TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG TIỂU LUẬN MÔN TÀI CHÍNH CÔNG ĐỀ TÀI ẢNH HƯỞNG CỦA THÂM HỤT NGÂN SÁCH ĐẾN LẠM PHÁT NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TẠI CÁC QUỐC GIA ĐÔNG NAM Á VÀ HÀM Ý CHÍNH[.]
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
TIỂU LUẬN MÔN TÀI CHÍNH CÔNG
ĐỀ TÀI: ẢNH HƯỞNG CỦA THÂM HỤT NGÂN SÁCH ĐẾN LẠM PHÁT NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TẠI CÁC QUỐC GIA ĐÔNG NAM Á VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH CHO VIỆT
NAM
Giáo viên hướng dẫn: Nguyễn Thị Lan
Trang 2MỤC LỤC
Chương I: Tổng quan nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu 61.1 Tổng quan nghiên cứu trong nước và nước ngoài 6
1.2.3 Mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và lạm phát 101.2.4 Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và lạm phát 10
1.2.6 Cơ chế chuyển dịch tỷ giá hối đoái vào giá cả 11
Chương III: Kết luận và hàm ý chính sách cho Việt Nam 22
3.2 Trường hợp Việt Nam và hàm ý chính sách cho Việt Nam 22
Trang 33.2.1 Thực trạng thâm hụt ngân sách ở Việt Nam 22
Trang 4DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Các biến trong mô hình và chiều hướng tác động 13
Bảng 2.1 Thống kê mô tả giữa các biến trong mô hình 14
DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 3.1: Biểu đồ thực trạng thâm hụt ngân sách Việt Nam 2005-2010 23Hình 3.2: Thực trạng lạm phát ở Việt Nam 2005-2010 23
Trang 5Lời mở đầu
1.1 Lý do chọn đề tài
Thâm hụt ngân sách là vấn đề nhiều quốc gia trên thế giới đã và đang phải đối mặt Thâm hụt ngân sách không chỉ xảy ra ở các nước đang phát triển và kém phát triển mà còn xảy ra ở các nước phát triển trên thế giới Gần đây, số liệu ngân sách ở nhiều quốc gia công bố cho thấy các nước trong khu vực Đông Nam Á đang phải đối mặt với thâm hụt ngân sách nhà nước khổng lồ, do thất thu từ thuế trong khi các khoản chi (chicho trợ cấp thất nghiệp, bảo hiểm thất nghiệp, ) lại ngày càng tăng cao Mặt khác, tình trạng lạm phát gia tăng ở các quốc gia này trong giai đoạn gần đây cũng là vấn đề cần phải quan tâm vì nó ảnh hưởng đến việc phát triển kinh tế, nâng cao chất lượng đời sống người dân và ổn định xã hội
Hiện nay, các nghiên cứu đang được thực hiện theo hướng xem xét đồng thời mối quan hệ giữa yếu tố thâm hụt ngân sách và lạm phát Tuy nhiên, có ít nghiên cứu được tiến hành cho các quốc gia khu vực Đông Nam Á Đối với các quốc gia đang phát triểnvới nhu cầu cao về đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế- xã hội thì ngân sách chính
là công cụ cốt lõi để các quốc gia thực hiện mục tiêu đầu tư nói riêng và mục tiêu tăng trưởng kinh tế bền vững nói chung
Do đó, việc tìm hiểu tình trạng thâm hụt ngân sách ở các quốc gia Đông Nam Á như hiện nay có thực sự gây ảnh hưởng bất lợi đến lạm phát hay không trở thành một câu hỏi đáng quan tâm không chỉ của các nhà nghiên cứu mà còn là của các nhà hoạch định chính sách
Từ những lý do trên, nhóm nghiên cứu đã chọn đề tài: “Ảnh hưởng của thâm hụt
ngân sách nhà nước đến lạm phát Nghiên cứu thực nghiệm tại các quốc gia Đông Nam Á và hàm ý chính sách cho Việt Nam” để nghiên cứu và thảo luận.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Bài nghiên cứu tìm kiếm bằng chứng về ảnh hưởng của thâm hụt ngân sách đến lạm phát thông qua trường hợp cụ thể tại các quốc gia Đông Nam Á Qua đó đưa ra những gợi ý, chính sách nhằm kiểm soát lạm phát ở Việt Nam
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Đề tài xem xét các vấn đề lý thuyết cũng như bằng chứng thực nghiệm về ảnh hưởng của thâm hụt ngân sách đến lạm phát
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu 9 quốc gia đang phát triển khu vực
Đông Nam Á bao gồm Indonesia, Myanmar, Thái Lan, Việt Nam, Malaysia, Việt
Nam, Lào, Campuchia và Brunei trong giai đoạn từ năm 2005-2020.
1.4 Kết cấu bài nghiên cứu
Bài tiểu luận của nhóm nghiên cứu gồm các phần như sau:
Chương I: Tổng quan nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Trang 6Chương II: Kết quả và thảo luận
Chương III: Kết luận, gợi ý chính sách và kiến nghị giải pháp
Do còn nhiều hạn chế về mặt kiến thức cũng như điều kiện về mặt thời gian, bài tiểu luận của chúng em không thể tránh khỏi những sai sót Chúng em kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến từ phía cô để bài tiểu luận của chúng em được hoàn thành hơn
Chúng em xin chân thành cảm ơn cô!
Trang 7Chương I: Tổng quan nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu 1.1 Tổng quan nghiên cứu trong nước và nước ngoài
Fischer và các cộng sự (2002) đã tìm thấy mối quan hệ giữa thâm hụt tài khóa và lạm
phát với bộ dữ liệu 94 quốc gia đang phát triển và quốc gia phát triển trong giai đoạn từ năm 1960-1995 Và tác động này chỉ mạnh ở các quốc gia lạm phát cao trong thời kỳ lạm phát cao trong khi tác động yếu ở các quốc gia lạm phát thấp và các quốc gia lạm phát cao trong thời kỳ lạm phát thấp
Solomon và De Wet (2004) xem xét mối quan hệ giữa thâm hụt và lạm phát đối với
nền kinh tế Tanzania – một quốc gia ở phía đông châu Phi đã trải qua lạm phát tương đối cao cùng với thâm hụt tài khóa cao trong một thời gian dài Sử dụng dữ liệu năm trong giai đoạn từ 1967-2001 và phương pháp vector đồng liên kết cho thấy tác động của thâm hụt ngân sách đến lạm phát ở quốc gia này dưới giả định về tính trung lập tiền tệ trong dài hạn (giá thay đổi cùng tỷ lệ với thay đổi của cung tiền)
Lin và Chu (2013) sử dụng mô hình hồi quy tứ phân vị bảng động (DPQR) với
phương pháp tự hồi quy phân phối trễ (ARDL) để xem xét mối quan hệ giữa thâm hụt tài khóa và lạm phát ở 91 quốc gia trong giai đoạn từ năm 1960-2006 Mô hình DPQR ước lượng ảnh hưởng của thâm hụt tài khóa đến lạm phát tương ứng với các mức độ lạm phát khác nhau và cho phép điều chỉnh động bằng phương pháp ARDL Kết quả nghiên cứu cho thấy thâm hụt tài khóa có ảnh hưởng mạnh đến lạm phát trong giai đoạn có lạm phát cao, và tác động yếu trong giai đoạn lạm phát thấp Kết quả đưa ra ngụ ý rằng việc củng cố tài khóa sẽ trở nên hiệu quả hơn trong việc ổn định mức giá trong giai đoạn lạm phát cao, và điều này cũng phù hợp với mô hình lý thuyết của Catão và Terromes (2005)
Nguyễn Văn Bổn (2015) sử dụng hai phương pháp ước lượng PMG và GMM
Arellano-Bond để xem xét ảnh hưởng của thâm hụt tài khóa và cung tiền M2 đối với lạm phát ở các nước châu Á trong giai đoạn từ năm 1985-2012 Kết quả ước lượng chothấy cung tiền M2 có ảnh hưởng cùng chiều đến lạm phạt khi sử dụng phương pháp PMG trong khi thâm hụt ngân sách, chi tiêu chính phủ và lãi suất đều có tác động đến lạm phát trong cả hai phương pháp ước lượng Trong bài nghiên cứu có đưa biến kiểm soát vào mô hình tuy nhiên có một số biến kiểm soát chưa phù hợp với tình hình thực
tế tại các quốc gia đang nghiên cứu, do đó không tìm thấy tác động có ý nghĩa thống
kê đến biến phụ thuộc
Tuy nhiên, có một số nghiên cứu đưa ra quan điểm ngược lại là không tồn tại mối quan hệ giữa thâm hụt và lạm phát
Hondroyiannis và Papapetrou (1997) nghiên cứu tác động trực tiếp và gián tiếp của
thâm hụt đối với lạm phát ở Hy Lạp trong giai đoạn từ năm 1957-1993, sử dụng kiểm định đồng liên kết được đề xuất bởi Johansen và Juselius và kiểm định nhân quả Granger Bằng chứng thực nghiệm cho thấy tồn tại tác động gián tiếp của thâm hụt ngân sách đến lạm phát trong khi đó tác động trực tiếp thì không tồn tại
Hai tác giả Nguyễn Thị Thu Hằng và Nguyễn Đức Thành (2011) sử dụng mô hình
kinh tế lượng VECM để phân tích các nhân tố tác động đến lạm phát ở Việt Nam trong
Trang 8giai đoạn từ năm 2001-2010 đã không tìm thấy tác động rõ ràng của thâm hụt ngân sách đến lạm phát trong giai đoạn nghiên cứu Điều này không có nghĩa là thâm hụt không có ảnh hưởng đến lạm phát Nguyên nhân có thể do việc tài trợ ngân sách thường có hai tác động trái chiều Một là tài trợ bằng cách tăng vay nợ của Chính phủ gây sức ép làm tăng lãi suất do nhu cầu vay cao hơn Điều này tương tự như chính sách tiền tệ thắt chặt và do đó góp phần giảm lạm phát Mặt khác, tài trợ ngân sách thông qua việc tăng cung tiền cũng tương tự như chính sách tiền tệ mở rộng và gây áp lực lên lạm phát Hai tác động trái chiều này làm giảm thậm chí triệt tiêu ảnh hưởng của nhau đến lạm phát
Và trên thế giới cũng có những quốc gia mà thâm hụt ngân sách kéo dài lại không gây
ra tác động đáng kể nào đối với lạm phát Italia trong thập niên 1980 đã rơi vào tình trạng thâm hụt ngân sách kéo dài ở mức khoảng 10%, song tỷ lệ lạm phát trong giai đoạn này lại giảm từ mức 20% xuống khoảng 5% Nhật Bản cũng là một ví dụ điển hình về trường hợp này khi mà thâm hụt ngân sách liên tục ở mức cao trong nhiều nămsong tỷ lệ lạm phát gần như ở mức 0% (Saleh, 2003) Thực tế của nước Mỹ những năm của thập niên 1980 cũng chỉ ra các bằng chứng tương tự
1.2 Cơ sở lý thuyết
1.2.1 Lạm phát
Có nhiều trường phái nghiên cứu và đưa ra các khái niệm khác nhau về lạm phát
Trường phái Keynes cho rằng “việc tăng nhanh cung tiền tệ sẽ làm cho mức giá cả
tăng kéo dài với tỷ lệ cao, do vậy gây nên lạm phát” (Mishkin 1994, trích dẫn trong LêThị Tuyết Hoa, Đặng Văn Dân và ctg, 2017)
Samuelson and Nordhaus (1997, trích dẫn trong Lê Thị Tuyết Hoa, Đặng Văn Dân
và ctg, 2017) lại cho rằng “lạm phát biểu thị một sự tăng lên trong mức giá chung Tỷ
lệ lạm phát là tỷ lệ thay đổi của mức giá chung” Trái với quan điểm trường phái Keynes, ông cho rằng lạm phát có thể do nguyên nhân cầu kéo hoặc nguyên nhân chi phí đẩy, tức là lạm phát có thể xảy ra ngoài nguyên nhân tiền tệ
Theo Friedman và các nhà kinh tế khác, Lạm phát là việc giá cả tăng nhanh và kéo
dài, lạm phát luôn luôn và bao giờ cũng là hiện tượng tiền tệ - lạm phát bao giờ và ở đâu cũng là một hiện tượng tiền tệ
Như vậy, có rất nhiều góc nhìn khác nhau về lạm phát Mỗi quan điểm, lý thuyết chỉ giải thích cho một số thời kỳ nhất định và ngày càng nhiều quan điểm mới ra đời Tómlại, lạm phát là hiện tượng tiền trong lưu thông vượt quá nhu cầu cần thiết làm cho chúng bị mất giá, giá cả của hầu hết các loại hàng hóa tăng lên đồng loạt Lạm phát có những đặc trưng là: Hiện tượng gia tăng quá mức của lượng tiền có trong lưu thông dẫn đến đồng tiền bị mất giá và mức giá cả chung tăng lên
Lạm phát thường được đo lường bởi hai chỉ tiêu cơ bản là chỉ số giá tiêu dùng CPI (Consumer price index) và chỉ số giảm phát (GDP deflator) Chỉ số giá tiêu dùng hay
Trang 9chỉ số giá cả CPI (consumer price index): phản ánh mức thay đổi giá cả của một giỏ hàng hóa tiêu dùng so với năm gốc
Hệ số giảm phát GDP (GDP deflator) được tính trên cơ sở so sánh giá trị GDP tính theo giá hiện hành và GDP tính theo giá kỳ trước Nghĩa là đo lường mức tăng và giảm giá trên tất cả các loại hàng hoá dịch vụ tính trong GDP (kể cả hàng hóa do doanh nghiệp và chính phủ mua)
CPI có ưu điểm là tính được lạm phát tại bất kỳ thời điểm nào chỉ căn cứ vào rổ hàng hóa, tuy nhiên CPI không thể đo lường lạm phát chính xác do bị tác động bởi hai yếu
tố sai lệch của rổ hàng hóa được quy định trước gồm thứ nhất là sai lệch cơ cấu khi rổ hàng hóa chậm thay đổi không tính đến các mặt hàng mới phát sinh nhưng được sử dụng phổ biến; thứ hai là sai lệch thay thế khi giá cả mặt hàng trong rổ gia tăng và người tiêu dùng chuyển sang sử dụng mặt hàng thay thế với giả rẻ hơn nằm ngoài rổ
Do đó, lạm phát được tính theo CPI có thể dẫn đến dự báo lạm phát quá mức Đó cũngchính là lý do bài nghiên cứu sử dụng số liệu lạm phát được tính theo GDP deflator Có 3 nguyên nhân chính dẫn đến lạm phát bao gồm:
● Lạm phát do cầu kéo hay là sự mất cân đối giữa tổng cung và tổng cầu hàng hóa dịch vụ Nguyên nhân này gắn liền với sự gia tăng trong tổng cầu của nền kinh tế, qua đó gây áp lực lên lạm phát Cầu kéo có thể do các vấn đề liên quan đến tiền tệ hoặc do việc thực hiện chính sách tài khóa dẫn đến thâm hụt cao, hoặc do tình trạng đầu cơ tài sản
● Lạm phát do chi phí đẩy, xảy ra khi có tác động của các yếu tố bên ngoài khônggắn với tổng cung và cầu của nền kinh tế như các cú sốc về giá đối với các mặt hàng như xăng dầu Ở một số quốc gia, lạm phát do chi phí đẩy có thể xuất pháttừ các yếu tố mang tính chất cơ cấu như chi phí sản xuất của nền kinh tế cao, hiệu quả đầu tư thấp
● Lạm phát do tiền tệ, giá tăng do khối lượng tiền đưa vào lưu thông vượt quá khối lượng cần thiết cho lưu thông của thị trường, hay nói cách khác là cung tiền vượt quá cầu tiền Thực chất nguyên nhân này cũng được tính vào nhóm lạm phát do cầu kéo
1.2.2 Thâm hụt ngân sách Nhà nước
Theo Cẩm nang Thống kê tài chính của Chính phủ (GFS) do Quỹ tiền tệ IMF ban hành, thâm hụt ngân sách (hay bội chi ngân sách) được xác định bằng chênh lệch giữa các khoản thu ngân sách và chi ngân sách Trong đó:
Thu ngân sách là các khoản thu vào quỹ ngân sách mà không kèm theo, không làm phát sinh nghĩa vụ hoàn trả trực tiếp cho các đối tượng có nghĩa vụ phải nộp ngân sách Thu ngân sách bao gồm thuế, phí và thu khác (kể cả viện trợ không hoàn lại), không bao gồm các khoản vay trong và ngoài nước Theo đó, thu ngân sách là các
Trang 10khoản thu là trách nhiệm của mọi người hoặc của các thành phần kinh tế đối với nhà nước
Chi ngân sách là các khoản chi từ ngân sách nhà nước không làm phát sinh nghĩa vụ phải bồi hoàn trực tiếp đối với các các đối tượng được thụ hưởng ngân sách Chi ngân sách bao gồm chi đầu tư phát triển, chi thường xuyên, các khoản chi khác, chi trả lãi vay nhưng không bao gồm chi trả nợ gốc
Mỗi quốc gia có cách xác định phạm vi các khoản thu chi ngân sách khác nhau dẫn đến các kết quả khác nhau về thâm hụt ngân sách
Thâm hụt ngân sách nhà nước không hẳn luôn luôn là biểu hiện của tình trạng kinh tế tốt hay xấu, cũng không hẳn luôn là biểu hiện của sự điều hành ngân sách nhà nước hợp lý hay chưa Song thâm hụt ngân sách nhà nước là tình trạng được quan tâm đặc biệt bởi vì nó biểu hiện cho sự thiếu hụt nguồn lực so với nhu cầu, có tác động đa chiều đối với nền kinh tế và chứa đựng nhiều mâu thuẩn nội tại Chẳng hạn chính sách chủ động bội chi trong phạm vi kiểm soát được có thể đưa nền kinh tế thoát khỏi giai đoạn suy thoái Song, bội chi kéo dài sẽ làm cho nợ công gia tăng, kết quả là tạo sức ép đối với chính sách quản lý nợ và chèn ép đầu tư của khu vực tư, áp lực gia tăng lạmphát
Quan điểm ngân sách cân bằng tuyệt đối chỉ đúng trong bối cảnh của những nền kinh
tế hàng hoá còn sơ khai, vai trò của Nhà Nước chưa được mở rộng, hoặc trong điều kiện nền kinh tế phải rất giàu có, ngân sách có đủ nguồn tài chính đảm bảo cho nhu cầu chi tiêu hàng năm của Nhà Nước, hoặc trong môi trường kinh tế cạnh tranh tự do hoàn hảo
Quan điểm của Keynes: Chính phủ cần kích thích mức tiêu dùng bằng cách “bỏ thêm tiền vào túi” người tiêu thụ thông qua việc cắt giảm thuế và trực tiếp gia tăng chi tiêu của chính phủ Ông ủng hộ thâm hụt NSNN và cho rằng đó là công cụ của chính sách tài chính để làm cho nhà nước có thể tạo ảnh hưởng trên tổng mức cầu và công ăn việc làm trong nền kinh tế Keynes cho rằng để bù đắp những thiếu hụt NSNN cần in thêm tiền giấy (Nguyễn Ngọc Hùng, 2006)
Đối với những quốc gia có nền kinh tế được xếp loại đang phát triển, các quốc gia này đang trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa thì quan điểm ngân sách thâm hụt có mức độ được chấp nhận
1.2.3 Mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và lạm phát.
Bội chi ngân sách nhà nước ở mức cao đều có nguy cơ gây ra lạm phát Bởi vì, khi ngân sách bị bội chi có thể được bù đắp bằng phát hành tiền hoặc vay nợ, đều gây nên nguy cơ lạm phát tăng
Thứ nhất, việc phát hành tiền trực tiếp làm tăng cung tiền tệ trên thị trường sẽ gây lạm phát cao, đặc biệt khi việc tài trợ thâm hụt lớn và diễn ra liên tục thì nền kinh tế phải trải qua lạm phát cao và kéo dài Sự gia tăng cung tiền có thể không làm tăng lạm phát nếu nền kinh tế đang đà tăng trưởng, mức cầu tiền giao dịch tăng lên phù hợp với mức tăng của cung tiền Tuy nhiên, trong trường hợp khu vực tư nhân đã thỏa mãn với lượng tiền họ đang nắm giữ (mức cầu tiền tương đối ổn định) thì sự gia tăng của cung tiền làm cho lãi suất thị trường giảm, nhu cầu tiêu dùng về hàng hóa dịch vụ, nhu cầu đầu tư sẽ tăng lên kéo theo sự tăng của tổng cầu nền kinh tế, mặt bằng giá cả sẽ tăng
Trang 11lên gây áp lực lạm phát Người ta gọi trường hợp khi chính phủ tài trợ thâm hụt ngân sách bằng cách tăng cung tiền là hiện tượng chính phủ đang thu "thuế lạm phát" từ những người đang nắm giữ tiền.
Thứ hai, bù đắp thâm hụt bằng nguồn vay nợ trong nước hoặc nước ngoài, việc vay nợ trong nước bằng cách phát hành trái phiếu ra thị trường vốn, nếu việc phát hành diễn
ra liên tục thì sẽ làm tăng lượng cầu quỹ cho vay, do dó, làm lãi suất thị trường tăng
Để giảm lãi suất, Ngân hàng Trung ương phải can thiệp bằng cách mua các trái phiếu đó, điều này làm tăng lượng tiền tệ gây lạm phát hay vay nợ nước ngoài để bù đắp bội chi ngân sách bằng ngoại tệ, lượng ngoại tệ phải đổi ra nội tệ để chi tiêu bằng cách bán cho Ngân hàng Trung ương, điều này làm tăng lượng tiền nội tệ trên thị trường tạo
áp lực lên lạm phát
1.2.4 Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và lạm phát
Xem xét về mặt lý thuyết, lạm phát vừa có tác động tích cực và tiêu cực tới tăng
trưởng kinh tế Một tỷ lệ lạm phát thấp có tác dụng thúc đẩy tăng trưởng Theo nghiên cứu của Tobin (1965), Mundell (1965) mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng là tỷ
lệ thuận Các nghiên cứu này cũng trùng với quan điểm của trường phái Keynes và trường phái tiền tệ khi cho rằng trong ngắn hạn, các chính sách nhằm hỗ trợ tăng trưởng của chính phủ sẽ làm gia tăng lạm phát
Tuy nhiên, tỷ lệ lạm phát cao sẽ tác động tiêu cực lên tăng trưởng Lạm phát gây giảm sút tổng cầu, gia tăng thất nghiệp, nó gây ra sự bất ổn cho môi trường kinh tế xã hội, làm thông tin trong nền kinh tế bị bóp méo, khiến các quyết định đầu tư, tiêu dùng, tiếtkiệm trở nên khó khăn hơn; lạm phát được xem như một loại thuế đánh vào nền kinh
tế
Một số nghiên cúu của Fisher (1993), Barro (1995), Bruno và Easterly (1998) đều chỉ
ra mối quan hệ giữa tăng trưởng và lạm phát là nghịch biến Còn nghiên cứu của Khan
và Senhadji (2001) ở 140 nước giai đoạn 1960 - 1998 đã tìm thấy “ngưỡng” lạm phát từ 11-12% đối với các nước đang phát triển và khoảng 1-3% đối với các nước công nghiệp Nếu nền kinh tế ở dưới ngưỡng này, mối quan hệ tăng trưởng - lạm phát là đồng biến và ngược lại
1.2.5 Lý thuyết về tiền tệ
Friedman (1956) đưa ra các bằng chứng ủng hộ lý thuyết lượng tiền tệ (quantity theory
of money) Ông cho rằng lượng cung tiền tệ quyết định mặt bằng giá, hay nói rõ hơn ra
là về dài lâu tăng tiền sẽ làm tăng giá và sẽ có ảnh hưởng rất ít, hoặc thậm chí không có ảnh hưởng gì đến sản lượng Về ngắn hạn tất nhiên nó có ảnh hưởng như lý thuyết Keynes đưa ra Friedman khuyến nghị rằng nếu ngân hàng trung ương đều đặn tăng lượng cung tiền tệ bằng với tốc độ tăng trưởng (theo giá cố định) của nền kinh tế thì lạm phát sẽ biến mất
1.2.6 Cơ chế chuyển dịch tỷ giá hối đoái vào giá cả
Theo nghiên cứu của Nicoleta (2007), những thay đổi của tỷ giá hối đoái sẽ ảnh hưởngđến tỷ lệ lạm phát qua hai kênh cơ bản là: trực tiếp và gián tiếp
Trang 12Kênh trực tiếp: Để đơn giản hoá phân tích, không mất tính tổng quát, ta có thể xem cú sốc này chính là: sự mất giá đồng nội tệ Điều này sẽ khiến những hàng hoá và nguyênliệu được nhập khẩu trở nên đắt hơn Khi giá các nguyên liệu nhập khẩu tăng, chi phí sản xuất sẽ tăng và tăng giá tiêu dùng Giá hàng hoá tiêu dùng nhập khẩu tăng sẽ phản ánh ngay vào sự tăng lên của chỉ số giá tiêu dùng
Kênh gián tiếp: Khi đồng nội tệ giảm giá, hàng nội địa sẽ trở nên rẻ hơn so với hàng quốc tế khiến cầu hàng nội địa tăng dẫn đến giá tăng theo cơ chế cung - cầu thị trườnghoặc dẫn đến gia tăng sản xuất, tăng cầu lao động, tiếp đến là tăng lương và tăng tổng cầu, kết quả là tỷ lệ lạm phát gia tăng Tuy nhiên, tác động này chủ yếu là trong dài hạn do giá thường cứng nhắc trong ngắn hạn
1.3 Khung phân tích
Trên cơ sở kế thừa các lý thuyết và kết quả nghiên cứu của các công trình nghiên cứu thực nghiệm cả trong và ngoài nước, nhóm chúng em đưa ra khung phân tích cho đề
tài nghiên cứu: “Ảnh hưởng của thâm hụt ngân sách nhà nước đến lạm phát
Nghiên cứu thực nghiệm tại các quốc gia Đông Nam Á và hàm ý chính sách cho Việt Nam” với những đặc điểm như sau:
● Dữ liệu được thu thập từ WB và ADB
● Tiến hành nghiên cứu bằng phương pháp định lượng: Hồi quy với dữ liệu bảng
sử dụng mô hình POLS, FEM, REM và FGLS
1.4 Phương pháp nghiên cứu
1.4.1 Mô hình nghiên cứu
Đầu tiên, nghiên cứu này được xây dựng trên mô hình điều chỉnh của Solomon và de Wet (2004) để kiểm tra mối quan hệ giữa thâm hụt và lạm phát là một mô hình phươngtrình, trong đó lạm phát (IF) là biến phụ thuộc và thâm hụt ngân sách (BD), cung tiền (M2) tỷ giá hối đoái (EXCH), tăng trưởng kinh tế (GDP) là các biến giải thích Ngoài những yếu tố trên tác động đến lạm phát, các lý thuyết tiền tệ đã được chứng minh: lạm phát mọi lúc mọi nơi đều do lượng tiền trong lưu thông tăng quá nhu cầu Đồng thời, nguyên nhân lạm phát từ phía cầu, khi nhu cầu hàng hóa cao hơn so với mức sản lượng (bao gồm nhu cầu cho xuất khẩu), giá các hàng hóa gia tăng, ảnh hưởng mặt bằng giá chung dẫn đến lạm phát gia tăng Do đó, nghiên cứu này thêm vào mô hình biến cung tiền (M2) như là biến giải thích Phương trình hồi quy cụ thể:
IFit =𝜷0 +𝜷1BDit + 𝜷2 M2it + 𝜷3lnGDPit + 𝜷4 lnEXCHit + 𝓔it
Trong phương trình trên, i đại diện cho quốc gia và t đại diện cho năm
IF là tỷ lệ lạm phát
BD là tỷ lệ thâm hụt ngân sách nhà nước
M2 là tỷ lệ cung tiền
GDP là GDP bình quân đầu người
EXCH là tỷ giá hối đoái
𝜷0 là hằng số
𝓔it là sai số của mô hình
1.4.2 Giả thuyết nghiên cứu
Giả thuyết 1: Thâm hụt ngân sách tác động cùng chiều đến tỷ lệ lạm phát
Trang 13Khi thâm hụt ngân sách thường xuyên và kéo dài sẽ phải tài trợ bằng nguồn tiền phát hành thì sẽ làm tổng cầu tăng, kéo giá cả hàng hóa tăng cao Trường hợp thâm hụt ngân sách thường xuyên, với khối lượng lớn và được bù đắp bằng việc phát hành trái phiếu vay công chúng thì sẽ ảnh hưởng làm mặt bằng lãi suất trên thị trường tăng lên, tình thế đó đe dọa việc thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế và thất nghiệp, buộc NHTW phải can thiệp để duy trì mức lãi suất ban đầu bằng cách cung ứng tiền và cuối cùng làm giá cả hàng hóa tăng lên
Giả thuyết 2: Cung tiền tác động cùng chiều với tỷ lệ lạm phát
Theo cách phân tích của trường phái tiền tệ, cung tiền tệ là nguyên nhân duy nhất làm
di chuyển tổng cầu Vì vậy, lạm phát nhanh là do sự tăng cao của cung tiền tệ thúc đẩy Đại đa số các nhà kinh tế học, kể cả quan điểm của trường phái Keynes cũng cho rằng lạm phát cao là một hiện tượng tiền tệ (Mishkin 1994)
Trong trường hợp nền kinh tế đã đạt đến sản lượng tiềm năng thì sự gia tăng thêm tiền sẽ làm gia tăng giá cả của các yếu tố đầu vào, từ đó làm gia tăng giá cả của hàng hóa, dẫn đến tình trạng lạm phát Mặc dù khi đó giá cả hàng hóa tăng lên nhưng sự tăng lên này là do các nhà sản xuất giảm sản lượng, không phải do cầu hàng hóa tăng, dẫn đến tốc độ phát triển kinh tế giảm
Các biến kiểm soát (control variales) GDP thực bình quân đầu người, tỷ giá hối đoái có một ảnh hưởng tiềm năng đối với biến phụ thuộc tỷ lệ lạm phát, biến kiểm soát cũng tác động vào biến phụ thuộc như biến độc lập nhưng sự tác động đó không phải thực sự là điều mà tác giả quan tâm, đưa vào mô hình phân tích vì không thể bỏ qua sựtác động của nó khi xem xét tác động của biến độc lập, để tránh bỏ sót biến
Bảng 1.1: Các biến trong mô hình và chiều hướng tác động
đến lạm phát
GDP GDP bình quân đầu người GDP bình quân đầu
người, lấy logarit tự nhiên
EXCH Tỷ giá hối đoái
Tỷ giá nội tệ/USD, lấy logarit, lấy logarit tự
nhiên
1.4.3 Dữ liệu nghiên cứu
Dữ liệu nghiên cứu được lấy từ bộ dữ liệu thống kê hàng năm của Ngân hàng thế giới (WB) và Key Indicators for Asia and the Pacific của Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) bao gồm 9 quốc gia đang phát triển khu vực Đông Nam Á bao gồm: Indonesia,Myanmar, Thái Lan, Việt Nam, Malaysia, Việt Nam, Lào, Campuchia và Brunei (trừ Dong-Timor và Singapore) trong giai đoạn từ năm 2005-2020 Tổng số quan sát là 144
Tỷ lệ lạm phát (Inflation rate): Được tính toán trên chỉ số giảm phát, thể hiện dưới
dạng % Dữ liệu này được lấy từ thống kê của WB
Trang 14BD (budget deficit) từ tổng thu ngân sách không bao gồm tài trợ (General
government revenue) và tổng chi ngân sách (General government total expenditure), tatính được thâm hụt/ thặng dư ngân sách Lấy tỷ số giữa giá trị này và GDP, ta tính được tỷ số thâm hụt/thặng dư ngân sách trên GDP Đơn vị tính là % Dữ liệu được lấy từ bộ dữ liệu của ADB (fiscical deficit percent of GDP at current market prices)
Cung tiền (Money Supply): theo phép đo cung tiền M2, được tính theo tỷ lệ phần
trăm trên GDP Dữ liệu được lấy từ bộ dữ liệu của ADB (M2 percent of GDP at
current market prices)
Thu nhập bình quân đầu người (Gdp per capita): được tính bằng tổng sản phẩm
quốc nội chia cho dân số, đơn vị tính USD Dữ liệu được lấy từ trang web của World Bank
Tỷ giá hối đoái (Exchangerate): giữa tiền tệ địa phương với USD, do ngân hàng
trung ương quy định Dữ liệu được lấy từ trang web của World Bank
Bảng 1.2: Quá trình xử lý các biến trong mô hình
BD Thâm hụt tài khoá % so với GDP Sử dụng số liệu thứ cấp
M2 Cung tiền M2 % so với GDP Sử dụng số liệu thứ cấp
GDP GDP bình quân đầu người
GDP bình quân đầungười, lấy logarit tự
nhiên
Lấy logarit tự nhiên
EXCH Tỷ giá hối đoái
Tỷ giá nội tệ/USD, lấy logarit, lấy logarit tự nhiên
Lấy logarit tự nhiên
1.4.4 Phương pháp nghiên cứu
Về phần mềm tiến hành các ước lượng, nghiên cứu này sử dụng chương trình Stata 14.Trước hết, nghiên cứu sử dụng phương pháp bình phương tối thiểu nhỏ nhất OLS để ước lượng mô hình Tiếp theo, với dữ liệu dạng bảng, phương pháp ước lượng được sửdụng nhiều hơn là mô hình các ảnh hưởng cố định FEM và mô hình các ảnh hưởng ngẫu nhiên REM
Sau đó, nghiên cứu sử dụng kiểm định Hausman để đánh giá mô hình FEM hay REM
là phù hợp hơn và rút ra kết luận
Tuy nhiên, một nhược điểm của dữ liệu dạng bảng với số cá thể quan sát lớn trong chuỗi thời gian ngắn thường phát sinh hiện tượng phương sai sai số thay đổi và rất khókhắc phục vấn đề này
Để giải quyết vấn đề trên, nghiên cứu tiến hành kiểm định trước những khuyết tật, sau đó sử dụng mô hình ước lượng FGLS để khắc phục hiện tượng phương sai sai số và phân tích chiều hướng ảnh hưởng của các nhân tố
Trang 15Chương II: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
2.1 Kết quả nghiên cứu
2.1.1 Phân tích thống kê mô tả
Sau khi thu thập và tính toán dữ liệu, kết quả trình bày theo bảng thống kê mô tả trong bảng dưới đây Kết quả chỉ ra phạm vi, giá trị trung bình và độ lệch chuẩn của các biếnsử dụng trong nghiên cứu này
Bảng 2.1: Thống kê mô tả giữa các biến trong mô hình
Biến Số quan sát Trung bình Độ lệch chuẩn Giá trị nhỏ nhất Giá trị lớn nhất
Phântích thống kê mô tả giữa các biến trong mô hình theo bảng cho thấy: trong mô hình cho thấy các biến có độ lệch chuẩn không quá lớn so với trung bình Dữ liệu tương đối đồng đều ở các biến Cỡ mẫu nghiên cứu gồm 144 quan sát, là cỡ mẫu chấp nhận trong thống kê Dữ liệu đầu vào phù hợp thực hiện hồi quy
2.1.2 Kiểm định sự tương quan
Hệ số tương quan dùng để chỉ mối quan hệ giữa các biến trong mô hình Dựa vào kết quả ma trận tương quan, tác giả sẽ phân tích mối tương quan giữa các biến phụ thuộc với các biến độc lập trong mô hình và mối tương quan giữa các biến độc lập với nhau
Bảng 2.2: Kết quả ma trận tự tương quan
Trang 16Có thể nhận thấy các cặp biến trong mô hình đều có hệ số tương quan nhỏ hơn 0,8 Dovậy không xảy ra hiện tượng tự tương quan giữa các biến.
Tuy nhiên, hệ số tương quan không chỉ ra được tác động của các biến lên Inflation Ở khía cạnh phương pháp nghiên cứu của bài nghiên cứu này, tác giả sẽ lựa chọn phươngpháp FGLS là các ước lượng có tính vững và hiệu quả
2.1.3 Lựa chọn mô hình phù hợp
Trong phần này, nhóm nghiên cứu sẽ tiến hành kiểm định dữ liệu bằng phần mềm
Stata 14 để chọn ra mô hình phù hợp nhất trong ba mô hình: Pooled OLS model (POLS), Random effects model (RE) và Fixed effects model (FE)
a Mô hình hồi quy OLS
Ước lượng các hệ số của mô hình hồi quy theo phương pháp bình phương nhỏ nhất – OLS bằng phần mềm STATA, ta thu được kết quả sau:
Bảng 2.3: Kết quả hồi quy OLS
- Số quan sát đưa vào phân tích Obs = 144
- Mức độ phù hợp của mô hình so với thực tế là R2 = 39.06 % cho thấy các biến độc lập giải thích được 39.06 % sự thay đổi của biến phụ thuộc
● Kiểm định phương sai sai số thay đổi
Để kiểm định phương sai sai số thay đổi ta có cặp giả thuyết sau:
H0: Mô hình có phương sai thuần nhất
H1: Mô hình có phương sai sai số thay đổi
Nếu giá trị Prob > chi2 <0.05, chúng ta bác bỏ giả thiết H0 và chấp nhận giả thiết H1
Ta thực hiện kiểm định White kết quả thu được như sau:
imtest, white
White's test for Ho: homoskedasticity
against Ha: unrestricted heteroskedasticity
Trang 17● Kiểm định tự tương quan
Để kiểm định sự tự tương quan, ta có cặp giả thiết sau
H0: Mô hình không có sự tự tương quan
H1: Mô hình có tự tương quan
b Kết quả mô hình REM
Bảng 2.4: Kết quả hồi quy mô hình REM
c Kết quả mô hình FEM
Bảng 2.5: Kết quả hồi quy mô hình FEM