1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác xác định giá trị doanh nghiệp phục vụ cổ phần hóa tại công ty cổ phần tư vấn – dịch vụ về tài sản – bất động sản datc (dcsc

115 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác xác định giá trị doanh nghiệp phục vụ cổ phần hóa tại công ty cổ phần tư vấn – dịch vụ về tài sản – bất động sản datc (dcsc
Trường học Học viện Tài chính
Chuyên ngành Kế toán - Tài chính
Thể loại Báo cáo khoa học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 700,02 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1 MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 6 CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP PHỤC VỤ CỔ PHẦN HÓA 9 1 Vai trò của xác định giá trị doanh nghiệp phục vụ cổ phần hóa 9 1 1 Khái niệ[.]

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 6

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP PHỤC VỤ CỔ PHẦN HÓA 9

1 Vai trò của xác định giá trị doanh nghiệp phục vụ cổ phần hóa 9

1.1 Khái niệm cơ bản về doanh nghiệp 9

1.2 Khái niệm cơ bản trong xác định giá trị doanh nghiệp 10

1.3 Vai trò của xác định giá trị doanh nghiệp phục vụ cổ phần hóa 16

2 Phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp phục vụ cổ phần hóa 17

2.1 Phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp theo giá trị tài sản 17

2.2 Phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp dựa trên thu nhập 24

2.3 Phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp theo cơ sở so sánh giá trị thị trường 35

3 Các chuyên đề nghiên cứu về công tác xác định giá trị doanh nghiệp phục vụ cổ phần hóa 37

3.1 Tóm tắt và đánh giá nội dung của các chuyên đề 37

3.2 Kinh nghiệm rút ra 40

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VỀ CÔNG TÁC XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP PHỤC VỤ CỔ PHẦN HÓA TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TƯ VẤN – DỊCH VỤ VỀ TÀI SẢN – BẤT ĐỘNG SẢN DATC (DCSC) 42

1 Giới thiệu chung về Công ty Cổ phần Tư vấn – Dịch vụ về Tài sản – Bất động sản DATC (DCSC) 42

1.1 Thông tin chính về công ty 42

1.2 Quá trình hình thành và phát triển 43

Trang 2

1.3 Các lĩnh vực dịch vụ kinh doanh 44

1.4 Tổ chức bộ máy 46

1.5 Năng lực công ty 47

1.6 Một số sản phẩm dịch vụ tư vấn tiêu biểu đã thực hiện 48

1.7 Định hướng phát triển 56

2 Thực trạng về công tác xác định giá trị doanh nghiệp phục vụ cổ phần hóa tại Công ty Cổ phần Tư vấn – Dịch vụ về Tài sản – Bất động sản DATC (DCSC) 59

2.1 Phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp 59

2.1.1 Phương pháp tài sản 62

2.1.1.1 Đối tượng áp dụng 62

2.1.1.2 Giá trị thực tế của Doanh nghiệp 62

2.1.1.3 Xác định giá trị thực tế phần vốn Nhà nước tại Doanh nghiệp: 67

2.1.2 Phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp theo dòng tiền chiết khấu (DCF) 67

2.1.2.1 Đối tượng áp dụng 67

2.1.2.2 Căn cứ xác định 67

2.1.2.3 Xác định giá trị thực tế phần vốn Nhà nước tại doanh nghiệp 68

2.1.2.4 Phần chênh lệch tăng giữa vốn Nhà nước thực tế để cổ phần hóa với vốn Nhà nước ghi trên sổ kế toán: 69

2.1.2.5 Giá trị thực tế của Doanh nghiệp: 70

2.2 Quy trình xác định giá trị doanh nghiệp 70

3 Những hạn chế trong công tác xác định giá trị doanh nghiệp tại Công ty Cổ phần Tư vấn – Dịch vụ về Tài sản – Bất động sản DATC (DCSC) 74

3.1 Phương pháp định giá không bao quát hết các loại hình doanh nghiệp có các đặc điểm kinh tế kỹ thuật khác nhau 74

Trang 3

3.2 Kỹ thuật định giá còn quá đơn giản và khó chính xác 74

3.3 Thiếu hệ thống phương pháp luận định giá doanh nghiệp và chuyên gia lành nghề 75

3.4 Thiếu thông tin thị trường 76

CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP PHỤC VỤ CỔ PHẦN HÓA TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TƯ VẤN – DỊCH VỤ VỀ TÀI SẢN – BẤT ĐỘNG SẢN DATC (DCSC) 77

1 Nhóm giải pháp hoàn thiện phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp phục vụ cổ phần hóa 77

1.1 Hoàn thiện các phương pháp định giá hiện nay 77

1.1.1 Hoàn thiện phương pháp định giá theo giá trị tài sản 77

1.1.1.1 Hoàn thiện phương pháp định giá tài sản hữu hình 77

1.1.1.2 Hoàn thiện phương pháp định giá tài sản vô hình 79

1.1.2 Hoàn thiện phương pháp dòng tiền chiết khấu (DCF) 82

1.1.2.1 Ước tính chính xác dòng tiền trong tương lai của doanh nghiệp 82

1.1.2.2 Hoàn thiện phương pháp DCF khi xem xét các yếu tố có liên quan đến TSCĐ vô hình 88

1.2 Phối hợp các phương pháp định giá hiện hành 92

1.3 Áp dụng đa dạng các phương pháp định giá doanh nghiệp 92

2 Giải pháp cho quy trình xác định giá trị doanh nghiệp 97

2.1 Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu tham chiếu phục vụ cho công tác định giá doanh nghiệp 97

2.2 Lành mạnh hóa tài chính và xử lý tồn đọng trước khi định giá doanh nghiệp.98 3 Giải pháp khác 100

Trang 4

3.1 Đầu tư nguồn nhân lực về thẩm định giá bằng các hình thức đào tạo trong

nước và nước ngoài 100

3.2 Tích cực tham gia các cuộc hội thảo trong nước và nước ngoài về nghiệp vụ chuyên môn thẩm định giá 100

3.3 Thiết lập dịch vụ trọn gói về việc định giá gắn với tư vấn phát hành, niêm yết, giao dịch trên thị trường chứng khoán 101

3.4 Mua bảo hiểm nghề nghiệp cho thẩm định viên 101

KẾT LUẬN 102

PHỤ LỤC 103

1 Ví dụ phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp theo giá trị tài sản 103

2 Ví dụ phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp dựa trên thu nhập 105

3 Ví dụ phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp theo cơ sở so sánh giá thị trường .111

TÀI LIỆU THAM KHẢO 113

Trang 5

DANH MỤC TỪ NGỮ VIẾT TẮT

Công ty Cổ phần Tư vấn – Dịch vụ về Tài sản – DCSCBất động sản DATC

Trang 6

LỜI MỞ ĐẦU

Những năm đầu của thế kỷ 21 cũng là những năm đánh dấu bước chuyển biếnmới trong quá trình chuyển đổi sở hữu của các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam Đểbắt kịp với xu hướng của thế giới và cũng nhằm mục đích cải tổ sản xuất, nâng caohiệu quả kinh doanh, Đảng và Nhà nước chủ trương khuyến khích chuyển đổi cácCông ty Nhà nước thành Công ty cổ phần Sự ra đời của các Công ty cổ phần kéo theodịch vụ tư vấn xác định giá trị doanh nghiệp và tư vấn cổ phần hóa cũng phát triểnmạnh mẽ Thấy rõ tầm quan trọng của việc xác định giá trị doanh nghiệp để cổ phầnhóa doanh nghiệp nhà nước, Chính phủ đã ban hành Nghị Định 64/2002/NĐ-CP ngày

19 tháng 6 năm 2002 về việc chuyển đổi Công ty nhà nước thành công ty cổ phần đểquy định những vấn đề liên quan đến cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước.Từ đó đếnnay, Chính phủ đã hai lần sửa đội Nghị định này qua các Nghị định 187/2004/NĐ-CP

và 109/2007/NĐ-CP, cùng các thông tư hướng dẫn thực hiện

Công ty Cổ phần Tư vấn – Dịch vụ về Tài sản – Bất động sản DATC (DCSC) làmột trong những công ty đầu tiên trong lĩnh vực tư vấn, dịch vụ về tài chính, tài sản,bất động sản ở Việt Nam Thấy được những tiềm năng trong thị trường dịch vụ xácđịnh giá trị doanh nghiệp, DCSC đã có những chính sách tích cực nhằm nâng cao chấtlượng dịch vụ này; và hiện nay, dịch vụ xác định giá trị doanh nghiệp đóng góp mộtphần đáng kể vào doanh thu hàng năm của Công ty Tuy vậy, vì là một dịch vụ mớinên bên cạnh những thành quả đạt được, thực trạng xác định giá trị doanh nghiệp ởViệt Nam nói chung và do DCSC thực hiện nói riêng cũng còn nhiều khó khăn vàthách thức

Xuất phát từ vấn đề này mà em quyết định chọn đề tài cho chuyên đề tốt nghiệp là:

“Công tác xác định giá trị doanh nghiệp phục vụ cổ phần hóa tại Công ty Cổ phần

Tư vấn – Dịch vụ về Tài sản – Bất động sản DATC”.

Trang 7

1 Mục tiêu nghiên cứu

- Nghiên cứu tổng quan về công tác xác định giá trị doanh nghiệp phục vụ

cổ phần hóa Từ đó cho thấy sự cần thiết của công tác xác định giá trị doanh nghiệptrong quá trình cổ phần hóa

- Nghiên cứu thực trạng về công tác xác định giá trị doanh nghiệp phục vụ cổ

phần hóa tại Công ty DCSC

- Đề xuất những biện pháp để nâng cao hiệu quả và hoàn thiện công tác xác địnhgiá trị doanh nghệp tại Công ty DCSC, góp phần đẩy mạnh công tác cổ phần hóa ởViệt Nam

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác xác định giá trị doanh nghiệp tạiCông ty Cổ phần Tư vấn – Dịch vụ về Tài sản – Bất động sản DATC (DCSC)

- Phạm vi nghiên cứu của đề tài là công tác xác định giá trị doanh nghiệp phục vụmục đích cổ phần hóa từ năm 2005 đến nay

3 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu vận dụng xuyên suốt trong đề tài này là phương phápluận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử kết hợp với các phương pháp nghiệp vụ đểkhảo cứu, phân tích, đánh giá, kế thừa có chọn lọc và hệ thống Cụ thể:

- Bước 1: thu thập, chọn lọc thông tin, tài liệu có liên quan đến lĩnh vực cầnnghiên cứu trong đề tài

- Bước 2: tập hợp, xử lý dữ liệu, kết hợp kiến thức đã học và thực tiễn để thựchiện nội dung đề tài

Ngoài ra, các phương pháp và kỹ thuật cụ thể sau đây cũng được vận dụng để lýgiải về đề xuất các ý kiến hoàn thiện như: phương pháp phân tích tổng hợp, đốichiếu, so sánh

Trang 8

4 Bố cục đề tài

Đề tài này gồm 3 chương:

Chương I: Tổng quan về công tác xác định giá trị doanh nghiệp phục vụ cổ phần hóa Chương II: Thực trạng về công tác xác định giá trị doanh nghiệp tại

Công ty Cổ phần Tư vấn – Dịch vụ về Tài sản – Bất động sản DATC

Chương III: Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác xác định giá trị doanh nghiệp tại

Công ty Cổ phần Tư vấn – Dịch vụ về Tài sản – Bất động sản DATC

Em xin chân thành cảm ơn sự chỉ bảo tận tình của PGS.TS Vũ Trí Dũng cùng toànthể các anh chị nhân viên Công ty Cổ phần Tư vấn – Dịch vụ về Tài sản – Bất động sảnDATC đã tạo điều kiện tốt nhất cho em hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp của mình

Trang 9

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ

DOANH NGHIỆP PHỤC VỤ CỔ PHẦN HÓA

1 Vai trò của xác định giá trị doanh nghiệp phục vụ cổ phần hóa

1.1 Khái niệm cơ bản về doanh nghiệp

Doanh nghiệp và doanh nghiệp nhà nước:

- Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổnđịnh, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiệncác hoạt động kinh doanh

- Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp trong đó Nhà nước sở hữu trên 50%vốn điều lệ

Công ty cổ phần:

Theo Luật Doanh nghiệp số 60/2005/QH11 do Quốc hội nước Cộng hòa Xã hộiChủ nghĩa Việt Nam ban hành, khóa XI, kỳ họp thứ 8; công ty cổ phần là doanhnghiệp, trong đó:

- Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần;

- Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và khônghạn chế số lượng tối đa;

- Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác củadoanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp;

- Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừtrường hợp:

+ Cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết không được chuyển nhượng cổphần đó cho người khác

+ Trong thời hạn ba năm, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng kýkinh doanh, cổ đông sáng lập có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần phổ thông của

Trang 10

mình cho cổ đông sáng lập khác, nhưng chỉ được chuyển nhượng cổ phần phổ thôngcủa mình cho người không phải là cổ đông sáng lập nếu được sự chấp thuận của Đạihội đồng cổ đông.

Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn

Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước

Doanh nghiệp Nhà nước chuyển thành Công ty cổ phần (hay còn gọi là cổ phần hoádoanh nghiệp nhà nước) là một biện pháp chuyển doanh nghiệp từ sở hữu Nhà nướcsang hình thức sở hữu nhiều thành phần, gồm sở hữu Nhà nước(hoặc có thể không tồntại) và sở hữu các thành phần kinh tế khác nhằm huy động rộng rãi các nguồn vốn chođầu tư phát triển sản xuất, thúc đẩy quá trình xử lý và khắc phục những tồn tại hiệnthời của doanh nghiệp Nhà nước, tạo điều kiện cho người lao động thực sự làm chủdoanh nghiệp và nâng cao hơn hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

1.2 Khái niệm cơ bản trong xác định giá trị doanh nghiệp

Thẩm định giá

Theo giáo sư W.Seabrooke - Viện đại học Portsmouth, Vương quốc Anh: “Thẩmđịnh giá là sự ước tính giá trị của các quyền sở hữu tài sản cụ thể bằng hình thái tiền tệcho một mục đích đã được xác định”

Theo Pháp lệnh của Ủy ban thường vụ Quốc hội số 40/2002/PL-UBTVQH10 ngày10/05/2002 về giá: Thẩm định giá là việc đánh giá hoặc đánh giá lại giá trị của tài sảnphù hợp với thị trường tại một địa điểm, thời điểm nhất định theo tiêu chuẩn của ViệtNam hoặc thông lệ quốc tế

Cơ sở thẩm định giá

Thẩm định giá tài sản dựa trên hai cơ sở giá trị: giá trị thị trường và giá trị phi thịtrường

- Giá trị thị trường: Làm cơ sở cho thẩm định giá tài sản

Giá trị thị trường của một tài sản là mức giá ước tính sẽ được mua bán trên thịtrường vào thời điểm thẩm định giá và được ác định giữa một bên là người mua sẵn

Trang 11

sàng mua và một bên là người bán sẵn sàng bán; trong một giao dịch mua bán kháchquan và độc lập, trong điều kiện thương mại bình thường.

+ “Giá trị thị trường của một tài sản là mức giá ước tính sẽ được mua bán trênthị trường ” là số tiền ước tính để tài sản có thể được mua, bán trên thị trường trongđiều kiện thương mại bình thường mà sự mua bán đó thoả mãn những điều kiện của thịtrường tại thời điểm thẩm định giá

+ "Thời điểm thẩm định giá " là ngày, tháng, năm cụ thể khi tiến hành thẩmđịnh giá, được gắn với những yếu tố về cung, cầu, thị hiếu và sức mua trên thị trườngkhi thực hiện thẩm định giá tài sản

+ "Giữa một bên là người mua sẵn sàng mua " là người đang có khả năngthanh toán và có nhu cầu mua tài sản

+ "Và một bên là người bán sẵn sàng bán " là người bán đang có quyền sở hữutài sản (trừ đất), có quyền sử dụng đất có nhu cầu muốn bán tài sản với mức giá tốtnhất có thể được trên thị trường

+ “Điều kiện thương mại bình thường” là việc mua bán được tiến hành khi cácyếu tố cung, cầu, giá cả, sức mua không xảy ra những đột biến do chịu tác động củathiên tai, địch họa; nền kinh tế không bị suy thoái hoặc phát triển quá nóng…; thông tin

về cung, cầu, giá cả tài sản được thể hiện công khai trên thị trường

- Giá trị phi thị trường

Hoạt động thẩm định giá phần lớn dựa trên cơ sở giá trị thị trường, tuy nhiên cónhững loại tài sản riêng biệt, mục đích thẩm định giá riêng biệt đòi hỏi thẩm định giáphải dựa trên cơ sở giá trị phi thị trường Cần phải phân biệt rõ sự khác nhau giữa giátrị thị trường và giá trị phi thị trường để đảm bảo đưa ra kết quả thẩm định giá kháchquan

Giá trị phi thị trường của tài sản là mức giá ước tính được xác định theo nhữngcăn cứ khác với giá trị thị trường hoặc có thể được mua bán, trao đổi theo các mức giákhông phản ánh giá trị thị trường như giá trị tài sản đang trong quá trình sử dụng, giátrị đầu tư, giá trị bảo hiểm, giá trị đặc biệt, giá trị thanh lý, giá trị tài sản bắt buộc phải

Trang 12

bán, giá trị doanh nghiệp, giá trị tài sản chuyên dùng, giá trị tài sản có thị trường hạnchế, giá trị để tính thuế

Việc đánh giá giá trị tài sản theo giá trị phi thị trường được căn cứ chủ yếu vàocông dụng kinh tế, kỹ thuật hoặc các chức năng của tài sản hơn là căn cứ vào khả năngđược mua bán trên thị trường của tài sản đó Hai loại giá trị phi thị trường cơ bản trongđịnh giá doanh nghiệp là giá trị doanh nghiệp và giá trị đầu tư

+ Giá trị doanh nghiệp là giá trị toàn bộ tài sản của doanh nghiệp Giá trị củamỗi tài sản cấu thành tổng tài sản của doanh nghiệp không thể tách rời nhau và cũngkhông thể thẩm định trên cơ sở giá trị thị trường

Giá trị doanh nghiệp phải được xem xét trên tổng thể tài sản, không phải là giátrị của từng tài sản riêng rẽ, bao gồm tài sản hữu hình và tài sản vô hình Một tài sảnnếu để riêng biệt có thể không phát huy giá trị sử dụng nhưng khi kết hợp với một tàisản khác lại có thể phát huy giá trị sử dụng của chính tài sản đó Giá trị của từng tài sảnriêng rẽ được xác định dựa trên phần đóng góp của tài sản đó vào hoạt động của toàn

bộ doanh nghiệp nên không liên quan đến thị trường, không tính đến giá trị sử dụng tối

ưu và tốt nhất của tài sản đó cũng như số tiền mà tài sản đó mang lại khi được mang rabán

Giá trị tài sản đang trong quá trình sử dụng của doanh nghiệp có xu hướng caohơn giá trị thị trường của tài sản khi doanh nghiệp đang kinh doanh hiệu quả, thu đượclợi nhuận cao hơn so với doanh nghiệp cùng sản xuất sản phẩm tương tự; ngược lại có

xu hướng thấp hơn giá trị thị trường khi doanh nghiệp kinh doanh kém hiệu quả Giá trịtài sản đang trong quá trình sử dụng cũng có xu hướng cao hơn giá trị thị trường khidoanh nghiệp có bằng sáng chế, giấy phép, hợp đồng sản xuất những sản phẩm đặcbiệt, hoặc doanh nghiệp có uy tín đặc biệt, hoặc các dạng tài sản thuộc sở hữu trí tuệkhác mà các doanh nghiệp cùng loại hình kinh doanh khác không có

+ Giá trị đầu tư là giá trị của một tài sản đối với một hoặc một nhóm nhà đầu tưnào đó theo những mục tiêu đầu tư đã xác định

Trang 13

Giá trị đầu tư là khái niệm mang tính chủ quan liên quan đến những tài sản cụthể đối với một nhà đầu tư riêng biệt, một nhóm các nhà đầu tư hoặc một tổ chức vớinhững mục tiêu hoặc tiêu chí đầu tư xác định Giá trị đầu tư của một tài sản có thể caohơn hoặc thấp hơn giá trị thị trường của tài sản đó Tuy nhiên giá trị thị trường có thểphản ánh nhiều đánh giá cá biệt về giá trị đầu tư của một tài sản cụ thể.

Nguyên tắc thẩm định giá

Giá trị của tài sản được hình thành bởi nhiều yếu tố tác động như giá trị sửdụng, sự khan hiếm, nhu cầu có khả năng thanh toán Bản chất của thẩm định giá tàisản là sự phân tích các yếu tố tác động đến quá trình hình thành giá trị của tài sản cụthể, do đó khi tiến hành thẩm định giá cần tuân theo những nguyên tắc cơ bản sau:

- Nguyên tắc sử dụng tốt nhất và hiệu quả nhất

Việc sử dụng tài sản tốt nhất và có hiệu quả nhất là việc đạt được mức hữu dụngtối đa trong những hoàn cảnh kinh tế - xã hội thực tế phù hợp, có thể cho phép

về mặt kỹ thuật, pháp lý, tài chính và đem lại giá trị lớn nhất cho tài sản

- Nguyên tắc cung - cầu

Giá trị của một tài sản được xác định bởi mối quan hệ cung và cầu của tài sản đótrên thị trường Ngược lại, giá trị của tài sản đó cũng tác động đến cung và cầucủa tài sản Giá trị của tài sản thay đổi tỷ lệ thuận với cầu và tỷ lệ nghịch vớicung của tài sản

- Nguyên tắc thay đổi

Giá trị của tài sản thay đổi theo sự thay đổi của những yếu tố hình thành nên giátrị của nó Giá trị của tài sản cũng được hình thành trong quá trình thay đổi liêntục phản ánh các mối quan hệ nhân quả giữa các yếu tố ảnh hưởng đến giá trị.Bản thân các yếu tố ảnh hưởng đến giá trị luôn luôn thay đổi Do đó, trong thẩmđịnh giá tài sản, cần phải nắm được mối quan hệ nhân quả giữa các nhân tố ởtrạng thái động, phải phân tích quá trình thay đổi nhằm xác định mức sử dụng tàisản tốt nhất và hiệu quả nhất

Trang 14

- Nguyên tắc thay thế

Hình thành giá trị của tài sản thẩm định thường có liên quan đến giá trị của cáctài sản khác có thể thay thế Khi hai tài sản có tính hữu ích như nhau, tài sản nàochào bán ở mức giá thấp nhất thì tài sản đó sẽ bán được trước Giới hạn trên củagiá trị tài sản có xu hướng được thiết lập bởi chi phí mua một tài sản thay thếcần thiết tương đương, với điều kiện không có sự chậm trễ quá mức làm ảnhhưởng đến sự thay thế Một người thận trọng sẽ không trả giá cao hơn chi phímua một tài sản thay thế trong cùng một thị trường và cùng một thời điểm

- Nguyên tắc cân bằng

Các yếu tố cấu thành tài sản cần phải cân bằng để tài sản đạt được khả năngsinh lời tối đa hay mức hữu dụng cao nhất, do đó để ước tính mức sử dụng tốtnhất và hiệu quả nhất của tài sản, cần phải phân tích sự cân bằng

- Nguyên tắc thu nhập tăng hoặc giảm

Tổng thu nhập trên khoản đầu tư tăng lên sẽ tăng liên tục tới một điểm nhấtđịnh, sau đó đầu tư tiếp tục tăng nhưng độ lớn của thu nhập tăng thêm sẽ giảmdần

- Nguyên tắc phân phối thu nhập

Việc phân phối được thực hiện theo nguyên tắc phân phối cho các yếu tố củaquá trình sản xuất là đất đai, vốn, lao động, quản lý

- Nguyên tắc đóng góp

Mức độ mà mỗi bộ phận của tài sản đóng góp vào tổng thu nhập từ toàn bộ tàisản có tác động đến tổng giá trị của tài sản đó Nguyên tắc này là nguyên tắc cơbản trong việc xem xét tính khả thi của việc đầu tư bổ sung vào tài sản khi xácđịnh mức sử dụng tài sản tốt nhất và hiệu quả nhất

- Nguyên tắc tuân thủ

Tài sản cần phải phù hợp với môi trường của nó nhằm đạt được mức sinh lời tối

Trang 15

đa hoặc mức hữu dụng cao nhất; do đó phải phân tích xem liệu tài sản đó cóphù hợp với môi trường hay không khi xác định mức sử dụng tài sản tốt nhất và

có hiệu quả nhất

- Nguyên tắc cạnh tranh

Lợi nhuận cao vượt trội sẽ thúc đẩy cạnh tranh, ngược lại cạnh tranh quá mức

có thể làm giảm lợi nhuận và cuối cùng có thể không còn lợi nhuận Đối với tàisản, mối quan hệ cạnh tranh cũng được xem xét giữa các tài sản với nhau vàgiữa tài sản này với tài sản khác Do đó, giá trị của tài sản được hình thành làkết quả của sự cạnh tranh trên thị trường

- Nguyên tắc dự tính lợi ích tương lai

Giá trị của tài sản có thể được xác định bằng việc dự tính khả năng sinh lợitrong tương lai Do đó, việc ước tính giá trị của tài sản luôn luôn dựa trên cáctriển vọng tương lai, lợi ích dự kiến nhận được từ quyền sử dụng tài sản của

người mua

Giá trị doanh nghiệp

- Giá trị doanh nghiệp theo sổ sách kế toán và giá trị thực tế của doanh nghiệp

Có hai khái niệm giá trị doanh nghiệp là giá trị doanh nghiệp theo sổ sách kế toán

và giá trị thực tế của doanh nghiệp:

+ Giá trị doanh nghiệp theo sổ sách kế toán: là tổng giá trị tài sản thể hiện trongbảng cân đối kế toán của doanh nghiệp theo chế độ kế toán hiện hành

+ Giá trị thực tế của doanh nghiệp: là tổng giá trị thực tế của tài sản (hữu hình

và vô hình) thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp tính theo giá thị trường tạithời điểm xác định giá trị doanh nghiệp

- Giá trị lợi thế kinh doanh của doanh nghiệp

Giá trị lợi thế kinh doanh của doanh nghiệp là giá trị tăng thêm do các yếu tố lợithế tạo ra như vị trí địa lý, thương hiệu, thị trường và thị phần trong nước cũng nhưnước ngoài,… của doanh nghiệp

Trang 16

Giá trị lợi thế kinh doanh của doanh nghiệp là giá trị vô hình, giá trị này càng caokhi doanh nghiệp kinh doanh có lãi và càng thấp khi doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ.Với ý nghĩa đó, giá trị lợi thế kinh doanh có thể bằng không hoặc thậm chí mang giá trị

âm khi doanh nghiệp phá sản

1.3 Vai trò của xác định giá trị doanh nghiệp phục vụ cổ phần hóa

Việt Nam đang tích cực đẩy mạnh công tác cổ phần hoá các doanh nghiệp nhànước nhằm góp phần quan trọng nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của doanhnghiệp; tạo ra loại hình doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu, trong đó có đông đảo ngườilao động; tạo động lực mạnh mẽ và cơ chế quản lý năng động cho doanh nghiệp để sửdụng có hiệu quả vốn, tài sản của nhà nước và của doanh nghiệp

Cổ phần hoá thực chất là việc Nhà nước bán một phần hoặc toàn bộ giá trị hiện cóthuộc phần vốn Nhà nước tại doanh nghiệp cho các cổ đông; hoặc giữ nguyên giá trịthuộc vốn Nhà nước hiện có tại doanh nghiệp và phát hành cổ phiếu thu hút thêm vốn

để phát triển doanh nghiệp Nhưng theo nguyên tắc kế toán, giá trị tài sản của doanhnghiệp được ghi nhận theo giá thực tế tại thời điểm phát sinh nghiệp vụ mua hay nhậptài sản, thông thường giá này thường khác biệt rất nhiều so với giá thị trường tại thờiđiểm cổ phần hoá doanh nghiệp Vì vậy, để cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước,cần thiết phải xác định giá các doanh nghiệp này Mặt khác, giá trị thực tế của doanhnghiệp không phải chỉ là tổng cộng giá trị của các tài sản hiện có trong bảng cân đốicủa doanh nghiệp, mà còn bao gồm cả các giá trị vô hình như lợi thế kinh doanh, giátrị thương hiệu

Hơn nữa, cổ phần hoá giúp nền kinh tế huy động vốn của toàn xã hội để đầu tư đổimới công nghệ, phát triển doanh nghiệp Đồng thời cổ phần hoá còn phát huy vai tròlàm chủ thực sự của người lao động, của cổ đông; tăng cường sự giám sát của nhà đầu

tư với doanh nghiệp Tuy vậy, tiến trình cổ phần hóa hiện nay diễn ra khá chậm vìvướng mắc chủ yếu là làm thế nào định được giá trị doanh nghiệp một các hợp lý vàchính xác Do vậy, để tiến hành cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước cần thiết phảixác định lại giá trị doanh nghiệp cho sát với giá thị trường, làm cơ sở cho việc hìnhthành giá bán cổ phần

Trang 17

2 Phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp phục vụ cổ phần hóa

2.1 Phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp theo giá trị tài sản

2.1.1 Nguyên tắc chung

Nguyên lý chung của phương pháp này là: "Giá trị của một doanh nghiệp bằng vớigiá trị đầu tư cần thiết (hữu hình và vô hình) để lập nên doanh nghiệp đó" Cơ sở cănbản của nguyên lý dựa trên lý luận cho rằng nếu giá trị doanh nghiệp cao hơn giá trịđầu tư cần thiết để xây dựng nên nó, các chủ đầu tư sẽ lựa chọn phương án xây dựngmới doanh nghiệp giống như doanh nghiệp được định giá thay vì mua lại doanh nghiệp

đó

Phương pháp định giá trong nhóm phương pháp định giá theo giá trị tài sản thườngđược sử dụng hiện nay là phương pháp giá trị tài sản ròng (net asset value method).Theo phương pháp này, giá trị của doanh nghiệp bằng với giá trị trường của toàn bộ tàisản trừ đi giá thị trường của tất cả các khoản nợ của doanh nghiệp

Phương pháp giá trị tài sản ròng chủ yếu được sử dụng để kiểm tra chéo cácphương pháp khác, nếu như có sự khác biệt đáng kể giữa kết quả định giá doanhnghiệp theo phương pháp chiết khấu dòng tiền thì lý do của sự khác biệt đó phải đượckiểm tra và đối chiếu để tìm ra nguyên nhân gây ra sự khác nhau đó

Nếu định giá dựa trên phương pháp chiết khấu dòng tiền thấp hơn đáng kể so vớigiá trị tài sản thì điều này có thể là do việc quản lý của công ty kém, điều kiện kinhdoanh của ngành bị suy yếu hoặc có thể do tỷ suất chiết khấu được lựa chọn không hợp

lý hoặc tài sản đã được đánh giá vượt giá trị Tuy nhiên, phương pháp định giá theo giátrị tài sản ròng có thể coi như là một phương pháp định giá cơ bản trong một số tìnhhuống đặc biệt

Trang 18

2.1.2 Nội dung phương pháp

Có nhiều cách khác nhau để định giá doanh nghiệp theo phương pháp giá trị tài sảnròng, sau đây là một số phương pháp thông dụng trên thế giới:

 Phương pháp 1: Giá trị doanh nghiệp = Giá trị tài sản ròng + Giá trị lợi thếTrong đó:

 Giá trị tài sản ròng có thể được xác định theo hai cách:

Cách 1: Căn cứ vào giá trị thị trường

Khi căn cứ vào thị trường, giá trị tài sản ròng chính là giá bán tất cả các bộphận cấu thành tài sản của doanh nghiệp trên thị trường (bao gồm đất đai, tài sản cốđịnh, hàng hoá.v.v.) vào thời điểm định giá doanh nghiệp sau khi đã trừ đi các khoản

nợ của doanh nghiệp Giá thị trường chỉ xác định cho từng tài sản riêng biệt Công thức

dùng để xác định giá trị tài sản ròng theo phương pháp này là: NAV= ∑

Ai: Giá thị trường của tài sản i

n: Tổng số các loại tài sản

Cách 2: Căn cứ vào giá trị sổ sách (trường hợp không xác định được giá trị thị trường)

Giá trị tài sản ròng = Tổng giá trị tài sản có – Các khoản nợ có khả năng thuhồi

Các khoản nợ của doanh nghiệp bao gồm các khoản nợ vay ngắn hạn và dàihạn, các khoản phải trả cho khách hàng, phải trả cán bộ công nhân viên, thuế và cáckhoản phải nộp cho Ngân sách, chi phí phải trả, phải trả nội bộ, các khoản nợ khác.v.v

Trang 19

Các khoản nợ này được phản ánh ở phần nguồn vốn trên bảng cân đối kế toán củadoanh nghiệp

 Giá trị lợi thế: là các yếu tố phi vật chất được cấu thành từ tài sản vô hìnhcủa doanh nghiệp, được thể hiện ở chỗ doanh nghiệp nhờ có nó mà có thểthu được lợi nhuận cao hơn mức bình thường so với các doanh nghiệpcùng loại nhưng không có các giá trị lợi thế này

Ví dụ: có nhiều doanh nghiệp cùng sản xuất, kinh doanh một mặt hàng có tỷ lệlợi nhuận trên vốn bình quân là 10% trong khi đó, một doanh nghiệp khác cũng sảnxuất kinh doanh mặt hàng đó nhưng lại có tỷ lệ lợi nhuận trên vốn bình quân là 15%.Doanh nghiệp này có tỷ lệ lợi nhuận cao hơn so với các doanh nghiệp khác cùng ngành

là vì doanh nghiệp có giá trị lợi thế hơn các doanh nghiệp khác Giá trị lợi thế thườngđược tính toán tuỳ theo thành tích quá khứ cũng như tiềm năng phát triển của mỗidoanh nghiệp

Giá trị lợi thế của một doanh nghiệp có được là do những nguyên nhân chủ yếusau:

 Uy tín của doanh nghiệp về chất lượng sản phẩm hoặc dịch vụ cung ứng

 Vị trí địa lý thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm làm cho giá thành sảnxuất hạ và số lượng khách hàng nhiều hơn

 Các tiềm năng của doanh nghiệp

 Bí quyết công nghệ như bằng phát minh, sáng chế phục vụ cho quá trình nghiêncứu phát triển nhằm cải tiến, mở rộng quá trình sản xuất kinh doanh hoặc quản

lý doanh nghiệp, độc quyền sản xuất hoặc bán những sản phẩm độc quyền màdoanh nghiệp phát minh ra

 Các giá trị lợi thế khác như đặc quyền khai thác, nhãn hiệu thương mại, tácquyền.v.v

Giá trị lợi thế của doanh nghiệp được xác định như sau:

Trang 20

 Trường hợp giá trị lợi thế đã được đánh giá vào sổ kế toán thì lấy số dư thực tếtrên sổ kế toán để tính vào giá trị doanh nghiệp

 Trường hợp chưa xác định được giá trị lợi thế thì giá trị lợi thế của doanhnghiệp được tính căn cứ vào tỷ suất lợi nhuận siêu ngạch bình quân của n nămliền kề với thời điểm định giá doanh nghiệp

Giá trị lợi thế của doanh nghiệp được tính căn cứ vào tỷ suất lợi nhuận siêungạch bình quân của n năm liền kề với thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp theocông thức:

Tỷ suất lợi nhuận bình quân =

Tổng số lợi nhuận thực hiệncủa n năm liền kềTổng vốn kinh doanh của doanh nghiệp

n năm liền kề

Tỷ suất

lợi nhuận siêu ngạch =

Tỷ suất lợi nhuậnbình quân n nămcủa doanh nghiệp

_ Tỷ suất lợi nhuận bìnhquân chung n năm củadoanh nghiệp cùng ngànhnghề

Giá trị lợi thế =

Vốn sản xuất kinh doanhcủa Công ty theo sổ sách

kế toán bình quân của nnăm liền kề

x

Tỷ suất lợinhuận siêungạch

 Phương pháp 2:

Giá trị doanh nghiệp =

Giá trị tài sản ròng + Giá trị khả năng sinh lời

2 (1)

Trong đó

Trang 21

 Giá trị tài sản ròng: được xác định như ở phương pháp 1

Giá trị khả năng sinh lời =

Lợi nhuận ròng hàng năm dự tính thu được của

Công tyHệ số sinh lời

Phương pháp này thực chất là sự kết hợp giữa hai phương pháp định giá dựa trêngiá trị tài sản ròng và dựa trên thu nhập Mức giá trị cuối cùng được xác định là mứcgiá trị bình quân của hai phương pháp này

Công thức (1) được viết lại như sau:

P02 =

1 P02 + 2P02

2Trong đó:

1 P02 = Giá trị tài sản ròng

2P02

=

Lợi nhuận ròngHệ số sinh lờiTheo công thức xác định P02 , giá trị khả năng sinh lời của doanh nghiệp sẽ phụthuộc vào lợi nhuận mà công ty tạo ra trong tương lai, hay nói cách khác đi là nó phụthuộc vào khả năng sinh lời của doanh nghiệp trong tương lai

Lợi nhuận ròng bình quân hàng năm là lợi nhuận dự tính bình quân còn lại sau khi

đã trừ đi thuế và các chi phí kể cả chi trả lãi vay Các số liệu này được xác định dựatrên tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp trong những năm tới Công thức tính như sau:

Lợi nhuận ròng bình quân hàng năm dự tính thu

Trang 22

LNi: Lợi nhuận ròng dự tính thu được năm i

n : Số năm dự tính

Trên thực tế, lợi nhuận ròng bình quân doanh nghiệp có thể thu được thấp hơn,bằng hoặc cao hơn mức lợi nhuận dự tính này Khi tính toán chỉ số này cần xem xét đểloại trừ các ảnh hưởng đột biến có liên quan đến lợi nhuận ròng bình quân của doanhnghiệp Đồng thời cũng phải phân tích, dự đoán tình hình sắp tới để điều chỉnh lợinhuận ròng bình quân dự tính thu được cho phù hợp

Hệ số sinh lời là tỷ lệ quy đổi các khoản lợi nhuận trong tương lai về giá trị hiện tại,hay còn gọi là tỷ suất chiết khấu

 Phương pháp 3

Giá trị doanh nghiệp (P03) =

P02 + Giá trị tương đối

2

Trong đó

P02: là giá trị doanh nghiệp được tính theo phương pháp 2

Thực chất phương pháp 3 là sự kết hợp giữa phương pháp 2 trên đây vớiphương pháp định giá theo giá trị tương đối Giá trị tương đối (GTTĐ) đượctính trên cơ sở so sánh với các công ty cùng lĩnh vực kinh doanh, dựa trên cácthông số:

P1: Giá cổ phiếu bình quân của nhóm các công ty khác cùng quy mô, cùng lĩnhvực

Ln0: Lợi nhuận ròng của công ty định giá

Ln1: Lợi nhuận ròng bình quân của nhóm công ty so sánh

NAVo: Giá trị tài sản ròng của công ty định giá

NAV1: Giá trị tài sản ròng bình quân của nhóm công ty so sánh

Trang 23

2.1.3 Điều kiện áp dụng và ưu nhược điểm của phương pháp

Định giá doanh nghiệp theo phương pháp giá trị tài sản có ưu điểm là đơn giản, dễthực hiện, nó phản ánh tương đối đầy đủ và trực quan giá trị các tài sản hiện có củadoanh nghiệp theo giá trị hiện hành ở thời điểm định giá hoặc theo giá trị sổ sách Vìvậy phương pháp này được coi là một căn cứ quan trọng để định giá doanh nghiệp khithị trường chứng khoán chưa phát triển hoặc đang trong giai đoạn đầu của sự pháttriển, hoặc khi thiếu các thông tin lịch sử về tình hình tài chính và các thông tin kháccủa doanh nghiệp làm cho việc định giá doanh nghiệp theo các phương pháp khác gặpnhiều khó khăn và thiếu tin cậy

Để áp dụng được phương pháp định giá theo giá trị tài sản cho giá trị doanh nghiệpmột cách tương đối chính xác, cần phải có một số điều kiện cơ bản sau:

 Hệ thống tài sản hữu hình của doanh nghiệp phải tương đối thông dụng, sẵn cótrên thị trường

 Có thể xác định chính xác lượng nợ có khả năng thu hồi của doanh nghiệp

 Giá trị các tài sản dễ thẩm định, dễ định giá

Trang 24

 Trên thị trường tồn tại các khung giá chuẩn cho các tài sản hữu hình của doanhnghiệp

 Có các hướng dẫn cụ thể cho việc định giá các tài sản vô hình như thương hiệu,danh tiếng, uy tín, sở hữu trí tuệ

Tuy nhiên, ngoài các thuận lợi của phương pháp định giá doanh nghiệp theo giá trịtài sản, phương pháp này có một số hạn chế cơ bản sau:

 Phương pháp này dựa trên nhận định rằng giá trị tài sản có của doanh nghiệpngang bằng với một lượng vốn tiền tệ nhất định có thể sử dụng ngay được màchưa tính đến yếu tố thời gian, các chi phí và thuế phải trả khi thanh lý tài sản

 Phương pháp này chỉ xác định giá trị doanh nghiệp trên cơ sở xem xét giá trịdoanh nghiệp ở trạng thái tĩnh, chưa tính đến khả năng sinh lời trong tương laicũng như tiềm năng phát triển và mức độ rủi ro của công ty

 Rất khó có thể định giá riêng biệt các tài sản vô hình như uy tín của doanhnghiệp, thương hiệu v.v

 Định giá tài sản thực tế hay đang sử dụng có thể vượt qua giá trị có thể bán đượccủa chúng, các khoản nợ khó đòi thường sẽ cao hơn mức dự tính khi công ty bắtđầu ngừng kinh doanh

2.2 Phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp dựa trên thu nhập

2.2.1 Nguyên tắc chung

Phương pháp định giá theo dòng tiền chiết khấu dựa trên nguyên lý cơ bản : "Giá trị

của một doanh nghiệp bằng với tổng giá trị tài sản mà doanh nghiệp đó có thể tạo ra

trong tương lai" Cơ sở của nguyên lý này dựa trên lý luận cho rằng nhà đầu tư bỏ tiền

vào doanh nghiệp là nhằm được hưởng lợi nhuận do doanh nghiệp làm ra Do đó, đốivới nhà đầu tư, tổng giá trị doanh nghiệp sẽ được tính bằng tổng giá trị lợi nhuận màdoanh nghiệp có thể tạo ra trong tương lai Vì vậy, giá trị của doanh nghiệp sẽ đượcxác định bằng các dòng tiền mà doanh nghiệp đó sẽ thu được trong tương lai sau khi

Trang 25

được qui về giá trị hiện tại bằng cách chiết khấu chúng tại một mức chiết khấu thể hiện

tỷ suất sinh lời mong muốn của doanh nghiệp được định giá và rủi ro vốn có của nó

Có rất nhiều phương pháp định giá thuộc nhóm phương pháp định giá theo dòngtiền chiết khấu này nhưng sau đây là một số phương pháp được áp dụng thông dụngtrên thế giới:

 Định giá doanh nghiệp theo phương pháp dòng tiền chiết khấu (DCF)

 Định giá doanh nghiệp theo phương pháp chiết khấu luồng cổ tức (DDM)

2.2.2 Nội dung phương pháp

2.2.2.1 Phương pháp dòng tiền chiết khấu (DCF)

a Xác định giá trị dòng tiền

Các nhà đầu tư khi đóng góp vốn cổ phần vào một công ty sẽ nhận được luồng thunhập cuối cùng còn lại sau khi công ty thanh toán mọi nghĩa vụ tài chính bao gồmthanh toán nợ và sau khi đã trang trải mọi nhu cầu tái đầu tư của công ty Do vậy,luồng thu nhập của vốn cổ phần chính là luồng thu nhập còn lại sau khi thanh toán mọichi phí cho hoạt động, chi trả lãi và gốc vay và mọi chi phí vốn cần thiết để duy trì tỷ lệtăng trưởng của luồng thu nhập dự tính

Vì các công ty khác nhau sẽ có cơ cấu vốn khác nhau nên luồng thu nhập thuộc vốn

cổ phần cũng phải được xác định phù hợp với cơ cấu vốn của công ty đó theo nguyêntắc sau:

 Dòng tiền thuộc vốn cổ phần của một công ty không có vốn vay:

Dòng tiền tự do thuộc về vốn cổ phần = Thu nhập - chi phí hoạt động kinhdoanh – (khấu hao và giảm giá) - thuế + (khấu hao và giảm giá) - chi phí vốn –nhu cầu vốn lưu động

 Dòng tiền thuộc về vốn cổ phần của một công ty có vốn vay

Dòng tiền tự do thuộc về vốn cổ phần = Thu nhập – chi phí hoạt động kinhdoanh –(khấu hao và giảm giá) – lãi vay vốn – thuế + (khấu hao và giảm giá) –chi phí vốn – nhu cầu vốn lưu động – trả gốc

Trang 26

b Xác định tỷ suất chiết khấu

Xác định tỷ suất chiết khấu luồng thu nhập thuộc vốn nợ

Đối với vốn vay ngân hàng, tỷ suất chiết khấu chính là lãi suất phải trả cho ngânhàng

Đối với trái phiếu do công ty phát hành, tỷ suất chiết khấu bằng lợi suất đáo hạncủa trái phiếu Mức lợi suất này được ký hiệu là r và được xác định như sau:

P: giá thị trường của trái phiếu

C: lãi trái phiếu cam kết trả theo định kỳ

MG: mệnh giá trái phiếu

n: số kỳ trả lãi

Xác định tỷ suất chiết khấu luồng thu nhập thuộc vốn cổ phần

- Để xác định chi phí cơ hội của vốn cổ phần, có thể áp dụng mô hình địnhgiá tài sản vốn (CAPM) Mặc dù phương pháp này gặp khó khăn trong việcứng dụng và khó xác định được các biến số liên quan, nhưng về mặt lýthuyết, phương pháp này đúng vì đã phản ánh được yếu tố rủi ro và lạmphát

- Mô hình định giá tài sản vốn (CAPM)

Về cơ bản, CAPM giả định rằng chi phí cơ hội của vốn cổ phần bằng vớithu nhập từ các chứng khoán phi rủi ro cộng với chi phí bù đắp rủi ro theocông thức:

re= rf + [E(rm) – rf] β e

Trong đó:

Trang 27

rf: tỷ suất lợi nhuận phi rủi ro – thường là lãi suất tín phiếu kho bạc

E(rm): tỷ suất lợi nhuận dự tính của danh mục thị trường

E(rm) - rf : mức đền bù rủi ro thị trường

β e : rủi ro hệ thống của vốn cổ phần

và mọi chi phí vốn chủ sở hữu

Chi phí vốn bình quân gia quyền (WACC) là tỷ lệ chiết khấu được sử dụng đểchuyển luồng thu nhập tự do của doanh nghiệp dự tính sẽ thu được trong tương lai

về giá trị hiện tại của nó

Công thức xác định chi phí vốn bình quân gia quyền được thể hiện như sau:

rb: lợi suất đáo hạn dự tính trước thuế của vốn vay thông thường trên thị trường

tc: thuế suất của doanh nghiệp được định giá

D: Giá trị thị trường của vốn vay phải trả lãi

V: Giá trị thị trường của doanh nghiệp được định giá

rp: chi phí vốn sau thuế đối với cổ phiếu ưu đãi

P: Giá trị thị trường của cổ phiếu ưu đãi

rs: Chi phí cơ hội của vốn cổ phần

Trang 28

E: Giá trị thị trường của vốn cổ phần

Từ đó, D/V, P/V, E/V là các tỷ trọng tương ứng của vốn nợ, cổ phiếu ưu đãi và cổphiếu phổ thông so với tổng giá trị vốn

c Công thức áp dụng

Phương pháp định giá theo mô hình DCF dựa trên nguyên tắc cơ bản nhất là ướctính giá trị tất cả các luồng thu nhập mà công ty sẽ thu được trong tương lai và quychúng về giá trị hiện tại bằng cách chiết khấu các luồng thu nhập này theo một mức lãisuất chiết khấu thích hợp

Công thức tính giá trị doanh nghiệp có thể được viết lại như sau:

Dt: giá trị doanh nghiệp

r: lãi suất chiết khấu

t: số năm

Trên thực tế thì việc xác định các luồng thu nhập trong tương lai đòi hỏi một kỹthuật rất tinh xảo vì một công ty có thể tồn tại đến vô hạn nên các luồng thu nhập củacông ty cũng tồn tại đến vô hạn Tuy nhiên, ta không thể xác định một cách cụ thể vàchính xác giá trị của luồng thu nhập cho đến vô hạn được Vì vậy, để vấn đề trở nên dễdàng hơn, người ta thực hiện phương pháp này bằng cách chỉ xác định giá trị cụ thể củaluồng thu nhập trong một giai đoạn nhất định bắt đầu từ thời điểm định giá (thôngthường là 5 năm) Việc dự đoán luồng thu nhập này phụ thuộc vào kế hoạch sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp mà kế hoạch này không những chỉ phụ thuộc vào đặcđiểm của doanh nghiệp mà còn phụ thuộc vào tình hình của ngành sản xuất kinh doanh,môi trường kinh doanh, khuôn khổ pháp lý và còn cần lưu ý đến chế độ kế toán

Trang 29

Sau giai đoạn 5 năm tính từ thời điểm định giá, luồng thu nhập được định giá đượcgiả định là ổn định hoặc tăng đều theo một tỷ lệ không đổi Như vậy, việc ước tính giátrị luồng thu nhập được chia làm hai giai đoạn:

 Giai đoạn đầu: Từ thời điểm định giá tới một thời điểm mà ta có thể ước tínhđược giá trị luồng thu nhập cụ thể Thông thường, các ước tính này dựa trên kếhoạch sản xuất kinh doanh của công ty trong tương lai

 Giai đoạn thứ hai: Là giai đoạn còn lại của quãng đời một công ty Trong giaiđoạn này, người ta giả định luồng thu nhập của công ty ổn định ở một mức nào

đó hoặc tăng trưởng theo một tỷ lệ nào đó Dĩ nhiên, mức độ ổn định hay tăngtrưởng lần này được xác định trên cơ sở xu hướng hoạt động và tiềm năng pháttriển lâu dài của công ty chứ không dựa trên một năm cụ thể

Với cách phân chia luồng thu nhập của công ty theo hai giai đoạn trên, người ta cóthể dễ dàng tính toán được giá trị hiện tại của chúng bằng phương pháp tính toán họctheo nguyên tắc sau:

 Giả sử luồng thu nhập xác định ở giai đoạn 1 (n năm) là FCF1, FCF2, FCFn vàlãi suất chiết khấu là r thì tổng giá trị luồng thu nhập của giai đoạn này quy vềhiện tại là:

Trang 30

 Giá trị trên quy về hiện tại bằng:

PV2

0 =

PV2 n

=FCFn(1+g)(1+r)n (1-g)(1+r)n

 Cuối cùng, giá trị luồng thu nhập của toàn bộ công ty là tổng giá trị của cả haigiai đoạn trên:

V = PV1

0 + PV2

0

2.2.2.2 Phương pháp chiết khấu dòng cổ tức (DDM)

Cổ phiếu phổ thông đem lại cho người sở hữu một luồng thu nhập tại các thời điểmkhác nhau trong tương lai như: cổ tức (được chia hàng năm hoặc theo định kỳ), giá trị

cổ phiếu khi người sở hữu bán cổ phiếu đó đi Do vậy, nguyên tắc của phương phápchiết khấu luồng cổ tức xác định giá trị hiện tại cổ phiếu phổ thông dựa trên dòng thunhập tương lai của cổ phiếu, dùng lợi suất yêu cầu làm lãi suất chiết khấu

Giá trị doanh nghiệp = giá trị quy về hiện tại của các dòng thu nhập trong tương lai

Giả sử doanh nghiệp phát hành m cổ phiếu và một cổ phiếu được nắm giữ đến nămthứ n, cổ tức chi trả từ năm 1 đến năm n lần lượt là DIV1, DIV2, DIV3 DIVn Biết giábán cổ phiếu vào năm thứ n là Pn và tỷ lệ lợi suất yêu cầu của nhà đầu tư là r không đổi,

ta có công thức định giá cổ phiếu theo phương pháp chiết khấu luồng cổ tức như sau:

P0 = ∑

t=1

n DIVt

+ Pn(1+r)t (1+r)n

Trong đó: DIVt: Mức chia cổ tức năm t

r: tỷ lệ lợi tức yêu cầu (hay còn gọi là lãi suất chiết khấu hoặc chi phí vốn cổphần)

Trang 31

Nếu cổ phiếu được nhà đầu tư nắm giữ vô hạn có nghĩa là n sẽ tiến tới ∞ Khi đó,giá trị hiện tại của vốn gốc Pn / (1+r)n sẽ tiến tới 0 và công thức trên sẽ trở thành:

P0 = ∑

t =1

n DIVt(1+r)t

Xét các trường hợp đặc biệt:

- Trường hợp 1: Cổ tức của công ty là không đổi

Khi đó : DIV1 = DIV2 = DIV3= = DIVn = DIV

(Do n)

- Trường hợp 2: Cổ tức tăng hàng năm với một tỷ lệ g không đổi

Điều này có nghĩa là công ty phát hành trả cổ tức hàng năm theo một tỷ lệ tăngtrưởng g cố định, DIV2=DIV1(1+g), DIV3=DIV1(1+g)2, hay DIVt=DIV1(1+g)t

Với giả định n, trong khi r > g >0, giá cổ phiếu sẽ là:

P0 =

DIVtr-g

Cần lưu ý rằng công thức này chỉ đúng khi tốc độ tăng trưởng g nhỏ hơn tỷ suấtthu nhập dự tính r Trên thực tế người ta giả định rằng g<r vì điều này hoàn toànhợp lý

Trang 32

- Trường hợp 3: Cổ tức của công ty tăng trưởng không đồng nhất

Đây là trường hợp thực tế nhất vì tỷ lệ tăng trưởng cổ tức của công ty không thểchỉ là một chỉ tiêu cố định trong một thời gian dài, thông thường xảy ra trường hợpmức tăng trưởng cổ tức không đều trong một số năm trước khi có thể đạt đến giaiđoạn ổn định

Để xác định giá của cổ phiếu, trước hết ta phải chia quá trình phát triển của công

ty thành các giai đoạn phát triển khác nhau, chủ yếu là hai giai đoạn Giai đoạn thứnhất là giai đoạn tăng trưởng không ổn định, trong giai đoạn này nhà đầu tư cần căn

cứ vào ước tính về thu nhập và chính sách cổ tức của công ty để xác định cổ tứchàng năm Giai đoạn thứ hai là giai đoạn phát triển lâu dài và giả định đó là giaiđoạn có mức tăng trưởng không đổi Sau đó áp dụng công thức của trường hợp 1 và

2 ta sẽ tính được giá của cổ phiếu

Nếu một công ty từ năm thứ 1 đến năm n mức tăng trưởng cổ tức là không cốđịnh với các giá trị ước đoán lần lượt là: DIV1, DIV2, DIVn Từ năm n+1 trở đimức tăng trưởng cổ tức là g cố định, khi đó giá cổ phiếu sẽ là:

P0 =

t=1

n DIVt + Dn+1/(r-g) (1+r)t (1+r)n

Sau khi tính được giá cổ phiếu,

Giá trị công ty = giá cổ phiếu x số lượng cổ phiếu phát hành

Để có thể dự tính một cách chính xác các thông số để đưa vào công thức tính toántrong định giá cổ phiếu, nhà đầu tư phải tiến hành phân tích chính xác tình hình tàichính của doanh nghiệp để có thể dự báo triển vọng phát triển của doanh nghiệp.Nguyên tắc chung được áp dụng như sau:

a Tính DIV 1: Việc ước tính cổ tức năm đầu (DIV1) được dựa trên số liệu về cổ tứctrong quá khứ, chính sách phân chia cổ tức trong tương lai, ước tính thu nhập

Trang 33

năm sau của công ty để từ đó ước tính ra giá trị cổ tức có thể nhận được trongnăm đầu tiên (DIV1)

Cổ tức = DIV= Tỷ lệ chia cổ tức x EPSTrong đó, thu nhập trên mõi cổ phiếu (EPS) được tính bằng cách lấy lợi nhuậnròng trừ đi cổ tức ưu đãi và chia cho số lượng cổ phiếu đã phát hành

b Tính g: Việc ước tính tỷ lệ tăng trưởng cổ tức của công ty phải dựa trên đánh giá

tiềm năng phát triển của công ty trong dài hạn chứ không chỉ dựa đơn thuầntrong một số năm tới vì tốc độ tăng trưởng được giả định là mức tăng trưởngđều đặn của công ty trong suốt quãng đời hoạt động Do vậy, các số liệu để tínhtoán g phải là mức dự đoán bình quân trong dài hạn

Tỷ lệ tăng trưởng cổ tức được xác định dựa trên tỷ lệ tăng trưởng lợi nhuận và tỷlệ lợi nhuận dùng để chi trả cổ tức Trong thực tế, tốc độ tăng trưởng cổ tứcđược giả định là bằng với tốc độ tăng trưởng thu nhập và được tính theo côngthức:

g = ROE x bTrong đó:

b là % lợi nhuận được để lại tái đầu tư (=1-tỷ lệ cổ tức =1-DIV1/EPS1)

ROE = Thu nhập ròng/Vốn cổ đông = EPS/ Giá trị sổ sách của 1 cổ phiếu

c Tính r : Ước tính tỷ suất lợi nhuận đầu tư hay còn gọi là tỷ suất chiết khấu cần

dựa trên mức độ rủi ro của công ty phát hành

2.2.3 Điều kiện áp dụng và ưu nhược điểm của phương pháp

Khác với phương pháp định giá theo giá trị tài sản, phương pháp định giá theo dòngtiền chiết khấu đã tính đến tiềm năng tăng trưởng của doanh nghiệp trong tương lai dựatrên các dự báo về thu nhập hay tỷ lệ cổ tức mà doanh nghiệp chi trả

Trang 34

Tuy nhiên, do có quá nhiều giả định về các yếu tố trong tương lai nên phương phápđịnh giá theo dòng tiền chiết khấu rất nhạy cảm với các yếu tố đầu vào như doanh thu,chi phí, lợi nhuận hay lãi suất chiết khấu.

Để áp dụng được phương pháp định giá theo dòng tiền chiết khấu cho giá trị doanhnghiệp một cách tương đối chính xác, cần phải có một số điều kiện cơ bản sau:

 Phải xây dựng được kế hoạch kinh doanh dài hạn của doanh nghiệp dựa trênviệc phân tích những số liệu của kết quả kinh doanh trong quá khứ cùng vớinhững ước tính về sự thay đổi trong tương lai Kế hoạch kinh doanh này phải sátthực và có tính khả thi cao

 Các số liệu thống kê về ngành như các báo cáo tài chính, báo cáo thu nhập, chỉ

số tài chính đánh giá hiệu quả hoạt động của từng ngành phải sẵn có trên thịtrường

 Các hệ số rủi ro (), mức bù rủi ro của từng ngành phải được thống kê và đượccác tổ chức như tổ chức định mức tín nhiệm công bố Thị trường chứng khoánphải rất phát triển, các cổ phiếu niêm yết phải là những cổ phiếu đại diện chongành, lĩnh vực kinh tế Đó là những cơ sở tham chiếu quan trọng của quá trìnhđịnh giá

Phương pháp này phù hợp trong việc định giá các doanh nghiệp không niêm yếttrên thị trường chứng khoán với cơ sở số liệu chủ yếu là các báo cáo tài chính và thôngtin trên thị trường chứng khoán

Ưu điểm của phương pháp là phản ánh đúng thực tế thị trường đối với giá trị cổ

phiếu của doanh nghiệp được định giá Với nhiều chỉ số có thể sử dụng để so sánh,phương pháp định giá so sánh có thể sử dụng cho hầu hết các doanh nghiệp, với đặcđiểm khác nhau Đây là phương pháp đơn giản, tuy nhiên, cần tuân thủ các điều kiệnkhi lựa chọn các doanh nghiệp để so sánh nhằm tránh dẫn đến kết quả sai lệch

Hạn chế của phương pháp này là không tính tới giá trị tương lai của doanh nghiệp

và mất nhiều thời gian trong việc lựa chọn các doanh nghiệp có chung đặc điểm cùngngành để so sánh Ngoài ra, nếu không lựa chọn đúng, đễ dàng dẫn đến kết quả định

Trang 35

giá sai.

2.3 Phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp theo cơ sở so sánh giá trị thị trường

2.3.1 Nguyên tắc chung

Phương pháp định giá theo tỷ lệ so sánh dựa trên nguyên lý: "Hai doanh

nghiệp giống nhau phải có giá trị giống nhau" Cơ sở căn bản của nguyên lý này là nếuhai doanh nghiệp giống nhau về quy mô, cùng hoạt động trong một lĩnh vực ngànhnghề kinh doanh cụ thể nào đó trong một môi trường kinh doanh nhất định thì phải cógiá trị tương tự nhau

Phương pháp định giá theo tỷ lệ so sánh là phương pháp xác định giá trị củamột doanh nghiệp trên cơ sở giá cổ phiếu của những công ty tương tự được niêm yếtthông qua một chỉ số thích hợp Các chỉ số thường được sử dụng có thể là chỉ số giátrên thu nhập (P/E), chỉ số giá trên doanh thu (P/Sales), chỉ số giá trên thu nhập trướclãi vay và thuế (P/EBIT) v.v trong đó chỉ số chỉ số giá trên thu nhập (P/E) là một chỉ

số được sử dụng tương đối thường xuyên

2.3.2 Nội dung phương pháp

Phương pháp định giá theo tỷ lệ so sánh được thực hiện tương đối đơn giản Nếu sửdụng P/E là chỉ số so sánh, để dự tính được giá của một loại cổ phiếu doanh nghiệp Y,người ta tiến hành như sau:

PY = EY x P/ETrong đó:

PY: Giá của cổ phiếu Y cần tính

EY: Thu nhập trên mỗi cổ phần ( = Thu nhập sau thuế/số lượng cổ phần)

Trang 36

P/E: chỉ số giá/thu nhập của toàn ngành mà doanh nghiệp Y tham gia hay của mộtdoanh nghiệp cùng ngành có cổ phiếu được giao dịch rộng rãi có cùng qui mô, tỷ lệ lợinhuận, độ rủi ro và mức tăng trưởng tương tự như cổ phiếu Y.

Nếu lấy các chỉ số khác như chỉ số giá trên doanh thu (P/Sales), chỉ số giá trên thunhập trước lãi vay và thuế (P/EBIT).v.v làm chỉ số để so sánh thì cách định giá cũngđược tiến hành tương tự

2.3.3 Điều kiện áp dụng và ưu nhược điểm của phương pháp

Phương pháp định giá theo tỷ lệ so sánh về mặt lý thuyết là phương pháp định giánhanh nhất và đơn giản nhất, phản ánh đúng thực tế thị trường đối với giá trị của doanhnghiệp cần định giá Tuy nhiên, để phương pháp này cho kết quả tin cậy cần có một sốđiều kiện sau:

 Phải lựa chọn được các công ty cùng nhóm ngành và có đặc điểm tương đồng

Do chúng ta xác định giá của các công ty khác để định giá công ty được phântích nên sử dụng dữ liệu của công ty càng giống với công ty định giá càng tốt.Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là nếu ta đưa các tiêu chuẩn tương đương quá chặt chẽthì có thể chỉ chọn được rất ít công ty được coi là tương đương để so sánh Vớimột tập hợp các công ty so sánh quá ít như vậy thì những đặc thù riêng của từngcông ty sẽ ảnh hưởng rất lớn đến chỉ số được lựa chọn để so sánh trung bình, vìvậy hệ số này không còn là một hệ số đại diện tiêu chuẩn Vì vậy các công tytương đương cần được lựa chọn một mặt phải đảm bảo các tiêu chuẩn đủ chặtchẽ để không khác nhiều so với công ty được định giá, mặt khác ta cần chọnnhóm công ty so sánh có số lượng đủ lớn để những nét đặc thù riêng được trunghoà với nhau

Các chỉ tiêu cơ bản nhất để lựa chọn nhóm công ty tương đương bao gồm:ngành nghề, quy mô, công nghệ, cơ cấu vốn, hiệu quả hoạt động v.v

 Trên cơ sở lựa chọn được các công ty cùng nhóm ngành, cần lựa chọn được cácchỉ số dùng để so sánh phù hợp như P/E, P/CF, P/Sales, P/EBIT.v.v và giá trị

Trang 37

của các chỉ số như E, CF, Sales, EBIT của công ty cần định giá cũng phải ướctính được.

Tuy nhiên, vấn đề cần lưu ý ở đây là giả sử lấy P/E làm chỉ số so sánh, nếu ta xác định giá cổ phiếu năm sau bằng cách nhân hệ số P/E với thu nhập năm sau thì rõ ràng chúng ta chỉ tập trung vào thước đo thu nhập của năm sau mà chưa xét đến yếu tố dài hạn Do vậy, để thước đo chính xác hơn thì ta có thể dự đoán mức thu nhập của 5 năm tới, lấy mức bình quân nhân với hệ số P/E để cho giá trị của cổ phiếu năm sau

3 Các chuyên đề nghiên cứu về công tác xác định giá trị doanh nghiệp phục vụ cổ phần hóa

3.1 Tóm tắt và đánh giá nội dung của các chuyên đề

3.1.1 Chuyên đề “ Hoàn thiện phương pháp định giá doanh nghiệp trong cổ phần

hoá doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam ” – Đỗ Thị Huyền Oanh – 2007

- Tên đề tài: “ Hoàn thiện phương pháp định giá doanh nghiệp trong cổ phần

hoá doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam ”.

- Người thực hiện: Đỗ Thị Huyền Oanh

- Người hướng dẫn: Ths Đỗ Đức Hiển

- Bố cục đề tài:

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐỊNH GIÁ DOANH NGHIỆP

TRONG CỔ PHẦN HOÁ

Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ĐỊNH GIÁ DOANH NGHIỆP TRONG CỔ PHẦN HÓA TẠI VIỆT NAM

Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHƯƠNG PHÁP ĐỊNH GIÁ DOANH NGHIỆP TRONG CỔ PHẦN HÓA TẠI VIÊT NAM HIỆN NAY

- Đánh giá:

+ Về phương pháp nghiên cứu:

Trang 38

 Tác giả đã sử dụng và kết hợp được nhiều phương pháp nghiên cứu để bổ sung cho nhau làm tốt chức năng thu thập thông tin, dữ liệu, số liệu tin cậy cho quá trình nghiên cứu.

 Về cách tiếp cận vấn đề nghiên cứu của tác giả có tính toàn diện, cụ thể và phù hợp với đối tượng nghiên cứu

 Về phương pháp nghiên cứu: tác giả nên xác định phương pháp nào là phương pháp chủ đạo và các phương pháp bổ trợ cần thiết khác Theo tôi đốivới đề tài này, phương pháp nghiên cứu chủ đạo là phương pháp tổng kết kinh nghiệm (tổng kết thực tiễn); các phương pháp bổ trợ là phương pháp khảo sát, phương pháp điều tra (test) và lấy ý kiến chuyên gia Nếu xác định được như vậy thì tác giả khỏi phải mất nhiều thời gian cho việc phải dàn trãi

sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác; mà nên tập trung vào phương pháp nghiên cứu chủ đạo để thu được kết quả nghiên cứu nhanh, đỡ mất nhiều thời gian và công sức

+ Về nội dung chuyên đề

 Chương 1: Tác giả đã khái quát được về cơ sở lý thuyết, các phương pháp định giá và khả năng ứng dụng của các phương pháp này trong thực tế Tuy nhiên, tác giả cần chú ý đi sâu hơn các phương pháp định giádoanh nghiệp trên thế giới, thêm nữa cần bổ sung vai trò của công tác định giá doanh nghiệp trong cổ phần hóa hiên nay

 Chương 2: Đã phản ánh được thực trạng của công tác định giá doanh nghiệp trong cổ phần hóa từ năm 1992 đến thời điểm nghiên cứu Tuy nhiên tác giả cần bổ sung phần tổng kết các thực trạng đã nêu ra và đánh giá hạn chế của công tác định giá trong giai đoạn này

 Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện các phương pháp định giá trong cổ phần hóa tác giá đưa ra đã thể hiên được tính chất cơ bản và toàn diện Tuy nhiên trong nhóm những giải pháp cơ bản đó cần xác định giải pháp nào mang tính đột phá trước mắt; giải pháp nào mang tính chiến lược lâu dài

Trang 39

3.1.2 Chuyên đề “ Hoàn thiện quy trình xác định giá trị doanh nghiệp để cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước do Công ty dịch vụ tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán AASC thực hiện ” – Đào Thị Hồng Hạnh – 2008

- Tên đề tài: Hoàn thiện quy trình xác định giá trị doanh nghiệp để cổ phần hóa

doanh nghiệp Nhà nước do Công ty dịch vụ tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán AASC thực hiện

- Người thực hiện: Đào Thị Hồng Hạnh.

- Người hướng dẫn: Ths Bùi Thị Minh Hải.

Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC XÁCĐỊNH GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC ĐỂ CỔ PHẦN HÓA TẠI CÔNG TYAASC

- Đánh giá:

+ Về phương pháp nghiên cứu: Tác giả đã sử dụng và kết hợp được nhiều phươngpháp nghiên cứu để bổ sung cho nhau làm tốt chức năng thu thập thông tin, dữ liệu, sốliệu tin cậy cho quá trình nghiên cứu

+ Về nội dung chuyên đề:

 Chương 1: Tác giả đã tổng hợp được cơ sở lý luận về xác định giá trị doanhnghiệp bao gồm vai trò, các yếu tố ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp,phương pháp định giá, nhân tố làm xuất hiện nhu cầu định giá Tuy vậy, theotôi tác giả cần bổ sung và nghiên cứu sâu phần quy trình chung của công tácxác định giá trị doanh nghiệp để cổ phần hóa

Trang 40

 Chương 2: Đã tổng kết được thực trạng về quy trình xác định giá trị doanhnghiệp của công ty AASC tại thời điểm nghiên cứu (2008) Tuy nhiên tác giảcần bổ sung phần đánh giá mặt hạn chế của các bước trong quy trình củacông ty AASC.

 Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện các phương pháp định giá trong cổ phầnhóa tác giá đưa ra đã thể hiện được tính chất cơ bản và toàn diện Tuy vậy,tác giả cần chú ý bám theo các quan điểm và tiêu chí đánh giá về chất lượngcủa quy trinh định giá doanh nghiệp, có như vậy thì những giải pháp đưa rasau quá trình nghiên cứu sẽ đảm bảo được tính khoa học, và có giá trị ứngdụng tốt

3.2 Kinh nghiệm rút ra

- Về phương pháp nghiên cứu:

+ Cần sử dụng và kết hợp được nhiều phương pháp nghiên cứu để bổ sung chonhau làm tốt chức năng thu thập thông tin, dữ liệu, số liệu tin cậy cho quá trìnhnghiên cứu

+ Cần xác định phương pháp nào là phương pháp chủ đạo và các phương pháp

bổ trợ cần thiết khác Nếu xác định được thì tác giả không mất nhiều thời giancho việc phải dàn trải sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác; mà nên tậptrung vào phương pháp nghiên cứu chủ đạo để thu được kết quả nghiên cứunhanh, đỡ mất nhiều thời gian và công sức

- Về nội dung đề tài:

+ Phần tổng quan: Cần tổng hợp và phân tích được các quan điểm, các cách tiếpcận về công tác xác định giá trị doanh nghiệp phục vụ cổ phần hóa

+ Phần thực trạng: Cần tổng kết được thực tranh của công tác xác định giá trịdoanh nghiệp phục vụ vụ cổ phần hóa tại công ty đang nghiên cứu, từ đó nêu rađược các mặt hạn chế của công tác này

Ngày đăng: 26/02/2023, 14:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Xác định giá trị doanh nghiệp, Nguyễn Hải Sản (1998), NXB Thống Kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định giá trị doanh nghiệp
Tác giả: Nguyễn Hải Sản
Nhà XB: NXB Thống Kê
Năm: 1998
3. Hồ sơ năng lực của công ty Cổ phần Tư vấn – Dịch vụ về Tài sản – Bất động sản DATC (2013) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ sơ năng lực của công ty Cổ phần Tư vấn – Dịch vụ về Tài sản – Bất động sản DATC
Năm: 2013
4. Báo cáo tổng kết năm 2012 của công ty Cổ phần Tư vấn – Dịch vụ về Tài sản – Bất động sản DATC Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết năm 2012 của công ty Cổ phần Tư vấn – Dịch vụ về Tài sản – Bất động sản DATC
Năm: 2012
7. Valuation, second edtion, Aswath Damodaran (2002) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Valuation
Tác giả: Aswath Damodaran
Năm: 2002
5. Nghị định 59/2011/NĐ-CP ngày 18/07/2011 về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần Khác

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w