hồ sơ khảo sát hiện trạng do các cán bộ kỹ thuật Viện Bảo tồn ditích thực hiện tháng 07 năm 2013
2.3 Nội dung đầu tư, tu bổ, tôn tạo và phát huy giá trị di tích
2.3.1 Mục tiêu bảo tồn, tôn tạo di tích
- Duy trì sự tồn tại lâu dài của di tích trong những điều kiện tự nhiên và môitrường xã hội hiện tại và tương lai
- Bảo tồn các thành phần và cấu trúc của di tích với tất cả những đặc điểmvốn có của nó, đồng thời bảo tồn hệ giá trị của di tích đã được xác định
- Trả lại trong mức độ có thể những mất mát của di tích để đảm bảo tính toànvẹn tương đối của di tích
- Tôn tạo nhằm phục vụ tốt hơn các hoạt động tâm linh diễn ra tại di tích,góp phần nâng cao và phát huy tốt nhất giá trị của di tíchtrong cuộc sống đô thịđương đại và tương lai
2.3.2 Định hướng bảo tồn tôn tạo di tích
- Xác định và có giải pháp loại bỏ hoặc giảm thiểu các tác nhân gây hại cho
di tích và tổng thể di tích
Trang 36- Bảo tồn các nhân tố gốc cấu thành di tích bằng các giải pháp kỹ thuật, duytrì sự bền vững và sự tồn tại lâu dài của di tích trong những điều kiện tự nhiên và xãhội hiện tại và tương lai.
- Loại bỏ những sai lệch, khôi phục những mất mát (trong mức độ có thể) đểbộc lộ và phát huy những đặc điểm giá trị vốn có của di tích
- Điều chỉnh hoặc loại bỏ các thành phần ảnh hưởng xấu đến đặc điểm, giá trịcủa di tích, những yếu tố tác động xấu đến cảnh quan, môi trường và không an toàncho người sử dụng
2.3.3 Một số quan điểm, nguyên tắc đối với việc bảo tồn, tôn tạo cụm di tích
- Tôn trọng các nhân tố cấu thành tồng thể di tích, kể cả những biến đổi, bổsung trong quá trình tồn tại của di tích, không gây xáo trộn, thay đổi nhiều trong tu
bổ di tích
- Điều chỉnh hoặc loại bỏ các thành phần ảnh hưởng xấu đến đặc điểm, giá trịcủa di tích, những yếu tố tác động xấu đến cảnh quan, môi trường và không an toàncho người sử dụng
2.3.4 Phạm vi của dự án
Căn cứ vào thực trạng công trình và nhu cầu cấp bách thực tế, dự án ưu tiêntập trung tu bổ, tôn tạo hạng mục hạ tầng trong khuôn viên đình, đền, chùa (phíangoài các công trình hiện trạng) nhằm tu bổ, tôn tạo các hiện vật đang xuống cấp,tăng giá trị sử dụng của di tích, đặc biệt tạo cảnh quan, không gian sinh hoạt phục
vụ cho các hoạt động sinh hoạt văn hóa – xã hội tập thể
2.4 Đánh giá tác động của dự án tu bổ, tôn tạo cụm di tích Đình – Đền – Chùa Hai Bà Trưng
2.4.1 Mô tả phương pháp khảo sát, thu thập số liệu
2.4.1.1 Mục đích khảo sát
Khảo sát ý kiến cộng đồng nhằm thu thập những thông tin cần thiết để đánhgiá tác động của dự án Tu bổ, tôn tạo cụm di tích Đình – Đền – Chùa Hai Bà Trưngnhằm thu thập những thông tin cần thiết, tạo cơ sở đánh giá tác động của dự án đếncác hoạt động văn hóa, xã hội, kinh tế và môi trường trong khuôn viên cụm di tíchnói riêng và khu vực lân cận nói chung
2.4.1.2 Đối tượng và phạm vi điều tra
- Đối tượng điều tra: 100 phiếu cho 100 người chịu sự ảnh hưởng trựctiếp từ dự án, thu lại 70 phiếu và có 50 phiếu đạt yêu cầu (gồm những phiếu màngười tham gia trả lời trên 70% câu hỏi) bao gồm 30 người dân sinh sống xungquanh di tích chiếm 60%; 5 người cán bộ quản lý địa phương chiếm 10%; 3 sư thầy,
Trang 37sư cô và người trực tiếp quản lý trong di tích chiếm 6%; 8 người kinh doanh xungquanh di tích chiếm 16%, 4 khách du lịch chiếm 8%.
- Phạm vi điều tra: trong và xung quanh khuôn viên cụm di tích Đình –Đền – Chùa Hai Bà Trưng, phường Đồng Nhân, quận Hai BàTrưng
2.4.1.3 Thời kỳ điều tra và thời gian thu thập thông tin
- Điều tra thu thập thông tin về tác động của dự án Tu bổ, tôn tạo cụm
di tích Đình – Đền – Chùa Hai Bà Trưng đến các hoạt động văn hóa, xã hội, kinhtế, môi trường đô thị thông qua đánh giá của cộng đồng trước và sau khi hoàn thànhdự ántừ năm 2014 đến 5 tháng đầu năm 2015
- Điều tra thu thập thông tin về về tác động của dự án Tu bổ, tôn tạocụm di tích Đình – Đền – Chùa Hai Bà Trưng đến các hoạt động văn hóa, xã hội,kinh tế, môi trường đô thị trong 10 ngày từ ngày 1/5/2015 đến 10/5/2015
2.4.1.4 Nội dung điều tra
Các câu hỏi sẽ liên quan đến sự đánh giá của người dân về tác động của dựán Tu bổ, tôn tạo cụm di tích Đình – Đền – Chùa Hai Bà Trưng đến các hoạt độngvăn hóa, xã hội, kinh tế, môi trường đô thị, bao gồm các nội dung:
Sự hiểu biết của cư dân về dự án
Sự quan tâm của cư dân đối với dự án
Đánh giá về sự thay đổi của cụm di tích
Mức độ đáp ứng được kì vọng của cư dân sau khi hoàn thành dự án
Sự tác động trực tiếp đến hoạt động thường ngày của cư dân sau khi hoànthành dự án
Đánh giá của người dân về mức độ tác động của dự án đến văn hóa đô thị
Đánh giá của người dân về mức độ tác động của dự án đến xã hội đô thị
Đánh giá của người dân về mức độ tác động của dự án đến kinh tế đô tị
Đánh giá của người dân về sự tác động của dự án đến môi trường đô thị
Trang 382.4.2 Mô tả kết quả khảo sát
2.4.2.1 Tác động của dự án đến hoạt động văn hóa đô thị
Thực hiện và hoàn thành dự án Tu bổ, tôn tạo cụm di tích Đình – Đền –Chùa Hai Bà Trưng đã tác động tích cực đến các hoạt động lễ hội truyền thống gắnvớn cụm di tích
(Nguồn: Khảo sát thực tế)
trung bình
1 1 Dự án tác động làm tăng lượng
khách đến lễ phật trong những ngày 1
và 15 âm lịch hàng tháng
2 2 Dự án tác động làm tăng lượng
3 3 Dự án tác động làm tăng lượng
người tham gia lễ hội truyền thống
(6/2 ÂL)
4 4 Dự án tác động tăng số lượng và
chất lượng các chương trình sinh hoạt
văn hóa
Bảng 1 Tác động của dự án Tu bổ, tôn tạo cụm di tích Đình – Đền – Chùa Hai
Bà Trưng đến các hoạt động văn hóa đô thị theo đánh giá của cộng đồng
Thực hiện khảo sát ý kiến cộng đồng về tác động của dự án đến các hoạtđộng văn hóa đô thị gắn với cụm di tích này, ta được kết quả thể hiện ở bảng trên.Theo thang điểm từ 1 đến 5 (từ hoàn toàn không đồng ý đến hoàn toàn đồng ý),nhìn chung mọi người đều thống nhất dự án này có nhiều tác động tích cực đối vớihoạt động văn hóa đô thị (hầu hết đạt thang điểm xấp xỉ 4) với thang điểm trungbình là 3,84 xấp xỉ 4 (đồng ý) Trong đó, tiêu chí đạt sự đồng thuận lớn nhất vớimức điểm cao nhất là tiêu chí làm gia tăng lượng khách đến lễ phật trong nhữngngày 1 và 15 âm lịch hàng tháng, với mức điểm trung bình là 4,11 (trên mức đồngý) Và tiêu chí đạt sự đồng thuận ít nhất là tiêu chí dự án tác động tăng số lượng vàchất lượng các chương trình sinh hoạt văn hóa với mức điểm trung bình là 3,28
Sự thống nhất trên thể hiện cụ thể qua các tiêu chí sau:
Trang 39Thứ nhất, tác động tích cực của dự án đến hoạt động sinh hoạt tín ngưỡngthường nhật gắn với cụm di tích Đây là tiêu chí đạt mức đồng thuận cao nhất trongkhuôn khổ cuộc điều tra này về tiêu chí tác động của dự án đến hoạt động văn hóa
đô thị (dạt 4,11 điểm)
Trong khuôn viên của cụm di tích, hàng tháng có tổ chức hoạt động tâm linhtheo phong tục người Việt Nam thường đi lễ vào ngày 1 và 15 âm lịch, cầu bình an,ngoài ra có các hoạt động tín ngưỡng khác thu hút sự tham gia của đông đảo cộngđồng cư dân đô thị sinh sống trong khu vực xung quanh di tích Thường ngày, dukhách đến tham quan di tích trong khoảng thời gian từ 7h30 đến 11h vào buổi sángvà 13h30 đến 17h30 vào các buổi chiều trong những ngày thường, còn vào nhữngdịp lễ mồng 1 và 15 âm lịch hàng tháng, du khách có thể đến tham quan, lễ phật từ7h30 đến 21h cùng ngày Sau khi dự án tu bổ, tôn tạo cụm di tích hoàn thành vàcụm di tích mở cửa đón tiếp du khách, lượng du khách cũng như cư dân đô thị sinhsống khu vực quanh cụm di tích và cư dân trong địa bàn quận Hai Bà Trưng thườngxuyên đi lễ vào những dịp này hơn trước
Chị Trần Thanh Mai (25 tuổi) cho biết gần đây do chính quyền tu bổ, tôn tạocụm di tích nên cụm di tích thay đổi rất nhiều, được trang hoàng đẹp hơn, tu sửa vàhoàn thiện, thu hút nhiều người đến tham quan hơn trước Nhiều người sống trongkhu vực chị sống thường rủ chị đi lễ chùa vào những ngày mồng 1 và 15 hàng thángcụm di tích tuy chị sống ở cách cụm di tích gần 5km nhưng dần dà tháng nào chịcũng đến đi lễ ở cụm di tích
Trụ trì chùa Hai Bà Trưng - sư cô Thích Đàm Vinh cho biết, trong 4 thángđầu năm 2015, ngay sau khi hoàn thành dự án tu bổ, tôn tạo cụm di tích, cụm di tíchtiến hành mở cửa đón tiếp phật tử và du khách đến tham quan, đi lễ thì lượng dukhách và cư dân sống xung quanh cụm di tích tăng lên đáng kể, từ 60% đến 150%.Và lượng khách du lịch, người dân đến lễ phật có xu hướng tăng lên theo thời gian,nhiều phật tử lần đầu đến lễ phật ở cụm di tích ra về còn chỉ cho người thân bạn bèđến đây lễ phật
Ngoài ra vào dịp đầu năm cũng là mùa chính diễn ra các lễ hội lớn Bởi vậymà thời gian từ tháng 1 đến tháng 3 âm lịch là thời điểm thu hút một lượng lớnkhách du lịch trong nước đến tham quan cụm di tích.Đây là các hoạt động thườngxuyên được tổ chức ở cụm di tích Tuy nhiên, sau khi dự án tu bổ, tôn tạo cụm ditích này hoàn thành, các hoạt động sinh hoạt tín ngưỡng được tổ chức thường xuyênhơn, công tác tổ chức được chú trọng hơn, vì thế thu hút nhiều hơn sự tham gia,hưởng ứng của cư dân đô thị và du khách đến tham quan cụm di tích
Thứ hai, tác động tích cực của dự án đến lễ hội truyền thống được tổ chứchàng năm trong khuôn viên cụm di tích Đây là tiêu chí đạt mức đồng thuận khácao, với mức điểm là 3,98 (tiệm cận mức đồng ý)