1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Xu hướng phát triển một số ngành kinh tế ở việt nam trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4 0

78 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xu hướng phát triển một số ngành kinh tế ở Việt Nam trong bối cảnh Cách mạng Công nghiệp 4.0
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại Báo cáo nghiên cứu
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 1,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0 VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0 (7)
    • 1.1. Tổng quan về cách mạng công nghiệp 4.0 (7)
      • 1.1.1. Khái niệm về cách mạng công nghiệp 4.0 (7)
      • 1.1.2. Đặc trưng của cách mạng công nghiệp 4.0 (10)
    • 1.2. Tác động của cách mạng công nghiệp 4.0 (16)
      • 1.2.1. Tác động đến Chính phủ (16)
      • 1.2.2. Tác động đến xã hội (17)
      • 1.2.3. Tác động đến doanh nghiệp (18)
      • 1.2.4. Tác động đối với thị trường lao động (20)
  • CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0 ĐẾN MỘT SỐ NGÀNH KINH TẾ CỦA VIỆT NAM (24)
    • 2.1. Tác động của cách mạng công nghiệp 4.0 đến ngành dệt may Việt Nam (24)
      • 2.1.1. Đặc điểm của ngành dệt may Việt Nam (24)
      • 2.1.2. Tác động của cách mạng công nghiệp 4.0 đến ngành dệt may (30)
    • 2.2. Tác động của cách mạng công nghiệp 4.0 đến ngành logistics Việt Nam (39)
      • 2.2.1. Đặc điểm của ngành logistics Việt Nam (39)
      • 2.2.2. Tác động của cách mạng công nghiệp 4.0 trong ngành logistics Việt Nam (45)
    • 2.3. Tác động của cách mạng công nghiệp 4.0 đến ngành du lịch Việt Nam (51)
      • 2.3.1. Đặc điểm của ngành du lịch Việt Nam (51)
      • 2.3.2. Tác động của cách mạng công nghiệp 4.0 đến ngành du lịch Việt Nam (52)
  • CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP CHO CÁC NGÀNH KINH TẾ CỦA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0 (56)
    • 3.1. Định hướng phát triển kinh tế Việt nam trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 (56)
    • 3.2. Định hướng phát triển và giải pháp cho ngành dệt may Việt Nam trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 (58)
      • 3.2.2. Giải pháp cho ngành dệt may Việt Nam trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 (59)
    • 3.3. Định hướng phát triển và giải pháp cho ngành logistics Việt Nam trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 (64)
      • 3.3.1. Định hướng phát triển của ngành logistics Việt Nam trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 (64)
      • 3.3.2. Giải pháp cho ngành logistics Việt Nam trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 (65)
    • 3.4. Định hướng phát triển và giải pháp cho ngành du lịch Việt Nam trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 (71)
      • 3.4.1. Định hướng phát triển ngành du lịch Việt Nam trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 (71)
      • 3.4.2. Giải pháp cho ngành du lịch Việt Nam trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 (72)
  • KẾT LUẬN (75)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (76)

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu chung: Nghiên cứu tác động của cách mạng công nghiệp 4.0 đến một số ngành kinh tế của Việt Nam nhằm đề xuất các giải pháp phát triển cho những ngành này tro

Trang 1

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0 VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0 4

1.1 Tổng quan về cách mạng công nghiệp 4.0 4

1.1.1 Khái niệm về cách mạng công nghiệp 4.0 4

1.1.2 Đặc trưng của cách mạng công nghiệp 4.0 7

1.2 Tác động của cách mạng công nghiệp 4.0 13

1.2.1 Tác động đến Chính phủ 13

1.2.2 Tác động đến xã hội 14

1.2.3 Tác động đến doanh nghiệp 15

1.2.4 Tác động đối với thị trường lao động 17

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0 ĐẾN MỘT SỐ NGÀNH KINH TẾ CỦA VIỆT NAM 21

2.1 Tác động của cách mạng công nghiệp 4.0 đến ngành dệt may Việt Nam 21

2.1.1 Đặc điểm của ngành dệt may Việt Nam 21

2.1.2 Tác động của cách mạng công nghiệp 4.0 đến ngành dệt may 27

2.2 Tác động của cách mạng công nghiệp 4.0 đến ngành logistics Việt Nam 36

2.2.1 Đặc điểm của ngành logistics Việt Nam 36

2.2.2 Tác động của cách mạng công nghiệp 4.0 trong ngành logistics Việt Nam 42

2.3 Tác động của cách mạng công nghiệp 4.0 đến ngành du lịch Việt Nam 48

2.3.1 Đặc điểm của ngành du lịch Việt Nam 48

2.3.2 Tác động của cách mạng công nghiệp 4.0 đến ngành du lịch Việt Nam 49

CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP CHO CÁC NGÀNH KINH TẾ CỦA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0 53

3.1 Định hướng phát triển kinh tế Việt nam trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 53

3.2 Định hướng phát triển và giải pháp cho ngành dệt may Việt Nam trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 55

Trang 2

3.2.1 Định hướng phát triển của ngành dệt may Việt Nam trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 55 3.2.2 Giải pháp cho ngành dệt may Việt Nam trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 56

3.3 Định hướng phát triển và giải pháp cho ngành logistics Việt Nam trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 61

3.3.1 Định hướng phát triển của ngành logistics Việt Nam trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 61 3.3.2 Giải pháp cho ngành logistics Việt Nam trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 62

3.4 Định hướng phát triển và giải pháp cho ngành du lịch Việt Nam trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 68

3.4.1 Định hướng phát triển ngành du lịch Việt Nam trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 68 3.4.2 Giải pháp cho ngành du lịch Việt Nam trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 69

KẾT LUẬN 72 TÀI LIỆU THAM KHẢO 73

Trang 3

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 được dự đoán sẽ chuyển hóa toàn bộ thế giới thực sang thế giới số Cuộc cách mạng này với mục tiêu là nâng cao mức thu nhập, cải thiện chất lượng cuộc sống khi các sản phẩm và dịch vụ được tạo ra với chi phí thấp, việc thực hiện được đơn giản hóa Giáo sư Klaus Schwab, người sáng lập và là Chủ tịch điều hành Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF), đã chia sẻ rằng cách mạng công nghiệp 4.0 phát triển với tốc độ bùng nổ, có tác động sâu, rộng và mạnh mẽ, toàn diện lên mọi mặt của đời sống con người, từ hoạt động sản xuất đến lối sống, sinh hoạt ở tất

cả các cấp độ, từ phạm vi toàn cầu đến khu vực, quốc gia và từng tổ chức, cá nhân Do

đó, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 ngày càng đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế thế giới nói chung và kinh tế Việt nam nói riêng

Không nằm ngoài xu thế phát triển của thế giới, cách mạng công nghiệp 4.0 cũng đang diễn ra mạnh mẽ trong các ngành kinh tế ở Việt Nam Cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ là cơ hội tốt để kinh tế Việt Nam bứt phá, tuy nhiên mỗi cuộc cách mạng công nghiệp đều đặt ra yêu cầu phải thay đổi để đáp ứng điều kiện làm việc mới và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 cũng không phải ngoại lệ Đối với Việt Nam, làm chủ công nghệ trong cách mạng công nghiệp 4.0 có thể sẽ dễ dàng hơn so với trước đây do Việt Nam đã có một số yếu tố cơ bản và quan trọng làm nền tảng như: ngành công nghệ thông tin đang được phát triển mạnh với tốc độ tăng trưởng lên đến 16%, đứng trong top 5 nước tăng trưởng công nghệ thông tin nhanh nhất thế giới Việt Nam cũng đang có sự tiếp cận rất nhanh với cách mạng công nghiệp 4.0 kể cả trong nghiên cứu và thực hiện Nếu các doanh nghiệp của chúng ta đầu tư sớm cho việc nghiên cứu, phát triển sản phẩm theo hướng cách mạng công nghiệp 4.0 thì sẽ thay đổi vị thế của mình trên thị trường thế giới

Xuất phát từ thực tế trên, tác giả đã chọn vấn đề “Xu hướng phát triển một số

ngành kinh tế ở Việt Nam trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0” làm đề tài cho

Trang 5

Khóa luận tốt nghiệp trường Đại học Ngoại thương của mình Thông qua nghiên cứu này, tác giả mong muốn đưa ra những giải pháp thực tế giúp nhằm tận dụng những cơ hội và ứng phó với những thách thức mà cách mạng công nghiệp 4.0 mang lại với một

số ngành kinh tế chính của Việt Nam

2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chung: Nghiên cứu tác động của cách mạng công nghiệp 4.0 đến một

số ngành kinh tế của Việt Nam nhằm đề xuất các giải pháp phát triển cho những ngành này trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là Xu hướng phát triển một số ngành kinh tế ở Việt Nam trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nghiên cứu về không gian: Nghiên cứu được thực hiện tại Việt Nam

- Phạm vi nghiên cứu về thời gian: Dữ liệu nghiên cứu về thực trạng phát triển của ngành và tác động của cách mạng công nghiệp 4.0 đến một số ngành kinh tế ở Việt Nam được nghiên cứu trong giai đoạn 2015 - 2019 Các giải pháp phát triển cho một số ngành kinh tế của Việt Nam trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 được đề xuất cho giai đoạn 2021 - 2025

Trang 6

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng kết hợp các phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê, kết hợp giữa lý luận và thực tiễn để tìm hiểu vấn đề nghiên cứu

Phương pháp hệ thống hóa, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh được

sử dụng trong Chương 1 khi nghiên cứu tổng quan về cuộc ách mạng công nghiệp 4.0 như khái niệm, đặc điểm và tác động của ách mạng công nghiệp 4.0

Phương pháp tổng hợp, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh được sử dụng trong Chương 2 khi nghiên cứu thực trạng phát triển của ngành và tác động của cách mạng công nghiệp 4.0 đến một số ngành kinh tế ở Việt Nam

Phương pháp phân tích, phương pháp diễn giải được sử dụng trong Chương 3 khi nghiên cứu để lập luận cho các giải pháp nhằm phát triển một số ngành kinh tế của Việt Nam trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0

5 Bố cục của đề tài

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, cấu trúc của đề tài nghiên cứu ngoài phần tóm tắt công trình, mục lục, danh mục các hình, các bảng, các tài liệu tham khảo thì gồm 03 chương như sau:

Chương 1: Tổng quan về cách mạng công nghiệp 4.0 và tác động của cách mạng công nghiệp 4.0

Chương 2: Thực trạng phát triển và tác động của cách mạng công nghiệp 4.0 đến một số ngành kinh tế ở Việt Nam

Chương 3: Giải pháp phát triển một số ngành kinh tế của Việt Nam trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0

Trang 7

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0 VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0

1.1 Tổng quan về cách mạng công nghiệp 4.0

1.1.1 Khái niệm về cách mạng công nghiệp 4.0

Trong lực lượng sản xuất, khoa học công nghệ chiếm vai trò ngày càng quan trọng do ảnh hưởng mạnh mẽ và trực tiếp đến cả trình độ người lao động và trình độ công cụ lao động Lực lượng sản xuất phát triển đến một mức độ nhất định, đủ về lượng sẽ làm quan hệ sản xuất thay đổi về chất Từ “cách mạng” lại có nghĩa là một sự thay đổi đột ngột và căn bản Khi những công nghệ và cách thức mới trong việc nhận thức thế giới gây ra sự thay đổi sâu sắc trong hệ thống kinh tế và cấu trúc xã hội Thời điểm đó, một cuộc cách mạng công nghiệp ra đời

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất từ khoảng năm 1784 sử dụng năng lượng nước và hơi nước để cơ giới hoá sản xuất Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất được bắt đầu bằng việc xây dựng các tuyến đường sắt và phát minh ra động cơ hơi nước Phát minh này của James Watt, được công bố vào khoảng năm 1775, đã châm ngòi cho sự bùng nổ của công nghiệp thế kỷ 19 lan rộng từ Anh đến châu Âu và Hoa

Kỳ Cuộc cách mạng công nghiệp đầu tiên đã mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử nhân loại - kỷ nguyên sản xuất cơ khí

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất đã thay thế hệ thống kỹ thuật cũ có tính truyền thống của thời đại nông nghiệp, chủ yếu dựa vào gỗ, sức mạnh cơ bắp, sức nước, sức gió và sức kéo động vật bằng một hệ thống kỹ thuật mới với nguồn động lực

là máy hơi nước và nguồn nguyên, nhiên vật liệu và năng lượng mới là sắt và than đá

Nó khiến lực lượng sản xuất được thúc đẩy phát triển mạnh mẽ, tạo nên tình thế phát triển vượt bậc của nền công nghiệp và nền kinh tế Đây là giai đoạn quá độ từ nền sản xuất nông nghiệp sang nền sản xuất cơ khí trên cơ sở khoa học Tiền đề kinh tế chính của bước quá độ này là sự chiến thắng của các quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, còn tiền đề khoa học là việc tạo ra nền khoa học mới, có tính thực nghiệm nhờ cuộc cách mạng trong khoa học vào thế kỷ 17

Trang 8

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai từ khoảng năm 1870 đến khi Thế chiến I nổ ra, sử dụng năng lượng điện để tạo nên nền sản xuất quy mô lớn Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai diễn ra khi có sự phát triển của ngành điện, vận tải, hóa học, sản xuất thép và đặc biệt là sản xuất và tiêu dùng hàng loạt Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai đã tạo nên những tiền đề mới và cơ sở vững chắc để phát triển nền công nghiệp ở mức cao hơn nữa Cuộc cách mạng này được chuẩn bị bằng quá trình phát triển 100 năm của các lực lượng sản xuất trên cơ sở của nền sản xuất đại cơ khí và bằng sự phát triển của khoa học trên cơ sở kỹ thuật Yếu tố quyết định của cuộc cách mạng này là chuyển sang sản xuất trên cơ sở điện - cơ khí và sang giai đoạn tự động hoá cục bộ trong sản xuất, tạo ra các ngành mới trên cơ sở khoa học thuần tuý, biến khoa học thành một ngành lao động đặc biệt Cuộc cách này đã mở ra kỷ nguyên sản xuất hàng loạt, được thúc đẩy bởi sự ra đời của điện và dây chuyền lắp ráp Công nghiệp hóa thậm chí còn lan rộng hơn tới

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba xuất hiện vào khoảng từ 1969, với sự

ra đời và lan tỏa của công nghệ thông tin, sử dụng điện tử và công nghệ thông tin để tự động hoá sản xuất Cuộc cách mạng này thường được gọi là cuộc cách mạng máy tính hay cách mạng số bởi vì nó được xúc tác bởi sự phát triển của chất bán dẫn, siêu máy tính, máy tính cá nhân và Internet Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba có hai điểm khác biệt chủ yếu so với các cuộc cách mạng đi trước, nhất là so với cách mạng công nghiệp lần thứ hai, đó là: Nếu trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất, khái niệm tự động hóa chưa xuất hiện, chỉ nhen nhóm bằng việc thay thế chức năng lao động của con người bằng máy móc cơ khí, đến cách mạng công nghiệp lần thứ hai khái niệm tự động hóa lại khiêm tốn dừng lại ở tự động hóa một phần, hay tự động hóa cục

bộ thì cách mạng công nghiệp lần thứ ba đã ghi tên mình vào lịch sử bằng việc thay thế phần lớn và hầu hết chức năng của con người bằng các thiết bị máy móc tự động hoá hoàn toàn trong quá trình sản xuất nhất định

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba đã tạo điều kiện tiết kiệm các tài nguyên thiên nhiên và các nguồn lực xã hội, cho phép chi phí tương đối ít hơn các

Trang 9

phương tiện sản xuất để tạo ra cùng một khối lượng hàng hoá tiêu dùng “Nếu cuộc cách mạng công nghiệp đầu tiên đã mang đến hàng loạt công trình đô thị, chung cư, tòa nhà chọc trời, các nhà máy nhiều tầng, còn Cuộc cách mạng công nghiệp lần hai tạo nên các khu ngoại ô bằng phẳng và khu công nghiệp, cuộc cách mạng công nghiệp lần

ba đang biến mỗi tòa nhà hiện tại thành công trình hai mục đích – làm môi trường sống

và nhà máy điện mini

Tại Châu Âu cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 thường được biết đến hơn với cái tên công nghiệp 4.0 Thuật ngữ công nghiệp 4.0 bắt nguồn từ báo cáo kết quả

“Nhận dạng những xu thế công nghệ cao tương lai có tác động lớn đến xã hội” - Một nhiệm vụ nghiên cứu khoa học do Liên hiệp các hội khoa học Đức thực hiện theo đặt hàng nghiên cứu của Bộ Giáo dục và Nghiên cứu Liên bang Đức trong năm 2010 Theo đó, công nghiệp 4.0 là thuật ngữ để mô tả một trong những tác nhân có vai trò chủ chốt trong việc cách mạng hóa việc tổ chức các chuỗi giá trị toàn cầu như thế nào Bằng cách kích hoạt các nhà máy thông minh, công nghiệp 4.0 tạo ra một thế giới mà ở trong đó các hệ thống sản xuất ảo và vật lý trên toàn cầu có thể liên kết với nhau một cách linh hoạt Điều này cho phép việc hoàn toàn tùy biến các sản phẩm và tạo ra các

mô hình hoạt động mới

Tuy nhiên, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 không chỉ là về máy móc và hệ thống thông minh và được kết nối Phạm vi của nó rộng lớn hơn nhiều Theo Klaus Schwab (2016), có thể hiểu đơn giản về cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 như sau:

“Nếu như cuộc cách mạng công nghiệp đầu tiên sử dụng năng lượng nước và hơi nước

để cơ giới hóa sản xuất; cuộc cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai diễn ra nhờ ứng dụng điện năng để sản xuất hàng loạt; cuộc cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba sử dụng điện tử và công nghệ thông tin để tự động hóa sản xuất; thì bây giờ cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang nảy nở từ cuộc cách mạng lần ba, nó kết hợp các công nghệ lại với nhau, làm mờ ranh giới giữa vật lý, kỹ thuật số và sinh học” Lĩnh vực vật lý với xe tự lái, công nghệ in 3D, Robot cao cấp và vật liệu mới; Lĩnh vực Kỹ thuật số với trí tuệ nhân tạo (AI), Internet kết nối vạn vật (IoT),

Trang 10

Dữ liệu lớn (Big Data) và lĩnh vực sinh học với công nghệ nano là những trụ cột chính, nhất định phải kể đến của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 Những nền tảng trên không phải là quá mới, có thể đã nhen nhóm từ trước thời kỳ công nghiệp 4.0 nhưng sau một thời gian ngừng trệ với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba, nó đã trở nên ngày càng phức tạp và được tích hợp nhiều hơn, và chính sự tích hợp, đồng bộ này mới cho kết quả là đang làm biến đổi cách vận hành của xã hội và nền kinh tế toàn cầu chứ không phải bản thân các công nghệ riêng rẽ Tóm lại, trong phạm vi nghiên cứu này, cách mạng công nghiệp 4.0 có thể được định nghĩa là: Cách mạng công nghiệp 4.0 là cuộc cách mạng công nghiệp kế thừa những thành tựu của khoa học – công nghệ hiện có, theo hướng kết hợp hệ thống thực (hệ thống vật lý) và ảo (hệ thống mạng/số), xóa bỏ ranh giới giữa vật lý, kỹ thuật số và sinh học, tạo ra giá trị

1.1.2 Đặc trưng của cách mạng công nghiệp 4.0

Thứ nhất, cách mạng công nghiệp 4.0 đặc trưng bởi sự kết hợp giữa các hệ thống ảo và thực thể

Khái niệm hệ thống thực ảo (CPS) được nhắc đến đầu tiên trong các tài liệu của người Đức nhằm làm rõ một khái niệm vĩ mô hơn – khái niệm cách mạng công nghiệp 4.0 của mình Theo đó hệ thống CPS được hiểu là các công nghệ kết nối thế giới vật lý với thế giới số thông qua các cảm biến hiện đại được gắn vào các thiết bị vật

lý và các công nghệ kết nối mạng thu thập dữ liệu

Mặc dù nếu bàn sâu hơn về khía cạnh kỹ thuật, cách mạng công nghiệp 4.0 có thể có những tên gọi khác tùy theo bản chất của các chuyên ngành khác nhau Chẳng hạn, với các chuyên gia công nghệ thông tin thì cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ là kỷ nguyên số hóa, với các chuyên gia mạng máy tính, cách mạng công nghiệp 4.0 được coi là kỷ nguyên Internet công nghiệp, là kỷ nguyên của tự động hóa thông minh với các chuyên gia tự động hóa, hay với các nhà sản xuất kinh doanh hay cung ứng dịch vụ thì cách mạng công nghiệp 4.0 có thể được gọi là kỷ nguyên của sản xuất thông minh/ trang trại thông minh, nhà máy thông minh, sản phẩm thông minh hoặc dịch vụ thông minh… Nhưng dù cho có được gọi tên là gì đi chăng nữa, bản chất của cách mạng

Trang 11

công nghiệp 4.0 vẫn là dựa trên các thành tựu của khoa học - công nghệ hiện có, kết hợp mạnh mẽ các hệ thống thực (hệ thống vật lý) với hệ thống ảo (hệ thống mạng, số) tạo ra giá trị

Giá trị ở đây không phải là thứ gì quá to lớn, vĩ mô, là thứ chỉ có các nhà hoạch định chính sách quan tâm, cách mạng công nghiệp 4.0 với đặc trưng là sự kết hợp hệ thống thực ảo có thể đem lại lợi ích cho tất cả mọi người, nhất là các doanh nghiệp nếu biết cách khai thác các thành tựu của nó nhằm đem lại giá trị cho bản thân Một người nông dân, biết khai thác các tính năng của điện thoại thông minh để tra cứu thời tiết, một nhà sản xuất, cung cấp dịch vụ biết khai thác các công nghệ hiện đại có để tích hợp nhiều tính năng, công dụng, bổ sung, gia tăng giá trị cho các dịch vụ, sản phẩm truyền thông của mình; một cơ quan công quyền sử dụng các phần mềm quản lý hồ sơ, giấy

tờ, tin học hóa công tác văn phòng, lễ tân, đẩy mạnh giao tiếp trực tuyến, tất cả đều là biểu hiện của việc ứng dụng công nghệ 4.0 để tạo ra giá trị

Thứ hai, cách mạng công nghiệp 4.0 đặc trưng bởi tính tích hợp theo chiều dọc trong các nhà máy thông minh

Kể từ khi Siemens cho ra mắt hình mẫu Nhà máy điện tử Amberg Siemens được số hóa hoàn toàn tại Đức và tháng 9/2013, năm 2014 họ đã khánh thành thêm Nhà máy Sản xuất Điện tử Siemens Thành Đô tại Trung Quốc, thì có thể nói rằng Nhà máy số đã là hiện thực Nhà máy điện tử Amberg Siemens được thành lập năm 1989 Nhà máy là nơi sản xuất chuỗi các sản phẩm trong đó có Bộ điều khiển logic khả trình

Kể từ khi áp dụng kỹ thuật số hoàn toàn, đã có hơn 1.000 chủng loại sản phẩm được sản xuất tại Nhà máy Điện tử Amberg Quá trình sản xuất hoàn toàn tự động nhờ các thiết bị máy móc điều khiển và các dây chuyển sản xuất tự động thông minh, do vậy tiết kiệm được không chỉ thời gian tiền bạc mà còn tăng được chất lượng sản phẩm Quá trình sản xuất tại Nhà máy điện tử Amberg được kiểm soát bởi thiết bị điều khiển Simatic Theo thống kê, hệ thống vận chuyển hoàn toàn tự động đảm bảo nguyên liệu được đưa từ nhà kho đến máy sản xuất trong vòng 15 phút; Nhà máy vận hành 3 ca mỗi ngày, với hơn 3.000.000 sản phẩm được xuất xưởng mỗi năm; mặc dù diện tích

Trang 12

sản xuất không đổi và số lao động hầu như không đổi, nhưng nhà máy đã tăng sản lượng gấp 8 lần; Nhà máy sản xuất khoảng 15 triệu sản phẩm Simatic mỗi năm và mỗi ngày có khoảng 60.000 sản phẩm được phân phối cho khách hàng trên toàn thế giới

TạiNhà máy điện tử Amberg, máy móc và máy tính đã xử lý tới 75% chuỗi giá trị sản phẩm, còn con người chủ yếu lo phát triển sản phẩm và khởi động quá trình sản xuất Quá trình sản xuất này được tự động hóa thông qua khoảng 1.000 bộ điều khiển Simatic để kiểm soát, từ lúc bắt đầu cho tới khâu phân phối và chắc chắn là có sự tham gia của kỹ thuật IT Nhờ đó mà các sản phẩm ra đời với năng suất và chất lượng vượt trội, đạt tới 99,9988%

Đặc trưng thứ hai của ngành công nghiệp 4.0 là mạng lưới các hệ thống sản xuất thông minh theo chiều dọc trong các nhà máy tương lai Mạng lưới dọc này sử dụng nền tảng và ý tưởng về hệ thống thực ảo CPS để phát triển thành hệ thống trong các nhà máy thông minh Khái niệm điện thoại thông minh, căn nhà thông minh, các thiết bị thông minh riêng rẽ vốn đã nhen nhóm và phát triển nhất định trong thời kỳ cuộc cách mạng công nghiệp thứ ba, thế nhưng tích hợp chúng vào trong một dây chuyền sản xuất hay vào chuỗi hoạt động của một doanh nghiệp lại là đặc điểm đặc trưng chỉ có ở thời kỳ công nghệ 4.0

Các hệ thống sản xuất vật lý không gian mạng giờ đây sẽ cho phép các nhà máy phản ứng nhanh chóng với những thay đổi về nhu cầu hoặc mức tồn kho và lỗi Các nhà máy thông minh tự tổ chức và cho phép việc sản xuất được cụ thể hóa và cá nhân hóa đến từng khách hàng Điều này đòi hỏi dữ liệu phải được tích hợp rộng rãi Công nghệ cảm biến thông minh cũng cần thiết để giúp theo dõi và tổ chức tự trị Hệ thống thực ảo vừa cho phép tổ chức tự quản lý sản xuất lại vừa tự quản lý bảo trì Tài nguyên và sản phẩm được nối mạng, và các tài liệu và bộ phận có thể được đặt ở mọi nơi và bất kỳ lúc nào Tất cả các giai đoạn xử lý trong quá trình sản xuất đều được ghi lại, với các sai biệt được tự động ghi nhận và lưu lại để sử dụng khi cần thiết hay phát sinh lỗi Các sửa đổi đối với các đơn đặt hàng, biến động về chất lượng hay sự cố máy móc đều được xử lý nhanh và chính xác hơn do tự động hóa Quy trình này cũng cho

Trang 13

phép hao mòn trên các vật liệu được giám sát hiệu quả hơn và có các biện pháp xử lý trước kịp thời Sau cùng, chất thải sẽ được hạn chế

Lấy ví dụ về mô hình nhà máy thông minh này Nếu như thời công nghệ thông tin mới nhen nhóm, một nhà máy chỉ dùng Internet như một công cụ kết nối con người thông qua email, tra cứu tin tức thì khi phát triển đến trình độ cao trong việc ứng dụng công nghệ 4.0, nhà máy đó có thể dùng Internet kết hợp với mạng không dây, kết nối với các camera giám sát tại các phân xưởng và bộ phận quản lý nhằm giám sát và điều hành trực tuyến quá trình sản xuất Sau đó các công đoạn sản xuất đơn giản, lặp đi lặp lại do con người đảm nhiệm sẽ được thay thế hoàn toàn bằng các thiết bị, máy móc hay thậm chí là robot Trong mỗi máy móc và robot lúc này lại được gắn thêm các cảm biến giúp có thể tương tác với nhau và bản thân các máy móc cũng như cảm biến đó có thể di chuyển đến bất cứ vị trí nào phù hợp với tính linh hoạt của các dây chuyền hay quy trình sản xuất và tự ra các quyết định tối ưu trong quá trình sản xuất cũng như quá tình tương tác với các thiết bị và con người trong nhà máy Khi đó mô hình của một nhà máy thông minh được hoàn chỉnh và đó chính là tính tích hợp theo chiều dọc trong các nhà máy thông minh - đặc trưng cơ bản của cách mạng công nghiệp 4.0

Thứ ba, cách mạng công nghiệp 4.0 đặc trưng bởi tính tích hợp theo chiều ngang qua sự xuất hiện mạng lưới chuỗi giá trị toàn cầu mới

Đặc trưng thứ ba phải kể đến của cách mạng công nghiệp 4.0 là tính tích hợp theo chiều ngang thông qua một thế hệ mạng lưới chuỗi giá trị toàn cầu mới Các mạng lưới tạo giá trị mới này là hệ thống được tối ưu hóa theo thời gian thực (real time) cho phép tích hợp tính minh bạch và thông suốt, cung cấp một mức độ linh hoạt cao để phản hồi nhanh hơn với các các sự cố hay lỗi bất ngờ, từ đó tạo điều kiện tối ưu hóa toàn cầu tốt hơn

Điều này được tiến hành như thế nào? Tương tự như các hệ thống sản xuất được nối mạng, các mạng (cục bộ và toàn cầu) này cung cấp các kết nối thông qua hệ thống thực ảo từ hậu cần trong nước thông qua kho bãi, sản xuất, marketing và bán hàng đến các dịch vụ logistics quốc tế và dịch vụ xuôi dòng Lịch sử của bất kỳ phần

Trang 14

nào hoặc sản phẩm nào đều được ghi lại và cơ sở dữ liệu này có thể truy cập lại bất cứ lúc nào khi có sự cố xảy ra hay đơn giản muốn kiểm tra Đây chính là nội dung và ứng dụng của khái niệm “bộ nhớ sản phẩm” hay được nhắc đến ở thời đại mới này

Tính tích hợp theo chiều ngang của cách mạng công nghiệp 4.0 tạo ra sự minh bạch và linh hoạt trên toàn chuỗi xử lý - từ mua qua sản xuất rồi bán hoặc từ nhà cung cấp qua công ty rồi đến khách hàng Các thay đổi sao cho tối ưu đến từng khách hàng

có thể được thực hiện không chỉ trong sản xuất mà còn trong toàn bộ chuỗi phát triển, đặt hàng, lập kế hoạch, lên thành phần và phân phối các sản phẩm, tạo điều kiện cho các yếu tố như chất lượng, thời gian, rủi ro, giá cả và tính bền vững về môi trường sẽ được xử lý một cách linh động, theo thời gian thực và ở tất cả các giai đoạn của chuỗi giá trị

Thứ tư, cách mạng công nghiệp 4.0 đặc trưng bởi tính tăng tốc thông qua các

“công nghệ mũ”

Đặc điểm chính thứ tư của Cách mạng Công nghiệp 4.0 là sự xuất hiện của các công nghệ mũ Công nghệ mũ ở đây được hiểu là các công nghệ tiên tiến cho phép kết quả hoặc hiệu suất đầu ra qua mỗi chu kỳ tăng gấp đôi với chi phí chỉ bằng một nửa Máy vi tính là ví dụ đầu tiên về công nghệ mũ Định luật Moore đã chỉ ra rằng: Số lượng transistor trên mỗi đơn vị inch vuông sẽ tăng lên gấp đôi sau mỗi 18 tháng Định luật này là một bước ngoặt lớn trong ngành công nghệ điện tử, nó đã đưa ra lời giải thích về vấn đề tại sao nhà sản xuất có thể giảm giá thành trong khi vẫn tiếp tục nâng cao hiệu suất của phần cứng Trong giai đoạn cách mạng công nghiệp 4.0, có rất nhiều công nghệ mũ khác ra đời, như in 3D, máy bay không người lái, rô bốt, trí thông minh nhân tạo, sinh học tổng hợp Các công nghệ này tạo động lực cho các cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư không diễn ra với tốc độ tuyến tinh bình thường như các cuộc cách mạng công nghiệp trước đây mà phát triển rất nhanh theo cấp số nhân

Việc ra đời ngày càng nhiều công nghệ mũ trở thành chất xúc tác cho phép xuất hiện các giải pháp được cá nhân hóa, nâng cao tính tính linh hoạt và tiết kiệm chi phí trong các quy trình công nghiệp Cụ thể:

Trang 15

- Công nghiệp 4.0 đã yêu cầu các giải pháp tự động hóa có tính nhận thức và

tự chủ cao Trí tuệ nhân tạo (AI), robot tiên tiến và công nghệ cảm biến có khả năng tăng tính tự chủ hơn nữa và tăng tốc độ cá nhân hóa và linh hoạt

- AI không chỉ giúp lập kế hoạch cho các nhà máy và kho linh hoạt hơn, tiết kiệm thời gian và chi phí trong quản lý chuỗi cung ứng, tăng độ tin cậy trong sản xuất hoặc phân tích dữ liệu lớn, mà còn giúp tìm ra giải pháp thiết kế và xây dựng mới sự hợp tác giữa con người và máy móc đến điểm dịch vụ

- Vật liệu nano và vật liệu nano chức năng cũng có thể được sử dụng trong các chức năng kiểm soát sản xuất để quản lý chất lượng hiệu quả hơn hoặc cho phép sản xuất rô bốt thế hệ tiếp theo được tiến hành cùng lúc với việc đảm bảo an toàn cho con người

- Robot bảo dưỡng bay trong các phòng sản xuất và việc sử dụng máy bay để tiến hành các nghiệp vụ liên quan đến hàng tồn kho và cung cấp phụ tùng thay thế, vào bất kỳ thời điểm nào trong ngày hay đêm và ở bất kỳ địa hình và thời tiết nào, sẽ là các ứng dụng mà trong tương lai được tiến hành hàng ngày trong các nhà máy tự trị và thông minh trong tương lai

- In 3D cũng cho phép ra đời nhiều giải pháp sản xuất mới (ví dụ chức năng, tăng tính tinh vi mà không cần thêm chi phí) hoặc các giải pháp chuỗi cung ứng mới (ví dụ giảm hàng tồn kho, thời gian giao hàng nhanh hơn), hoặc kết hợp cả hai dẫn đến phá vỡ các mô hình kinh doanh

Nền tảng các công nghệ mũ đã đem đến và hứa hẹn sẽ đem đến một cách mạng công nghiệp 4.0 phát triển với tốc độ chưa từng thấy, làm biến đổi sâu sắc cuộc sống của con người Cuộc cách mạng này kết hợp nhiều công nghệ dẫn đến những thay đổi chưa có tiền lệ trong mô hình kinh tế, kinh doanh, xã hội, và cá nhân Nó không chỉ thay đổi mục đích làm việc và cách thức thực hiện, mà còn thay đổi chính con người chúng ta

Trang 16

1.2 Tác động của cách mạng công nghiệp 4.0

1.2.1 Tác động đến Chính phủ

Khi thế giới vật lý, kỹ thuật số và sinh học đang tiếp tục xích lại gần nhau hơn thì công nghệ và thiết bị sẽ ngày càng cho phép người dân tiếp cận gần hơn tới Chính phủ để nêu ý kiến, cùng phối hợp hoạt động Đồng thời, các Chính phủ cũng sở hữu sức mạnh về công nghệ để tăng cường sự lãnh đạo của mình đối với người dân dựa trên những hệ thống giám sát rộng rãi và khả năng điểu khiển hạ tầng số Tuy nhiên, xét về tổng thể, các Chính phủ sẽ ngày càng phải đối mặt với áp lực phải thay đổi cách thức tiếp cận hiện nay của họ đối với sự tham gia của công chúng và quy trình đưa ra quyết định khi vai trò trung tâm của họ trong việc thực thi chính sách suy giảm trước sự xuất hiện của các nguồn cạnh tranh mới, sự phân phối lại và phân bổ quyền lực dưới sự hỗ trợ đắc lực của công nghệ

Xét cho cùng, khả năng các cơ quan Chính phủ và tổ chức xã hội có thể thích ứng sẽ quyết định sự tồn tại của họ Nếu chứng minh được khả năng có thể bắt kịp một thế giới với những thay đổi đột phá, cải thiện cơ cấu để đạt mức minh bạch và hiệu quả

để cho phép họ duy trì được lợi thế cạnh tranh của mình, họ sẽ tồn tại Ngược lại, nếu không thể cải thiện, họ sẽ phải đối mặt với ngày càng nhiều vấn đề Các hệ thống chính sách công và quy trình ra quyết định hiện nay được phát triển cùng với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai khi các nhà hoạch định chính sách có thời gian để nghiên cứu một vấn đề cụ thể và đưa ra cách ứng phó cần thiết hoặc khuôn khổ quy định phù hợp Toàn bộ quá trình này được vận hành trơn tru và có hệ thống, theo mô hình chặt chẽ từ cao xuống thấp (Babiceanu, 2016)

Tuy nhiên, một cách thức như vậy hiện nay không còn khả thi Trước tốc độ thay đổi nhanh chóng và tác động sâu rộng của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, các nhà lập pháp và điều hành đang bị thử thách ở một mức độ chưa từng có tiền lệ và phần lớn trong số đó chưa cho thấy khả năng ứng phó tốt Họ có thể xây dựng một quy trình quản lý năng động giống như việc khu vực tư nhân đang ngày càng có ứng phó linh hoạt trước sự phát triển của phần mềm và hoạt động của các doanh nghiệp nói chung

Trang 17

Điều này có nghĩa là các nhà lập pháp phải không ngừng thích nghi với môi trường mới và biến đổi nhanh chóng, đồng thời phải trau dồi bản thân để thực sự hiểu rõ họ đang điều hành cái gì Để làm được vậy, các chính phủ và cơ quan lập pháp cần có sự hợp tác chặt chẽ với các doanh nghiệp và công dân của mình

1.2.2 Tác động đến xã hội

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư sẽ thay đổi không chỉ những gì chúng

ta làm mà cả ngay chính con người chúng ta Nó sẽ làm thay đổi bản sắc của chúng ta

và tất cả những vấn đề liên quan tới bản sắc đó, bao gồm: Sự riêng tư, ý thức về sự sở hữu, phương thức tiêu dùng, thời gian chúng ta dành cho công việc và giải trí, và cách thức chúng ta phát triển sự nghiệp, trau dồi kỹ năng, gặp gỡ mọi người và củng cố các mối quan hệ Nó đã và đang làm thay đổi sức khỏe của chúng ta và dẫn tới một cái tôi nhất định, và có thể dẫn tới sự gia tăng dân số nhanh hơn chúng ta nghĩ (Ross, 2010)

Điều đó sẽ đặt ra câu hỏi liệu sự hội nhập tất yếu của công nghệ trong cuộc sống có thể làm suy giảm một số bản năng tinh túy của con người, chẳng hạn như lòng thương cảm và sự hợp tác Mối quan hệ của chúng ta với điện thoại di động là một trường hợp như vậy Sự kết nối thường xuyên liên tục với điện thoại di động có thể cô lập chúng ta khỏi một trong những tài sản quan trọng nhất của cuộc sống, đó là thời gian để ngừng nghỉ, suy ngẫm hay đơn giản là tham gia vào một cuộc hội thoại có ý nghĩa

Một trong những thách thức mang tính cá nhân lớn nhất mà các công nghệ thông tin mang lại là sự riêng tư Thông tin về cá nhân sẽ dễ dàng để tra cứu và tìm kiếm vì chúng ta buộc phải kết nối với các hệ thống điện tử Tương tự, các cuộc cách mạng diễn ra trong lĩnh vực công nghệ sinh học và trí thông minh nhân tạo giúp định nghĩa lại con người là gì bằng cách hạ thấp những giới hạn hiện tại về tuổi thọ, sức khỏe, nhận thức và năng lực Chúng buộc chúng ta phải định hình lại những ranh giới

về đạo đức và phẩm hạnh (Tao, 2018)

Nói tóm lại, tất cả đều quy về con người và giá trị Chúng ta cần hình thành nên một tương lai phục vụ cho tất cả chúng ta, trong đó, vị trí của người dân là trên hết

Trang 18

và họ được tăng thêm quyền lực Trong viễn cảnh bi quan và phi nhân đạo nhất, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư có thể robot hóa con người và từ đó tước bỏ tâm hồn

và trái tim của chúng ta Tuy nhiên, cuộc cách mạng công nghiệp này cũng có thể dẫn đến những vấn đề về đạo đức mang tính tập thể

1.2.3 Tác động đến doanh nghiệp

Cuộc CMCN lần thứ tư có bốn tác động chính đối với doanh nghiệp: (i) Những

kỳ vọng của khách hàng; ii) Nâng cao sản phẩm; (iii) Đổi mới hợp tác và (iv) Các hình thức tổ chức Cho dù là người tiêu dùng hay doanh nghiệp, thì khách hàng đang ngày càng trở thành trung tâm của nền kinh tế, tất cả đều nhằm làm thế nào cải thiện cách thức phục vụ khách hàng Hơn nữa, các sản phẩm vật chất và dịch vụ giờ đây có thể được tăng cường với khả năng số làm tăng giá trị của chúng Các công nghệ mới làm cho tài sản bền và linh hoạt hơn, còn dữ liệu và phân tích đang thay đổi cách thức chúng được duy trì Trong khi đó, một thế giới những trải nghiệm của khách hàng, các dịch vụ dựa trên dữ liệu và hiệu suất tài sản thông qua phân tích đòi hỏi phải có các hình thức hợp tác mới, đặc biệt là với tốc độ đang diễn ra của đổi mới và phá hủy Và cuối cùng, sự xuất hiện của các nền tảng toàn cầu và các mô hình kinh doanh mới khác

có nghĩa là tài năng, văn hóa và hình thức tổ chức sẽ phải được xem xét lại (Kagermann và cộng sự, 2013)

Một số lĩnh vực tác động quan trọng nổi lên: kỳ vọng của người tiêu dùng, dữ liệu/thông tin sản phẩm, hợp tác đổi mới và các mô hình hoạt động mới, các dịch vụ và

mô hình kinh doanh, độ tin cậy và năng suất liên tục, an toàn công nghệ thông tin, an toàn trong hoạt động của cơ khí, vòng đời sản phẩm, chuỗi giá trị công nghiệp, giáo dục và kỹ năng lao động cho công nhân

Về phía cung, nhiều ngành công nghiệp đang cho thấy sự ra đời của các công nghệ mới tạo ra những phương thức hoàn toàn mới đáp ứng các nhu cầu hiện tại và phá

vỡ đáng kể các chuỗi giá trị công nghiệp hiện có Sự phá hủy cũng xuất hiện từ những đối thủ cạnh tranh sáng tạo, nhanh nhạy, những người nhờ tiếp cận với các nền tảng kỹ thuật số toàn cầu cho nghiên cứu, triển khai, tiếp thị, bán hàng và phân phối, có thể lật

Trang 19

đổ những người đương nhiệm nhanh hơn bao giờ hết bằng cách cải thiện chất lượng, tốc độ, hay giá cả đối với giá trị cung cấp (Kortmann, 2016) Những thay đổi lớn về phía cầu cũng đang xảy ra, như minh bạch ngày càng tăng, sự tham gia của người tiêu dùng, và các hình mẫu mới về hành vi của người tiêu dùng (ngày càng được xây dựng dựa trên sự truy cập vào các mạng di động và dữ liệu) buộc các công ty thích nghi với cách họ thiết kế, tiếp thị và cung cấp các sản phẩm và dịch vụ

Một xu hướng chính là sự phát triển của các nền tảng công nghệ tạo khả năng, cho phép kết hợp cả cung và cầu để phá vỡ cấu trúc ngành công nghiệp hiện có, chẳng hạn như những nền tảng mà chúng ta thấy trong nền kinh tế chia sẻ hoặc "theo yêu cầu" Những nền tảng công nghệ dễ dàng sử dụng với các điện thoại thông minh, tập hợp con người, tài sản, và dữ liệu - do đó tạo ra những cách thức tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ hoàn toàn mới trong quá trình này Ngoài ra, chúng hạ thấp các rào cản đối với các doanh nghiệp và cá nhân để tạo ra sự giàu có, làm thay đổi môi trường cá nhân và chuyên môn của người lao động Các doanh nghiệp nền tảng mới này đang nhanh chóng nhân ra nhiều dịch vụ mới, từ giặt là đến mua sắm, từ việc nhà đến đỗ xe, từ thư giãn đến du lịch

Nhìn chung, sự thay đổi không tránh khỏi từ số hóa đơn giản (cuộc CMCN lần thứ ba) sang đổi mới dựa trên sự kết hợp của các công nghệ (CMCN lần thứ tư) đang buộc các công ty phải xem xét lại cách thức kinh doanh Tuy nhiên, điểm mấu chốt là như nhau: các nhà lãnh đạo kinh doanh và điều hành cấp cao cần phải hiểu môi trường thay đổi của họ, thách thức các giả định của nhóm điều hành của họ, đổi mới không ngừng và liên tục

Các chuyên gia cho rằng, trong tương lai không xa, sản phẩm, con người và máy móc sẽ giao tiếp với nhau như trên mạng xã hội Để duy trì tính cạnh tranh, các nhà máy sẽ phải cung cấp các thiết kế tùy chỉnh và có khả năng thay đổi sản phẩm nhanh chóng; sử dụng IoT và các công nghệ khác để số hóa toàn bộ qui trình, rút ngắn thời gian đưa sản phẩm ra thị trường; hợp nhất mạng lưới sản xuất dùng giải pháp quản lý vòng đời sản phẩm dựa trên Internet để nhân viên có thể làm việc thông qua mạng;

Trang 20

dùng robot bán tự động làm việc bên cạnh con người để tăng năng suất và vẫn đảm bảo chất lượng; phân tích dữ liệu thu thập được về khách hàng để cung cấp các dịch vụ kỹ thuật số mới (Mülle , 2018)

Một đặc điểm khác của cuộc CMCN lần thứ tư là số vốn đầu tư ban đầu có thể không lớn, nhưng lợi nhuận thu về cao Ví dụ trường hợp của WhatsApp, khởi đầu với nhóm nhỏ nhà đầu tư, vốn bỏ ra cũng nhỏ nhưng đến nay được định giá rất lớn Tháng 2/2014, Facebook đã đồng ý chi 22 tỷ USD cho công ty có 55 nhân viên này Trong khi

đó, hãng hàng không Hoa Kỳ United Continental có giá thị trường cũng chỉ là 22 tỷ USD tính đến tháng 12/2015, nhưng có tới 82.300 nhân viên Giá trị doanh nghiệp lên đến 400 triệu USD cho mỗi nhân viên như ở WhatsApp là ví dụ về khả năng thu lời lớn

từ các mô hình kinh doanh vốn thấp trong tương lai

Một ví dụ khác là Airbnb và Uber Việc phát triển ngày một rộng của Internet vạn vật cho phép các công ty này tiếp cận tốt hơn với từng đơn vị, từ đó có thể theo dõi

và đánh giá hiệu quả của họ trong thời gian thực Như vậy, với cuộc CMCN lần thứ tư, các doanh nghiệp có thể khởi nghiệp dễ dàng hơn, vốn ít hơn trong khi mang lại lợi nhuận lớn trong thời gian ngắn hơn Chẳng hạn, hãng sản xuất tất bó Bombsheller có trụ sở tại Seattle, Washington do Pablos Holman, một lập trình viên sáng lập, là nhà máy sản xuất tất bó theo đơn đặt hàng lập trình hoàn toàn đầu tiên trên thế giới Mẫu

mã được nhà thiết kế đưa lên mạng bán trực tuyến trong vòng một giờ và hàng được phân phối trong vòng một ngày

1.2.4 Tác động đối với thị trường lao động

Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra, cuộc cách mạng này cũng có thể tạo ra sự bất công lớn hơn, đặc biệt là gây ra nguy cơ phá vỡ thị trường lao động Khi tự động hóa thay thế con người trong toàn bộ nền kinh tế, người lao động sẽ bị dư thừa và điều đó làm trầm trọng hơn khoảng cách giữa lợi nhuận so với đồng vốn và lợi nhuận so với sức lao động Mặt khác, xét về tổng thể, các công việc an toàn và thu nhập cao hơn có thể sẽ gia tăng sau khi công nghệ thay thế dần con người Cho tới nay, chúng ta chưa thể dự đoán được khả năng nào sẽ xảy ra, nhưng lịch sử đã cho thấy kết quả thường là

Trang 21

sự kết hợp của cả hai viễn cảnh đó Tuy nhiên, trong tương lai, năng lực, chứ không phải nguồn vốn, sẽ trở thành nhân tố cốt lõi của nền sản xuất

Điều này sẽ tạo nên một sự gia tăng trong thị trường việc làm và ngày càng phân hóa theo hai nhóm: Nhóm kỹ năng thấp/trả lương thấp và nhóm kỹ năng cao/trả lương cao Viễn cảnh này sẽ góp phần làm gia tăng những mâu thuẫn trong xã hội Dù các cuộc cách mạng công nghệ thường thổi bùng những lo ngại về thất nghiệp khi máy móc làm tất cả mọi việc, nhưng các nhà nghiên cứu của Ngân hàng UBS tin rằng việc giảm tổng số việc làm là không thể Bởi siêu tự động hóa và siêu kết nối có thể nâng cao năng suất những công việc hiện tại hoặc tạo ra nhu cầu về những công việc hoàn toàn mới

Có thể hiện nay chúng ta khó hình dung công việc trong tương lai sẽ như thế nào, nhưng các nhà nghiên cứu của UBS tin rằng tự động hóa cực cao và khả năng siêu kết nối trong ngắn hạn chắc chắn sẽ có tác động đối với lực lượng lao động Theo đó, một phần lực lượng lao động kỹ năng thấp (chẳng hạn các công nhân trong dây chuyền lắp ráp) vốn đã bị ảnh hưởng nặng nề bởi tự động hóa cơ bản trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba, nay có thể bị ảnh hưởng hơn nữa Sự ra đời của "cobots" - robot hợp tác có khả năng di chuyển và tương tác, sẽ giúp các công việc kỹ năng thấp đạt năng suất nhảy vọt Tuy nhiên, những người bị ảnh hưởng nặng nhất có thể là lực lượng lao động có kỹ năng trung bình Bởi lẽ sự phát triển của siêu tự động hóa và siêu kết nối, cộng với trí tuệ nhân tạo sẽ tác động đáng kể đến bản chất của các công việc tri thức

Tự động hóa ban đầu sẽ ảnh hưởng đến công việc văn phòng, bán hàng, dịch vụ khách hàng, và các ngành hỗ trợ Quá trình robot tự động hóa, báo cáo tự động và trợ

lý ảo sẽ trở nên phổ biến Trong ngành bảo hiểm có thể không cần sự can thiệp của con người, hầu hết truy vấn khách hàng được trả lời tự động Trong tài chính, "robot tư vấn" đã có trên thị trường Trong ngành tư pháp, máy tính có thể nhanh chóng “đọc” hàng triệu email và cắt giảm chi phí điều tra (Porter, 2014)

Trang 22

Hầu hết các chuyên gia đều cho rằng, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư sẽ tạo ra nhiều việc làm hơn là những việc làm mất đi do có cuộc cách mạng này Về lịch

sử cho thấy, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất đã tạo ra nhiều việc làm hơn số việc làm bị mất đi; cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai - cuộc cách mạng xe hơi của những năm 1890 đã tạo ra nhiều việc làm hơn số việc làm bị mất đi và cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba - cuộc cách mạng silicon của những năm 1960 và 1970 cũng đã tạo ra nhiều việc làm hơn số việc làm bị mất đi

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư sẽ tạo ra nhiều việc làm hơn là những việc làm mất đi do có cuộc cách mạng này, bởi vì:

Thứ nhất, tốc độ thay đổi công nghệ nhanh hơn bao giờ hết Nếu như trước đây phải mất 10 năm cho Thomas Newcomen cải tiến động cơ của mình trước khi công bố với thế giới vào năm 1712 và nó tác động vào các ngành công nghiệp lao động chân tay trong nhiều chục năm sau đó Ngày nay, việc cải tiến có thể đến trong 10 tháng, 10 tuần và thậm chí 10 ngày - một điện thoại iPhone sau 3 năm đã lỗi thời Do vậy, nhân lực cho nghiên cứu và phát triển và các dịch vụ liên quan sẽ gia tăng

Thứ hai, thời đại của cuộc cách mạng kỹ thuật số đang bùng nổ với hàng loạt công nghệ mới: Trí tuệ nhân tạo; Dữ liệu lớn; Internet di động; Công nghệ điện toán đám mây; robot trong công nghiệp và gia đình; IoT; xe không người lái; thiết bị bay không người lái; máy in 3D; thực tế ảo, phương pháp điều trị kỹ thuật số và máy học Trong thời gian tới danh sách này có thể sẽ được nới dài và làn sóng công nghệ mới ra đời sẽ tạo ra những làn sóng kinh doanh mới và việc làm mới

Thứ ba, hàng triệu người trên khắp thế giới có thể truy cập vào những cơ sở dữ liệu rất lớn và vì vậy những thử nghiệm và đổi mới sáng tạo sẽ không chỉ được thực hiện tại các trung tâm nghiên cứu, mà có thể ở mọi nơi và cơ hội khởi nghiệp rộng mở Những thay đổi đáng kể có thể được thực hiện bởi các cá nhân tài năng trong nhà, văn phòng của họ và nhà máy Khả năng của các nhóm nhỏ khởi nghiệp với các sản phẩm

và dịch vụ mới là thuận lợi chưa từng có Chẳng hạn ở Mỹ, 300.000 đăng ký thiết bị bay không người lái đã được thực hiện chỉ trong tháng 2/2016

Trang 23

Tuy nhiên, có điều chắc chắn là cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đe dọa

lao động kỹ năng thấp và một số công việc như hành chính, văn phòng Robot tự động

và trí tuệ nhân tạo có thể thực hiện lao động chân tay cũng như các công việc có liên

quan đến thuật toán và tổ chức và chúng không yêu cầu một mức lương, trợ cấp chăm

sóc sức khỏe, và không bị bệnh hoặc mắc một số sai lầm trong làm việc

Trang 24

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0 ĐẾN MỘT SỐ NGÀNH

KINH TẾ CỦA VIỆT NAM

2.1 Tác động của cách mạng công nghiệp 4.0 đến ngành dệt may Việt Nam

2.1.1 Đặc điểm của ngành dệt may Việt Nam

Thứ nhất, ngành dệt may là ngành có kim ngạch xuất khẩu lớn thứ hai trong cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam

Trong khoảng 5 năm gần đây, ngành dệt may liên tục có kinh ngạch xuất khẩu lớn thứ 2 trong cả nước với giá trị xuất khẩu đóng góp khoảng 15% vào GDP Trong năm 2015, kim ngạch xuất khẩu ngành dệt may Việt Nam đạt 24,5 tỷ USD Đến năm

2016, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam 26,78 tỷ USD, tăng trưởng 9,03% so với năm 2015 Năm 2017 và năm 2018, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt nam lần lượt là 28,2 tỷ USD và 31,3 tỷ USD Năm 2019, kim ngạch xuất khẩu của hàng dệt may tiếp tục tăng trưởng và đạt mức 33,67 tỷ USD

Hình 2.1 Kim ngạch xuất khẩu ngành dệt may Việt Nam giai đoạn 2015 – 2019

Kim ngạch xuất khẩu

Trang 25

Hình 2.2 Cơ cấu xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam năm 2019

Nguồn: Tổng cục Hải quan, 2019

Thứ hai, số lượng doanh nghiệp dệt may chiếm tỷ lệ lớn và mức độ sử dụng lao động cao

Ngành Dệt May Việt Nam là một trong những ngành công nghiệp mũi nhọn của Việt Nam Theo số liệu của Tổng cục Thống kê năm 2019, ngành Dệt May Việt Nam đóng góp 12% giá trị sản xuất công nghiệp toàn quốc, tạo công ăn việc làm cho 2,7 triệu lao động, chiếm tỷ lệ 25% tổng số lao động trong ngành Công nghiệp, chiếm 5% tổng số lao động Theo số liệu của Hiệp hội Dệt may Việt Nam, tính đến năm 2019, tổng số doanh nghiệp dệt may cả nước đạt hơn 9.000 doanh nghiệp, trong đó số lượng các doanh nghiệp gia công hàng may mặc là 8.876 doanh nghiệp, chiếm tỷ lệ 85%; số lượng doanh nghiệp sản xuất vải, nhuộm hoàn tất là 780 doanh nghiệp, chiếm tỷ lệ 13%; số lượng doanh nghiệp sản xuất chế biến bông, sản xuất xơ, sợi, là 119 doanh nghiệp, chiếm tỷ lệ 2% Có thể thấy, ngành dệt may Việt Nam tập trung phần lớn vào khâu gia công, do vốn bỏ ra không nhiều, trình độ công nhân may của Việt Nam có tay nghề tiên tiến Còn các khâu liên quan đến ngành công nghiệp phụ trợ dệt may như kéo sợi, dệt vải, vẫn chưa thu hút được đầu tư do cần vốn lớn, công nghệ máy móc hiện đại, công nhân tay nghề cao

Giầy dép các loại Máy móc và phụ tùng khác Thủy sản

Gỗ và sản phẩm gỗ

Trang 26

Bảng 2.1 Một số chỉ tiêu của ngành dệt may Việt Nam giai đoạn 2015 - 2019

Số lượng lao động 1.580.560 1.841.521 2.323.567 2.677.221 2.732.519

Nguồn: Tổng cục Hải quan, 2019

Phần lớn các doanh nghiệp dệt may thuộc khu vực kinh tế tư nhân (84%); tập trung ở Đông Nam Bộ (60%) và đồng bằng sông Hồng Các doanh nghiệp may chiếm khoảng 70% tổng số doanh nghiệp trong ngành với hình thức xuất khẩu chủ yếu là CMT (85%) Hiện nay ngành dệt may Việt Nam có khoảng 2,7 triệu lao động, trong đó phần lớn là lao động nữ Chỉ số năng suất lao động khu vực sản xuất dệt may của Việt Nam chỉ đạt 2,4 (thấp hơn nhiều so với các nước xuất khẩu dệt may khác, ví dụ Trung Quốc 6,9 và Indonesia là 5,2), do đó dệt may là ngành thâm dụng lao động lớn (Tổng cục thống kê, 2019)

Thứ ba, chủ yếu kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam là từ các doanh nghiệp FDI

Theo số liệu từ Bộ Công Thương, tính đến hết năm 2019 có gần 1.390 dự án FDI đầu tư với số vốn đăng ký 6,12 tỷ USD vào lĩnh vực dệt may Cao điểm trong thu hút FDI vào dệt may là giai đoạn 2015 - 2016 Chỉ tính riêng năm 2016, làn sóng dịch chuyển đầu tư dệt may để đón đầu các hiệp định thương mại lớn mà Việt Nam tham gia

đã khiến 83 dự án FDI mới đổ vào Việt Nam với số vốn đăng ký 1,64 tỷ USD, với 11

dự án sợi, 14 dự án dệt và 58 dự án may; đưa năng lực sản xuất tăng thêm khoảng 20% Các doanh nghiệp FDI chỉ chiếm 25% sản lượng sản xuất hàng dệt may nhưng lại chiếm đến gần 60% kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam trong những năm gần đây Vấn đề đặt ra là các doanh nghiệp trong nước cần thay đổi phương thức

Trang 27

sản xuất và quản lý doanh nghiệp đồng thời cần sự hỗ trợ từ phía Nhà nước để có thể bứt phá và trở thành cường quốc trong lĩnh vực này

Hình 2.3 Cơ cấu xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam theo kim ngạch xuất

khẩu giai đoạn 2015 - 2019

Nguồn: Bộ Công thương, 2019

Thứ tư, công nghệ, máy móc thiết bị dệt may của ngành dệt may Việt Nam còn nhiều hạn chế

Ngành xơ, sợi phát huy được lợi thế cạnh tranh về chi phí nhân công, điện nước, thuê đất thấp, nhu cầu sợi trên thị trường thế giới tăng nhanh Nếu ngành sợi hoạt động đơn lẻ thì không là vấn đề vì đang làm ra lợi nhuận Nhưng còn tồn tại thực tế: xơ, sợi sản xuất trong nước chủ yếu để xuất khẩu, các công ty dệt trong nước lại nhập xơ, sợi

từ nước ngoài về Sản phẩm sợi của nước ta chưa đa dạng về chủng loại, chất lượng sản phẩm chưa cao và chỉ mới tập trung ở phân khúc sản phẩm cấp thấp, trung bình nên không đáp ứng được nhu cầu của doanh nghiệp dệt may hàng cao cấp đòi hỏi nhiều loại nguyên liệu sợi khác nhau với các loại nguyên liệu đầu vào đặc biệt, thiết bị sản xuất hiện đại Quá phụ thuộc vào nguồn cung bông từ các nước xuất khẩu trong khi biến động giá bông trên thị trường thế giới ngày càng phức tạp ảnh hưởng lớn tới hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp sợi Lý do chính của sự kém phát triển của ngành sợi

Doanh nghiệp FDI Doanh nghiệp trong nước

Trang 28

là do phụ thuộc vào 97% nguồn nguyên liệu bông, xơ nhập khẩu và hạn chế về trình độ công nghệ, máy móc thiết bị kỹ thuật hiện đại

Hơn nữa, đặc tính của ngành may Việt Nam chủ yếu là gia công xuất khẩu, việc lựa chọn nguyên vật liệu phải theo sự chỉ định của khách hàng, các doanh nghiệp không thể chủ động trong hoạt động đặt nguồn nguyên liệu vải trong nước đã góp phần tạo ra thêm khó khăn cho ngành dệt, nhuộm, từ đó kéo theo tác động không tốt đến các doanh nghiệp sản xuất sợi trong nước

Do đó, trong năm 2016, các doanh nghiệp đã bắt đầu ứng dụng thiết bị công nghệ tiên tiến trong ngành Sợi, thiết bị tự động hóa, tự động đổ sợi, vận chuyển ống sợi thô tự động sang máy sợi con, tự động đổ sợi con, tự động vận chuyển ống sợi con sang máy đánh ống sợi, tự động đổ búp sợi đầy trên máy đánh ống sợi đã giảm được số lượng công nhân đứng máy, nâng cao chất lượng sợi, bên cạnh đó còn làm giảm được yếu tố chủ quan do con người can thiệp vào máy móc thiết bị Sử dụng thiết bị thí nghiệm để kiểm tra kiểm soát chất lượng nguyên liệu đầu vào, từ đó có phương án pha trộn nguyên liệu khoa học hợp lý mang lại hiệu quả cao; theo dõi kiểm soát chất lượng các bán chế phẩm chặt chẽ, có phương án điều chỉnh thông số công nghệ thiết bị kịp thời đảm bảo chất lượng sản phẩm cuối đáp ứng yêu cầu tiêu chuẩn của khách hàng

Máy móc trong ngành sợi chủ yếu được nhập khẩu từ Trung Quốc, Nhật, Thụy

Sĩ, Ấn Độ, Đức, Đài Loan và Hàn Quốc Máy móc ngành sợi chưa đồng bộ với quy mô sản xuất còn nhỏ Về công nghệ sản xuất sợi cotton, các doanh nghiệp sợi tại Việt Nam

có thể sản xuất sợi CD và sợi nồi cọc đáp ứng thị trường thế giới Tuy nhiên, hiện tại máy móc ngành sợi trong nước vẫn chưa được nâng cấp đồng bộ, một số nhà máy vẫn

sử dụng máy móc cũ nên chất lượng sợi không đồng đều giữa các nhà máy

Máy móc thiết bị ngành may có xu hướng được tự động hóa tại các khâu sản xuất đơn giản ví dụ cắt may, lựa chọn chỉ đơn chỉ chập, thùa, khuyết…trong khi các công nghệ thiết bị ngành Sợi và Dệt vải đa phần là những thiết bị cũ Công đoạn dệt nhuộm in và hoàn tất của Việt Nam được đánh giá là đang chậm hơn các nước trong khu vực, máy móc thiết bị cần khôi phục, hiện đại hóa do đã sử dụng trên 20 năm

Trang 29

Thời gian qua tuy trình độ công nghệ trong lĩnh vực may đã có nhiều thay đổi, tuy nhiên vẫn còn ở mức thấp và chậm so với các nước khác trong khu vực và thế giới

Cụ thể, hiện tỷ lệ sử dụng thiết bị công nghệ có trình độ cao, đặc biệt là sử dụng phần mềm trong thiết kế sản phẩm, quản lý sản xuất chỉ chiếm khoảng 20%; 70% thiết bị có công nghệ trung bình, 10% là công nghệ thấp

Hơn nữa, tuy thiết bị dệt kim của các doanh nghiệp Việt Nam tuy chiếm gần 60% trong tổng số máy, nhưng lại chủ yếu là máy dệt kim phẳng chỉ dùng để dệt màn tuyn, tất Số máy móc dệt kim tròn dùng cho dệt vải lại quá ít, chỉ chiếm chưa đến 6%, nhưng hiện hầu hết số máy này đã quá cũ kỹ, công nghệ lạc hậu nên chỉ có thể dệt vải cung cấp cho thị trường trong nước chứ không thể xuất khẩu

Trong lĩnh vực dệt nhuộm, công đoạn dệt nhuộm in và hoàn tất của Việt Nam được đánh giá là đang chậm hơn các nước trong khu vực 20%, nhất là công đoạn nhuộm với 30% máy móc thiết bị cần khôi phục, hiện đại hóa do đã sử dụng trên 20 năm Những hạn chế này khiến năng suất dệt vải của Việt Nam rất thấp, nếu so với Trung Quốc chỉ bằng 30%

Các doanh nghiệp tập trung đầu tư vào khâu chuẩn bị dệt, tạo nên chế phẩm trung gian có chất lượng cao (trục dệt, búp sợi) đáp ứng yêu cầu kỹ thuật để khai thác tối đa các chức năng, tốc độ của máy dệt vải Sử dụng chất bột hồ pha chế sẵn nhằm giảm năng lượng, hơi, nước, giảm được thời gian khâu chuẩn bị cũng như lượng chất thải ra Nhuộm sử dụng thiết bị nhuộm có dung tỷ thấp, tiết kiệm nước, hóa chất chất trợ, điện hơi và nhân công Từng bước áp dụng kỹ thuật tái sử dụng hơi, nước nóng, các hệ thống khép kín để tái chế hoàn toàn dung môi, các hệ thống định lượng chính xác hóa chất trong xử lý ướt tạo ra sản phẩm vải thân thiện với môi trường, đáp ứng các yêu cầu vệ sinh, sinh thái dệt cho người tiêu dùng Ứng dụng công nghệ sản xuất vải giảm trọng, vải có xử lý chống nhàu chống co, vải yarndyed, vải từ sợi biến tính dễ thấm hút mồ hôi, thoáng khí, chống khuẩn, chống tia UV,… tạo ra các sản phẩm có tính khác biệt, có giá trị cao phù hợp với xu thế sản xuất thân thiện với môi trường, sản xuất xanh

Trang 30

Áp dụng mô hình quản lý theo từng công đoạn sản xuất gắn trách nhiệm của người quản lý, có thể phản ứng nhanh kịp thời, cũng như phát huy tối đa năng lực sáng tạo sáng kiến, tính chủ động trong điều hành quản lý sản xuất Áp dụng phương thức sản xuất Lean, 5S, TQM trong may mặc, hợp lý hóa, tiết kiệm diện tích mặt bằng, nguyên liệu, nhân công, tối ưu hóa các thao tác vận hành, tạo ra môi trường làm việc thông thoáng khoa học Sử dụng máy trải vải tự động, chuyền treo tự động để vận chuyển sản phẩm, tăng cường sử dụng các công cụ dụng cụ thiết bị hỗ trợ cữ gá, thiết

bị chuyên dụng nhằm tăng năng suất ổn định chất lượng, giảm số người lao động trên dây chuyền

2.1.2 Tác động của cách mạng công nghiệp 4.0 đến ngành dệt may

2.1.2.1 Cơ hội mang lại

Thứ nhất, sản xuất thông minh với công nghệ số 4.0 sẽ mang lại nhiều hiệu quả trong việc giảm số lượng nhân công, sản xuất các sản phẩm thân thiện môi trường, nâng cao chất lượng và tính cạnh tranh của sản phẩm

- Tạo ra các sản phẩm thân thiện môi trường, sản xuất xanh: Ứng dụng công nghệ sản xuất vải giảm trọng, vải có xử lý chống nhàu chống co, vải yarndyed, vải từ sợi biến tính dễ thấm hút mồ hôi, thoáng khí, chống khuẩn, chống tia UV tạo ra các sản phẩm có tính khác biệt, có giá trị cao phù hợp với xu thế sản xuất thân thiện với môi trường, sản xuất xanh

- Nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng tính cạnh tranh của sản phẩm dệt may, công nghệ may: Áp dụng phương thức sản xuất Lean, 5S, TQM trong may mặc, hợp lý hóa, tiết kiệm diện tích mặt bằng, nguyên liệu, nhân công, tối ưu hóa các thao tác vận hành, tạo ra môi trường làm việc thông thoáng khoa học CAD/CAM là phần mềm máy tính kiểm soát sản lượng và truy xuất nguồn gốc sản phẩm đang được các doanh nghiệp dệt may tại Châu Âu sử dụng

- Rút ngắn thời gian sản xuất: Đối với hàng may mặc, tổng thời gian sản xuất là yếu tố lớn tác động đến quyết định đặt hàng của khách hàng quốc tế Thời gian sản

Trang 31

xuất ở đây bao gồm thời gian từ lúc các nhà bán lẻ/các hãng đặt đơn hàng với các công

ty may Việt Nam cho tới khi hàng sẵn sàng để giao Thời gian sản xuất trung bình của hàng may mặc Việt Nam là 60 - 90 ngày, ngắn hơn so với Bangladesh và Campuchia (80 – 120 ngày) nhưng dài hơn so với Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan (40 - 90 ngày) Khi ứng dụng công nghệ 4.0, thời gian sản xuất các sản phẩm may mặc sẽ giảm một cách đáng kể Vấn đề này sẽ giải quyết triệt để việc giao hàng quá hạn của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam hiện nay

Thứ hai, cách mạng công nghiệp 4.0 giúp giảm số lượng nhân công, tiết kiệm chi phí cho các doanh nghiệp dệt may

Trước xu thế phát triển mới của nền kinh tế thế giới, khi cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 bắt đầu diễn ra, với trình độ tự động hóa, robot hóa cao, cùng với internet kết nối vạn vật (IoT) áp dụng trong quá trình sản xuất, lưu thông thì tất yếu lượng lao động cần thiết trên một đơn vị sản phẩm sẽ giảm mạnh Đối với ngành sử dụng nhiều lao động đơn giản như dệt may thì việc áp dụng công nghiệp 4.0 sẽ rất quan trọng với nhiều cơ hội mới nếu sớm được triển khai sâu rộng Việc áp dụng tự động hóa, robot và sử dụng các dữ liệu lớn có khả năng tăng năng suất theo cấp số nhân chứ không phải cấp số cộng

Áp dụng công nghệ thế hệ mới sẽ giúp cho năng suất lao động tăng và sử dụng

ít lao động hơn, nên khoảng cách về chi phí lao động trong một sản phẩm giữa các quốc gia đang phát triển và phát triển sẽ ngày càng hẹp lại Nhiều doanh nghiệp dệt may đã chuẩn bị đón cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 một cách khá bài bản Bên cạnh

đó, dệt may Việt Nam trong giai đoạn Công nghiệp 4.0 sẽ phải đối mặt với nguy cơ sản xuất quay lại Mỹ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc là những quốc gia, khu vực có trình độ khoa học kỹ thuật phát triển và chiếm tới gần 90% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam

Thứ ba, cách mạng công nghiệp 4.0 giúp thu hút vốn đầu tư FDI vào công nghệ, máy móc

Trang 32

Hiện có 57 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào ngành dệt may Việt Nam; trong đó, một số quốc gia và vùng lãnh thổ có số vốn đăng ký lớn như Đài Loan và Hong Kong của Trung Quốc, Hàn Quốc Một số dự án có quy mô vốn lớn đầu tư vào khâu dệt nhuộm hoàn tất như dự án Nhà máy dệt và may trang phục Ramatex Nam Định của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Herberton của Singapore, với tổng giá trị 80 triệu USD; dự án Nhà máy YKK Hà Nam chuyên sản xuất các loại khóa kéo, các sản phẩm có liên quan trong ngành may mặc với công suất 420 triệu sản phẩm/năm… Riêng 6 tháng đầu năm 2019, dệt may Việt Nam đã thu hút được 2,8 tỷ USD từ nguồn vốn FDI, đưa lũy kế đầu tư nước ngoài vào ngành đạt 17,5 tỷ USD

Gần đây, công nghệ sản xuất không dùng máy khâu đang được các nhà máy chú

ý khi các nghiên cứu cho thấy kỹ thuật này có thể giảm 25 - 35% thời gian vận hành cũng như giảm nhân công Riêng tại Việt Nam, ngành thời trang mới chỉ đầu tư vào công nghệ tự động cắt may từ năm 2015 Theo đó mỗi máy cắt may tự động có thể thay thế được khoảng 15 công nhân và doanh nghiệp có thể thu hồi chi phí đầu tư trong vòng 18 tháng kể từ ngày mua máy

Thứ tư, cách mạng công nghiệp 4.0 tạo động lực và điều kiện để các doanh nghiệp dệt may tối ưu hóa cách thức kinh doanh của mình

Các doanh nghiệp phía cung phát triển ngày càng nhanh nhạy và tinh gọn Về phía cung, nhiều ngành công nghiệp truyền thống hay thậm chí hiện đại có tiềm năng phát triển theo chiều hướng ngày càng tinh lọc nhờ có nền tảng công nghệ 4.0 Những nhu cầu mới phát sinh ở thời đại này tạo động lực cho chúng ta phá vỡ nhiều chuỗi giá trị ngành ở hiện tại Nếu nhanh nhạy nắm bắt những xu thế và công nghệ này, các doanh nghiệp có thể nắm trong tay lợi thế cạnh tranh để vượt qua các đối thủ hiện tại Cách mạng công nghiệp 4.0 mở ra một thời kỳ mới mà ở đây không phải cá lớn sẽ nuốt

cá bé, cá nhanh sẽ nuốt cá chậm Nếu đủ nhanh, chúng ta hoàn toàn có thể vượt mặt những con cá to Đặc điểm này vô cùng quan trọng đối với nền kinh tế của một nước đang phát triển, mà cơ cấu doanh nghiệp chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ như nước ta

Trang 33

Các doanh nghiệp phía cầu ngày càng tự hoàn thiện cả về tình minh bạch và chất lượng sản phẩm Về phía cầu, các nền tảng công nghệ 4.0 tạo điều kiện cho tính minh bạch ngày càng tăng trong kinh doanh, sự cam kết chặt chẽ hơn từ phía người tiêu dùng, và các khuôn mẫu mới về hành vi tiêu dùng (ngày càng xây dựng dựa trên quyền truy cập vào các mạng di động và dữ liệu) cũng tạo động lực cho các công ty thích nghi với cách họ thiết kế, tiếp thị và cung cấp các sản phẩm và dịch vụ Những điểm này sẽ tạo động lực cho mỗi ngành kinh tế tự hoàn thiện mình, ngày càng nâng cao năng lực cạnh tranh trên trường quốc tế

Cách mạng công nghiệp 4.0 tạo điều kiện để doanh nghiệp ngày càng hoàn thiện sản phẩm thông qua nắm bắt nhanh nhạy nhu cầu của thị trường, mở ra nhiều cơ hội kinh doanh mới Nền tảng công nghệ 4.0 cho phép mỗi doanh nghiệp dễ dàng kết hợp

cả cung và cầu để phá vỡ cấu trúc ngành công nghiệp hiện có, kiến tạo những nền tảng mới mà chúng ta thấy trong nền kinh tế chia sẻ hoặc theo yêu cầu Cụ thể, những nền tảng công nghệ, dễ dàng sử dụng với các điện thoại thông minh, tập hợp con người, tài sản, và dữ liệu - do đó tạo ra những cách thức tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ hoàn toàn mới trong quá trình này Những gì bạn mặc sẽ đi theo xu hướng công nghệ cao, cho dù bạn có nhận ra hay không Sau nhiều thập niên sản xuất dựa vào sức lao động của các công nhân ở Nam bán cầu, trí thông minh nhân tạo (AI) và robot đang thay thế con người tại các nhà máy Nhưng, trong khi những thay đổi này sẽ mang lại lợi ích mới cho người tiêu dùng – chẳng hạn như giao hàng nhanh hơn và quần áo tùy chỉnh theo nhu cầu - chúng cũng sẽ đi kèm với các phí tổn Những thay đổi đối với mô hình kinh doanh của ngành may mặc đang đe dọa sinh kế của hàng triệu người ở các nước thu nhập thấp và trung bình, và cách những nền kinh tế này thích ứng với biến đổi sẽ có những tác động sâu rộng

Nhìn chung, những nền tảng công nghệ 4.0 mới đã và đang tạo động lực và điều kiện để các công ty tối ưu hóa cách thức kinh doanh của mình Tuy nhiên, việc các doanh nghiệp có tận dụng được lợi thế hay không yêu cầu các nhà lãnh đạo kinh doanh

và điều hành cấp cao vừa phải hiểu môi trường công ty, môi trường ngành, vừa có

Trang 34

động lực phản biện những giả định mà mình đề ra, lại vừa có tư duy đổi mới liên tục vì công nghệ 4.0 mà không thay đổi, bạn sẽ lập tức bị đào thải Để hiểu những gì các doanh nghiệp tại Nam bán cầu đang phải chống lại, hãy xem xét sự cạnh tranh mà họ phải đối mặt Ví dụ, năm ngoái nhà bán lẻ trực tuyến Amazon đã được cấp bằng sáng chế tại Hoa Kỳ cho một hệ thống sản xuất đồ may mặc theo yêu cầu có thể tùy chỉnh đơn đặt hàng và tối ưu hóa sản xuất từ bất cứ địa điểm nào, với chi phí thấp hơn Công

ty đã giành được giấy phép cho nhà máy sản xuất đầu tiên của mình được đặt tại Norristown, Pennsylvania Những động thái này xảy đến chỉ hai năm sau khi Amazon công bố dòng sản phẩm quần áo riêng của mình Và với những phát minh theo hướng tương lai như phân tích AI về xu hướng thời trang và thậm chí là gương pha trộn thực

tế để người mua sắm trực tuyến có thể diện thử quần áo ảo, sự tham gia của Amazon vào ngành kinh doanh quần áo và ảnh hưởng của nó đến ngành này sẽ chỉ ngày một sâu sắc hơn mà thôi

Đặc biệt đối với nguồn nhân lực ngành dệt, may, báo cáo cho thấy Việt Nam có đến 86% lao động trong các ngành dệt may và giày dép có nguy cơ cao mất việc khi các công nghệ tự động sản xuất được đưa vào Tỷ lệ rất lớn này sẽ chuyển thành con số tuyệt đối rất lớn vì dệt may và giày dép là các ngành đang tạo việc làm cho nhiều lao động (khoảng gần 2,3 triệu người, trong đó khoảng 78% là lao động nữ làm việc trong ngành dệt may; giày dép - 0,98 triệu người, trong đó có khoảng 74% là lao động nữ

Trang 35

làm việc trong ngành giày dép; lao động trong hai ngành chiếm 6,2% tổng lực lượng lao động và 13,7% việc làm phi nông nghiệp)

Trong số đó, có nhiều lao động ít kỹ năng (tương ứng là 17% và 26% lao động dệt may và giày dép chỉ có trình độ tiểu học) và một tỷ lệ đáng kể không còn trẻ (lao động từ 36 tuổi trở lên chiếm 35,84% đối với dệt may và 25,37% đối với giày dép) Đây là nhóm không dễ dàng tìm được việc làm thay thế ở trong khu vực chính thức Điều này cho thấy quá trình điều chỉnh sẽ rất khó khăn, có thể làm đảo ngược quá trình chuyển dịch lao động ra khỏi nông nghiệp và tăng tỷ trọng của khu vực chính thức trong nền kinh tế trong quá trình công nghiệp hóa đất nước Sự khác biệt lớn giữa các

số liệu dự báo cho thấy nguy cơ lao động có trình độ thấp bị thay thế bởi tự động hóa là hiện hữu

Tuy nhiên, các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam cần nghiên cứu thêm

để có thể đánh giá một cách khoa học và xác định đúng mức độ tác động, bình tĩnh, chủ động từng bước đối phó vì các dự báo đều mang tính chất dài hạn (trong hai thập

kỷ tới) Ở chiều hướng tích cực, tất cả các báo cáo đều thống nhất, bên cạnh các việc làm mất đi (bị thay thế do tự động hóa) sẽ xuất hiện nhiều việc làm và ngành nghề mới Đồng thời, nhiều chuyên gia trong lĩnh vực tự động hóa cũng nhận định rằng ngành dệt may rất khó thay thế người lao động bằng robot trong nhiều công đoạn Do vậy, điều quan trọng là cần tập trung vào đào tạo và giáo dục chuyển đổi nghề nghiệp với các kỹ năng phù hợp với sự phát triển bùng nổ của công nghệ thông tin và internet sẽ tạo ra các lợi thế hết sức to lớn Cuộc cách mạng này nâng cao mức thu nhập, cải thiện chất lượng cuộc sống khi các sản phẩm và dịch vụ được tạo ra với chi phí thấp, việc thực hiện được đơn giản hóa

Thứ hai, cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ xóa bỏ các lợi thế cũ của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam

Trước cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, khi mức độ tự động hóa được đẩy lên tối đa, dệt may Việt Nam sẽ mất lợi thế về nhân công giá thấp và tay nghề cao Trong

10 năm qua, dệt may Việt Nam vươn lên mạnh mẽ là nhờ lợi thế nhân công giá thấp,

Trang 36

có kỹ năng tay nghề cao, sự phù hợp của tính cách người lao động Việt Nam với nghề dệt may, cùng vị trí địa lý thuận lợi do có nhiều cảng biển Nhưng khi ứng dụng công nghệ 4.0, thay thế công nhân bằng máy móc, thiết bị hiện đại thì lợi thế về nhân công giá thấp sẽ không còn, dẫn đến nguy cơ sản xuất hàng dệt may sẽ dịch chuyển ngược trở lại các quốc gia phát triển Thực tế, khi khâu sản xuất dệt may trở về với các quốc gia phát triển, nơi là trung tâm tiêu thụ hàng thời trang, sẽ có lợi thế về vận chuyển, bởi hàng sẽ ra thị trường với tốc độ nhanh hơn Mà trong ngành hàng thời trang thì tốc độ

từ khi thiết kế cho đến khi hàng ra thị trường là một yếu tố cạnh tranh quan trọng

Theo Báo cáo của BMI về rủi ro thị trường lao động Việt Nam năm 2017, trong xếp hạng về sự cạnh tranh trong giá nhân công, Việt Nam xếp thứ 14 trong tổng số 18 nước Đông Nam Á về rủi ro thay đổi chi phí lao động Điều này cho thấy chi phí nhân công ở Việt Nam đang dần kém cạnh tranh so với các quốc gia sản xuất hàng may mặc khác như Campuchia, Myanmar Có một số đột phá công nghệ quan trọng đang vẽ lại bức tranh của ngành này trên phạm vi toàn cầu: (i) Công nghệ chế tạo đắp dần, máy chụp thân thể, thiết kế bằng máy tính giúp có thể sản xuất các sản phẩm hàng loạt các sản phẩm phù hợp với những thông số đơn lẻ của từng khách hàng (ii) Công nghệ nano giúp các sản phẩm dệt may, giày dép có thể tích hợp các chức năng theo dõi sức khỏe (iii) Tự động hóa khâu cắt và khâu may Điều này được kỳ vọng là sẽ làm thay đổi toàn bộ ngành dệt may, da giày, đồng thời cũng mở ra nhiều cơ hội thu hút đầu tư quay trở về Mỹ, trong một khoảng thời gian ngắn có thể chỉ là 5 năm tới

Có thể nói, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ là nền tảng để kinh tế chuyển đổi mạnh mẽ từ mô hình dựa vào tài nguyên, lao động chi phí thấp chuyển sang kinh tế tri thức Cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ làm thay đổi cơ bản khái niệm đổi mới công nghệ, trang thiết bị trong các dây chuyền sản xuất, từ đó, năng suất lao động, chất lượng sản phẩm sẽ được cải thiện, thu nhập của người lao động theo đó cũng tăng cao hơn

Nghiên cứu của Tập đoàn Dệt may Việt Nam cho thấy, nhà máy sợi theo mô hình 4.0 cho phép giảm tới 70% lao động và giảm năng lượng sử dụng tới 25%; Nhà

Trang 37

máy dệt nhuộm 4.0 giúp giảm 30% lao động, giảm 50% lượng nước sử dụng cho nhuộm và 50% năng lượng tiêu hao 10 năm trước đây 10 nghìn cọc sợi phải dùng đến trên 110 lao động thì đến nay, những doanh nghiệp tiên tiến nhất của Việt Nam với 10 nghìn cọc sợi chỉ cần 25 - 30 lao động, giảm gần 4 lần so với trước đây

Nói cách khác, năng suất lao động trên đầu người đã tăng gần 4 lần trong thời gian qua Trong ngành Dệt cũng có sự thay đổi, với 400 - 500 vòng/phút trước đây lên tới 1 - 2 nghìn vòng/phút là phổ biến hiện nay Đặc biệt, sự liên kết dữ liệu giữa các thiết bị dệt lẻ về năng suất, chất lượng, loại lỗi đã làm thay đổi về căn bản phương thức quản lý nhà máy dệt Ngành Nhuộm trong nước trước đây phụ thuộc rất nhiều vào tay nghề của những người làm ra công thức màu và kiểm soát quá trình nhuộm trong máy Ngày nay, ứng dụng công nghệ thông tin tạo ra dữ liệu ngày càng lớn, khiến công đoạn nhuộm ít phụ thuộc vào tay nghề kỹ thuật của người làm công thức và từ đó ổn định được chất lượng nhuộm, ổn định được công thức nhuộm và tăng tỷ lệ nhuộm chính xác ngay lần đầu Trước đây, tỷ lệ nhuộm chính xác lần đầu chỉ từ 70 - 8% thì nay có nhiều nhà máy tỷ lệ nhuộm chính xác lần đầu có thể lên tới 95 - 98%

Đối với ngành May, xu thế sử dụng robot hoặc các thiết bị tự động hóa cho các khâu kỹ thuật khó hoặc các bước công việc lặp đi lặp lại đang được quan tâm Sử dụng robot trong khâu trải vải, cắt có thể giúp giảm tới 80% lao động, tiết kiệm được 3% nguyên vật liệu; trong các công đoạn khó như bổ túi, tra tay, vào cổ… sử dụng thiết bị, robot tự động sẽ làm giảm đáng kể số lao động Một ứng dụng quan trọng khác của công nghệ 4.0 đối với ngành May đó là khâu thiết kế và công nghệ in 3D sẽ giúp cho việc định hình từng sản phẩm hiệu quả

Ngoài ra, xu thế của chuỗi cung ứng toàn cầu hiện nay là quan tâm đến sản xuất sạch, sản xuất bền vững, bảo vệ môi trường, trách nhiệm xã hội… cũng đòi hỏi các doanh nghiệp dệt may Việt Nam phải đầu tư, đổi mới công nghệ Như vậy, cơ hội mà Cách mạng công nghiệp 4.0 đem lại cho ngành Dệt may Việt Nam khá rõ rệt, thế nhưng đầu tư công nghệ theo hướng 4.0 đòi hỏi vốn lớn, lãi phải trả cho chi phí đầu tư

Trang 38

cao Thực tế này đặt ra không ít khó khăn cho doanh nghiệp dệt may Việt Nam, vốn chủ yếu là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, tiềm lực kinh tế thấp

Thứ ba, thị trường trong dệt may nước có nguy cơ chịu kiểm soát từ nước ngoài trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0

Ngành dệt may Việt Nam mang đặc điểm vừa thừa vừa thiếu ở từng mắt xích

Về sản xuất hàng may mặc, thị trường trong nước đang được bỏ ngỏ Về vải, Việt Nam phải nhập khẩu 65 - 70% nhu cầu tiêu thụ Do đó, đây sẽ là cơ hội thị trường rộng lớn cho các doanh nghiệp dệt nhuộm Về sợi, mặc dù xuất khẩu 2/3 năng lực sản xuất, tuy nhiên, nếu sản lượng vải trong nước tăng với sự tăng trưởng mạnh nhu cầu sợi trong nước, thì ngành sợi trong nước vẫn còn dư địa để đáp ứng riêng nhu cầu trong nước chứ chưa kể đến xuất khẩu Tuy nhiên, hướng phát triển này đã và đang được các doanh nghiệp FDI nắm bắt khi các dự án FDI lĩnh vực dệt may liên tục được phê duyệt trong thời gian gần đây Bên cạnh đó, các hiệp định thương mại tự do sẽ là một động lực khiến hàng ngoại xâm nhập vào thị trường nội địa không cần qua con đường tiểu ngạch Với xu hướng sính ngoại và trào lưu về thời trang thay đổi do du nhập văn hóa

từ Hàn Quốc, Nhật Bản đồng thời mẫu mã và thiết kế đa dạng hơn, thị trường nội địa

có thể sẽ về tay các doanh nghiệp FDI và hàng ngoại nhập nếu các doanh nghiệp trong nước không thay đổi để giảm giá thành và đa dạng mẫu mã sản phẩm

Thứ tư, cách mạng công nghiệp 4.0 đặt ra thách thức trong quản trị Nhà nước và

an toàn thông tin đối với các doanh nghiệp dệt may

Bên cạnh đó, vấn đề quản trị nhà nước cũng là một trong những thách thức lớn nữa đối với Việt Nam Việc hiện đại hóa công nghiệp sản xuất sẽ gặp nhiều khó khăn nếu công cuộc cải cách cơ cấu kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng được Nhà nước đề

ra thực hiện không thành công Bên cạnh đó, những thách thức về an ninh phi truyền thống sẽ tạo ra áp lực lớn nếu Nhà nước không đủ trình độ về công nghệ và kỹ năng quản lý để ứng phó

Trang 39

Cùng với sự gia tăng về kết nối giữa người với người, người với vật, đặc biệt là giữa vật với vật, thì rủi ro và nguy cơ cũng ngày càng cao Thực tế cho thấy, các cuộc tấn công mạng đang gia tăng về tần suất, mức độ nghiêm trọng và ngày càng phức tạp

Nó không chỉ nhắm vào máy tính, mạng và điện thoại thông minh, mà còn cả con người, xe ô tô, máy bay, lưới điện Năm 2016, Việt Nam chứng kiến hơn 134.000 sự

cố an ninh mạng, tăng gấp 4 lần so với năm 2015

Có thể thấy, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra với một tốc độ rất nhanh và tác động mạnh mẽ đến Việt Nam kể cả tác động thuận lợi lẫn khó khăn Nếu tận dụng tốt các cơ hội, chúng ta có thể thu hẹp khoảng cách với các nước phát triển, thực hiện được mục tiêu sớm trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại Ngược lại, chúng ta sẽ bị tụt hậu ngày càng xa so với thế giới Để thực hiện thành công cuộc cách mạng này, chúng ta cần phải nhận thức rõ các đặc điểm của cuộc cách mạng, từ

đó tìm ra các biện pháp và xây dựng các chính sách phát triển thích hợp

2.2 Tác động của cách mạng công nghiệp 4.0 đến ngành logistics Việt Nam

2.2.1 Đặc điểm của ngành logistics Việt Nam

Thứ nhất, ngành logistics Việt Nam tạo ra nhiều nguồn lợi và đóng góp rất lớn vào phát triển kinh tế của Việt Nam

Trong những năm gần đây, ngành kinh doanh logistics Việt Nam đang ngày càng phát triển và tạo ra nhiều nguồn lợi, đóng góp vào GDP của Việt Nam Theo Tổng cục thống kê Việt Nam, quy mô doanh thu ngành dịch vụ logistics năm 2017 đạt 772.561 tỷ đồng, chiếm 15,97% tổng sản phẩm quốc nội Trong giai đoạn 2015 – 2019, tăng trưởng doanh thu ngành đạt bình quân khoảng 20%, tỷ trọng doanh thu ngành so với GDP đạt bình quân 13,4% Hình 2.4 dưới đây thể hiện doanh thu kinh doanh ngành dịch vụ logistics Việt Nam qua các năm và tỷ lệ đóng góp vào GDP quốc gia

Hình 2.4 Quy mô doanh thu ngành dịch vụ logistics Việt Nam giai đoạn

2015 - 2019

Ngày đăng: 26/02/2023, 11:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w