1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo "Giao dịch dân sự vô hiệu tương đối và vô hiệu tuyệt đối " ppt

8 1,5K 7
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 113,8 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo quy định tại Điều 131 BLDS thì giao dịch dân sự được coi là có hiệu lực khi hội đủ bốn điều kiện sau: “1- Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự; 2- Mục đích và nội du

Trang 1

TS Bùi Đăng Hiếu * iao dịch dân sự là hành vi pháp lí có ý

thức thể hiện ý chí của các chủ thể quan

hệ pháp luật dân sự nhằm xác lập, thay đổi

hay chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự

Giao dịch dân sự là một trong những căn cứ

quan trọng và phổ biến nhất làm phát sinh

quan hệ pháp luật dân sự Để giao dịch dân

sự có hiệu lực pháp luật thì giao dịch đó phải

đáp ứng được một số các điều kiện do pháp

luật quy định Theo quy định tại Điều 131

BLDS thì giao dịch dân sự được coi là có

hiệu lực khi hội đủ bốn điều kiện sau:

“1- Người tham gia giao dịch có năng

lực hành vi dân sự;

2- Mục đích và nội dung của giao dịch

không trái pháp luật, đạo đức x- hội;

3- Người tham gia giao dịch hoàn toàn

tự nguyện;

4- Hình thức giao dịch phù hợp với quy

định của pháp luật”

Về nguyên tắc nếu giao dịch dân sự

không đáp ứng được một trong bốn điều kiện

nêu trên thì bị coi là vô hiệu (theo quy định

tại Điều 136 BLDS) Thế nhưng trong giới

các nhà nghiên cứu luật dân sự của Việt Nam

hiện nay đang tồn tại vấn đề tranh luận về

trình tự bị coi là vô hiệu của giao dịch dân sự

khi thiếu một trong bốn các điều kiện đó:

Thế nào là vô hiệu tuyệt đối hay vô hiệu

tương đối? Giao dịch dân sự vi phạm vào

điều kiện nào thì áp dụng trình tự vô hiệu

tuyệt đối còn vi phạm điều kiện nào thì bị áp

dụng trình tự vô hiệu tương đối?

Trước hết cần khẳng định khái niệm vô hiệu tuyệt đối và vô hiệu tương đối là hai khái niệm của ngành khoa học luật dân sự, mang tính lí thuyết và chưa được sử dụng trong các văn bản quy phạm pháp luật

Nhưng hai khái niệm giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối và giao dịch dân sự vô hiệu tương đối lại là hai khái niệm rất quan trọng

đối với khoa học luật dân sự Chúng là công

cụ không thể thiếu được trong việc nghiên cứu bản chất của giao dịch dân sự cũng như trong việc giải quyết các vấn đề có liên quan

đến thủ tục tuyên bố một giao dịch dân sự vô hiệu

Giao dịch dân sự bị coi là vô hiệu tuyệt

đối trong các trường hợp sau: a) Khi vi phạm vào các điều cấm của pháp luật, trái với đạo

đức x[ hội; b) Khi giao dịch được xác lập một cách giả tạo nhằm che giấu giao dịch khác; c) Khi hình thức của giao dịch không tuân thủ theo các quy định bắt buộc của pháp luật; d) Khi giao dịch của pháp nhân xác lập vượt ra ngoài lĩnh vực hoạt động được cho phép, đăng kí; đ) Khi giao dịch được xác lập bởi người không có năng lực hành vi dân sự (chưa đủ 6 tuổi); e) Khi giao dịch được xác lập bởi người mất năng lực hành vi dân sự Giao dịch dân sự bị coi là vô hiệu tương

đối trong các trường hợp: a) Khi giao dịch

G

* Giảng viên Khoa tư pháp Trường đại học luật Hà Nội

Trang 2

được xác lập bởi người chưa thành niên từ đủ

6 tuổi cho đến chưa đủ 18 tuổi (có năng lực

hành vi dân sự một phần); b) Khi giao dịch

được xác lập bởi người bị hạn chế năng lực

hành vi dân sự; c) Khi giao dịch được xác lập

do bị nhầm lẫn; d) Khi một bên chủ thể tham

gia xác lập giao dịch do bị lừa dối, đe doạ; e)

Khi người xác lập giao dịch không nhận thức

được hành vi của mình

Sự phân loại nêu trên có cơ sở dựa vào

một số đặc điểm khác biệt chung thể hiện

bản chất của hai khái niệm giao dịch dân sự

vô hiệu tuyệt đối và vô hiệu tương đối

1 Sự khác biệt về trình tự vô hiệu của

giao dịch

Giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối thì

mặc nhiên bị coi là vô hiệu còn đối với các

giao dịch vô hiệu tương đối thì không mặc

nhiên vô hiệu mà chỉ trở nên vô hiệu khi hội

đủ những điều kiện nhất định: a) Khi có đơn

yêu cầu của người có quyền và lợi ích liên

quan; b) Có quyết định của toà án

Đây là sự khác biệt quan trọng nhất,

được coi là tiêu chí hàng đầu để phân biệt

giao dịch vô hiệu thuộc trường hợp vô hiệu

tuyệt đối hay vô hiệu tương đối khi nghiên

cứu nội dung các văn bản quy phạm pháp

luật Một số tài liệu pháp lí đ[ dựa vào chính

sự khác biệt này để xây dựng nên khái niệm

vô hiệu tuyệt đối và vô hiệu tương đối

Cũng chính từ sự khác biệt này mà trong

một số tài liệu còn sử dụng thêm các thuật

ngữ khác để biểu thị sự phân loại giao dịch

dân sự vô hiệu thành giao dịch dân sự vô

hiệu đương nhiên và giao dịch dân sự vô hiệu

theo đề nghị của người có quyền và lợi ích

liên quan.(1)

Nhìn chung, việc sử dụng hai

cặp thuật ngữ đó không có gì trái ngược

nhau Thế nhưng đứng trên phương diện phân tích lí thuyết của luật dân sự thì việc sử dụng cặp thuật ngữ “vô hiệu tuyệt đối” và

“vô hiệu tương đối” sẽ không chỉ giới hạn bởi sự khác biệt đang phân tích (mặc nhiên vô hiệu hay không mặc nhiên vô hiệu) mà còn cho phép chúng ta nghiên cứu bản chất của chúng một cách toàn diện hơn

2 Sự khác biệt về thời hạn yêu cầu tuyên bố giao dịch vô hiệu

Đối với các giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối thì thời hạn yêu cầu toà án tuyên bố giao dịch vô hiệu không bị hạn chế còn đối với các giao dịch dân sự vô hiệu tương đối thì thời hiệu khởi kiện yêu cầu toà án tuyên

bố giao dịch dân sự vô hiệu là một năm, kể

từ ngày giao dịch dân sự được xác lập.(2)

3 Sự khác biệt về hiệu lực pháp lí của giao dịch

Giao dịch dân sự thuộc trường hợp vô hiệu tuyệt đối không có hiệu lực pháp lí làm phát sinh quyền và nghĩa vụ các bên, thậm chí ngay cả trong trường hợp khi các bên đ[ tiến hành thực hiện các hành vi theo nội dung cam kết

Còn giao dịch dân sự thuộc trường hợp vô hiệu tương đối thì được coi là có hiệu lực pháp lí cho đến khi nào bị tuyên bố vô hiệu Khẳng định này thoạt tiên có thể bị coi là trái với quy định của pháp luật khi khoản 1 Điều

146 BLDS quy định giao dịch dân sự vô hiệu (cả tuyệt đối lẫn tương đối) không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên từ thời điểm xác lập Thế nhưng không phải vậy, bởi vì, đối với giao dịch dân sự vô hiệu tương đối, nếu như giao dịch không được coi

là có hiệu lực trước khi bị tuyên bố vô hiệu thì không thể có bất kì một giao dịch nào có

Trang 3

thể có hiệu lực trong khoảng thời hiệu một

năm của quyền yêu cầu theo quy định tại

khoản 1 Điều 145 BLDS Việc quy định thời

hiệu yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô

hiệu nói lên rằng trong khoảng thời hiệu đó,

giao dịch dân sự có hiệu lực cho đến khi bị

tuyên bố vô hiệu theo quyết định của toà án

còn khi đ[ hết thời hiệu khởi kiện thì giao

dịch dân sự sẽ không bị tranh chấp về hiệu

lực nữa

Khẳng định này không hề mâu thuẫn với

Điều 146 BLDS bởi vì Điều 146 BLDS chỉ

chứa những quy định chung về hậu quả pháp

lí của giao dịch dân sự vô hiệu Theo tinh

thần của Điều 146 BLDS, giao dịch dân sự

khi đ[ bị coi là vô hiệu (bất kể là vô hiệu

tuyệt đối hay vô hiệu tương đối) thì nhìn

chung đều có hậu quả pháp lí giống nhau là

các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu (tình

trạng tại thời điểm trước khi xác lập giao

dịch), hoàn trả lại cho nhau những tài sản đ[

nhận được từ phía bên kia, nếu không hoàn

trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng

tiền Bên có lỗi phải bồi thường thiệt hại nếu

có thiệt hại xảy ra cho với bên kia

4 Sự khác biệt về bản chất quyết định

của toà án

Trong cả hai trường hợp thì toà án đều có

thể ra quyết định tuyên bố giao dịch vô hiệu

Thế nhưng bản chất của hai loại quyết định

này có sự khác biệt cơ bản

Giao dịch dân sự thuộc trường hợp vô

hiệu tuyệt đối bị coi là vô hiệu không phụ

thuộc vào quyết định của toà án Hay nói

cách khác, nó bị vô hiệu ngay cả khi không

có quyết định của toà án Chính bởi vậy

quyết định của toà án (nếu có) đối với giao

dịch vô hiệu tuyệt đối không mang tính chất

phán xử mà đơn thuần chỉ là một trong những hình thức công nhận sự vô hiệu của giao dịch dựa trên các cơ sở luật định mà thôi Bên cạnh đó, quyết định của toà án còn

có thêm nội dung xác định rõ hậu quả và cưỡng chế các bên vi phạm thực hiện các hậu quả của giao dịch vô hiệu Ngoài toà án ra thì các cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác cũng có quyền tuyên bố sự vô hiệu tuyệt đối của giao dịch

Đối với giao dịch dân sự vô hiệu tương

đối thì quyết định của toà án là cơ sở duy nhất làm cho giao dịch trở nên vô hiệu Quyết định của toà án mang tính chất phán

xử Toà án tiến hành giải quyết vụ việc khi

có đơn yêu cầu của các bên (hoặc của đại diện hợp pháp của họ) Bên yêu cầu phải có nghĩa vụ chứng minh trước toà các cơ sở của yêu cầu Ví dụ: Nếu có người yêu cầu toà án tuyên bố giao dịch vô hiệu vì lí do khi xác lập giao dịch đ[ bị lừa dối (hoặc đe doạ) thì bên yêu cầu đó phải có nghĩa vụ chứng minh trước toà sự kiện lừa dối (hoặc đe dọa) mà bên kia gây ra đối với mình Nếu như một bên yêu cầu tuyên bố giao dịch vô hiệu với lí

do xác lập giao dịch trong thời điểm không nhận thức được hành vi của mình thì toà án buộc bên yêu cầu phải chứng minh được rằng tại thời điểm xác lập giao dịch đó họ bị rơi vào trạng thái không nhận thức được hành vi của mình Dựa trên những minh chứng đó, toà án mới cân nhắc để ra quyết

định giao dịch có bị coi là vô hiệu hay không

5 Sự khác biệt về hậu quả pháp lí của giao dịch dân sự vô hiệu

Khoản 2 Điều 146 BLDS quy định:

“2 - Khi giao dịch dân sự vô hiệu, thì các

Trang 4

bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn

trả cho nhau những gì đ- nhận; nếu không

hoàn trả được bằng hiện vật, thì phải hoàn

trả bằng tiền Bên có lỗi gây thiệt hại phải

bồi thường

Tuỳ từng trường hợp, xét theo tính chất

của giao dịch vô hiệu, tài sản giao dịch và

hoa lợi, lợi tức thu được có thể bị tịch thu

theo quy định của pháp luật”

Tuỳ theo từng trường hợp vi phạm cụ thể

mà toà án có thể buộc các bên gánh chịu hậu

quả theo một trong ba phương thức khác

nhau: 1) Hoàn trả song phương: Các bên đều

phải hoàn trả cho nhau những gì đ[ nhận

được từ bên kia; 2) Hoàn trả đơn phương:

Một bên được hoàn trả lại tài sản giao dịch

còn tài sản giao dịch thuộc bên kia (bên vi

phạm) thì bị tịch thu sung công quỹ; 3) Tịch

thu toàn bộ: Mọi tài sản giao dịch của cả hai

bên vi phạm đều bị tịch thu sung công quỹ

Chế tài này thường được áp dụng đối với các

quan hệ dân sự trong các vụ án hình sự

Đối với các giao dịch dân sự vô hiệu

tương đối thì toà án chỉ áp dụng một trong

hai phương thức là hoặc hoàn trả song

phương hoặc hoàn trả đơn phương Phương

thức hoàn trả song phương thường được áp

dụng đối với các trường hợp giao dịch vô

hiệu do người chưa thành niên, người mất

năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế

năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện;

do bị nhầm lẫn; do người xác lập không nhận

thức được hành vi của mình Còn phương

thức hoàn trả đơn phương thì thường được áp

dụng đối với giao dịch dân sự vô hiệu do bị

lừa dối, đe doạ.(3)

Đối với giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt

đối thì tuỳ theo từng trường hợp cụ thể mà

toà án có thể áp dụng một trong cả ba phương thức nêu trên (hoặc hoàn trả song phương hoặc hoàn trả đơn phương cho một bên và tịch thu đối với bên kia hoặc tịch thu toàn bộ đối với cả hai bên)

6 Sự khác biệt về ý nghĩa của việc tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt

đối và giao dịch dân sự vô hiệu tương đối

Điều 136 BLDS quy định: “Giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện

được quy định tại Điều 131 của Bộ luật này, thì vô hiệu” Việc tuyên bố giao dịch vô hiệu trong cả hai trường hợp đều có ý nghĩa để áp dụng chế tài cần thiết vào từng giao dịch cụ thể khi giao dịch đó vi phạm vào bất cứ điều kiện nào tại Điều 131 BLDS

Nhưng ngoài ý nghĩa đó, đối với riêng giao dịch vô hiệu tương đối việc yêu cầu toà

án tuyên bố giao dịch vô hiệu còn là một trong những biện pháp bảo vệ quyền dân sự quan trọng Thực tế xét xử tại các nước cho thấy các vụ việc liên quan đến việc kiện yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu (thuộc trường hợp vô hiệu tương đối) có xu hướng ngày một gia tăng Điều đó cho thấy biện pháp bảo vệ quyền dân sự dưới hình thức kiện yêu cầu tuyên bố giao dịch vô hiệu tỏ ra

là biện pháp rất hữu hiệu

Từ những sự khác biệt cơ bản mang tính

lí thuyết giữa vô hiệu tuyệt đối và vô hiệu tương đối vừa nêu trên, cho thấy có tồn tại một số các vấn đề cần giải quyết liên quan

đến các quy định của BLDS về giao dịch dân

sự vô hiệu Trong khuôn khổ bài báo này, chỉ xin nêu lên ba vấn đề chính sau:

- Vấn đề điều kiện về năng lực chủ thể của các cá nhân khi tham gia giao dịch dân

sự

Trang 5

Khoản 1 Điều 140 BLDS quy định: “Khi

giao dịch dân sự do người chưa thành niên,

người mất năng lực hành vi dân sự hoặc

người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác

lập, thực hiện, thì theo yêu cầu của người đại

diện cho người đó, toà án tuyên bố giao dịch

đó vô hiệu, nếu theo quy định của pháp luật

giao dịch này phải do người đại diện của họ

xác lập, thực hiện”

Việc cá nhân không đủ năng lực chủ thể

bao gồm nhiều trường hợp khác nhau như

người không có năng lực hành vi dân sự

(chưa đủ 6 tuổi), người có năng lực hành vi

dân sự một phần (từ đủ 6 tuổi cho đến chưa

đủ 18 tuổi), người mất năng lực dân sự và

người bị hạn chế năng lực dân sự Giữa

chúng có những sự khác biệt rất cơ bản Bởi

vậy việc quy định các trường hợp đó vào

chung một điều luật là không hợp lí

Có thể phân biệt các trường hợp cá nhân

không đủ năng lực chủ thể tham gia vào các

giao dịch dân sự ra thành hai nhóm Nhóm

thứ nhất bao gồm những người không có

năng lực hành vi dân sự (chưa đủ 6 tuổi) và

những người bị mất năng lực hành vi dân sự

Nhóm thứ hai bao gồm những người có năng

lực hành vi dân sự một phần (từ đủ 6 tuổi cho

đến chưa đủ 18 tuổi) và những người bị hạn

chế năng lực hành vi dân sự

Các cá nhân thuộc nhóm thứ nhất không

được phép xác lập các giao dịch dân sự (theo

quy định của Điều 23 và khoản 2 Điều 24

BLDS) Mọi giao dịch dân sự vì lợi ích của

những người này đều phải do người đại diện

xác lập, thực hiện Những người này không

thể trở thành một bên chủ thể của giao dịch

dân sự được Chính từ quy định này của pháp

luật mà giao dịch do những người này xác

lập phải bị coi là vô hiệu tuyệt đối Bởi vì, nếu như coi chúng là vô hiệu tương đối thì sẽ dẫn tới việc sẽ tồn tại những trường hợp giao dịch do những người đó xác lập mà vẫn có hiệu lực và như vậy là trái với tinh thần của quy định tại các Điều 23 và khoản 2 Điều 24 BLDS

Còn các trường hợp giao dịch dân sự do các cá nhân thuộc nhóm thứ hai xác lập bị vô hiệu tương đối là hoàn toàn chính xác, hợp lí Theo quy định tại Điều 22 và khoản 2 Điều

25 BLDS thì những người thuộc nhóm thứ hai này vẫn được phép xác lập các giao dịch dân sự nhưng với điều kiện là phải chịu sự giám sát, đồng ý của người đại diện cho họ Khi những người này xác lập giao dịch dân

sự mà không được sự đồng ý của người đại diện thì người đại diện có quyền yêu cầu toà

án tuyên bố giao dịch vô hiệu Còn nếu người đại diện biết mà không phản đối, không yêu cầu toà án tuyên bố vô hiệu thì giao dịch vẫn mặc nhiên có hiệu lực Điều đó hoàn toàn phù hợp với bản chất của giao dịch dân sự vô hiệu tương đối

- Vấn đề năng lực chủ thể của pháp nhân khi tham gia vào quan hệ giao dịch dân sự Khoản 1 Điều 131 BLDS quy định:

“Người tham gia giao dịch dân sự có năng lực hành vi dân sự” Khái niệm “người” ở

đây được hiểu chung cho cả cá nhân lẫn pháp nhân và các chủ thể khác Thế nhưng khi quy

định các trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu

do vi phạm điều kiện về chủ thể của giao dịch thì BLDS chỉ đề cập các trường hợp chủ thể là cá nhân chứ không hề đề cập các trường hợp pháp nhân vi phạm điều kiện chủ thể Vậy các giao dịch dân sự do pháp nhân xác lập mà không phù hợp với mục đích và

Trang 6

phạm vi hoạt động được phép của mình thì

có bị coi là vô hiệu hay không? Nếu bị vô

hiệu thì vô hiệu tuyệt đối hay vô hiệu tương

đối?

Khoản 1 Điều 96 BLDS quy định: “Năng

lực pháp luật dân sự của pháp nhân là khả

năng của pháp nhân có các quyền, nghĩa vụ

dân sự phù hợp với mục đích hoạt động của

mình Pháp nhân phải hoạt động đúng mục

đích; khi thay đổi mục đích hoạt động, thì

phải xin phép, đăng kí tại cơ quan nhà nước

có thẩm quyền” Quy định này mang tính bắt

buộc nhất quán, thể hiện tích chất chuyên

biệt trong năng lực pháp luật của pháp nhân

Mỗi pháp nhân có mục đích và phạm vi hoạt

động riêng của mình Vì vậy, giao dịch dân

sự do pháp nhân xác lập mà không phù hợp

với mục đích hoạt động, vượt quá phạm vi

hoạt động của pháp nhân cũng bị coi là vô

hiệu Pháp luật dân sự của một số nước có

những quy định rất cụ thể về điều này Ví dụ:

Điều 116 BLDS và thương mại Thái Lan quy

định: “Một hành vi pháp lí không tuân theo

những yêu cầu về khả năng (capacity) của

thể nhân, pháp nhân thì có thể bị vô hiệu”.(4)

Bộ luật dân sự của Liên bang Nga cũng quy

định các giao dịch dân sự của pháp nhân

vượt ra khỏi phạm vi năng lực pháp luật của

mình đều có thể bị coi là vô hiệu.(5)

Trong BLDS của Việt Nam không hề có

điều luật nào quy định cho trường hợp giao

dịch dân sự của pháp nhân vượt quá mục

đích phạm vi hoạt động của mình

Câu hỏi được đặt ra là đối với các giao

dịch của pháp nhân không phù hợp với mục

đích và phạm vi hoạt động của mình thì bị vô

hiệu dưới hình thức vô hiệu tuyệt đối hay vô

hiệu tương đối? Vấn đề này còn đang gây

tranh luận trong giới các nhà nghiên cứu luật dân sự, chưa đạt được sự thống nhất chung

về quan điểm Vấn đề càng trở nên phức tạp hơn nữa khi pháp luật một số nước dần chuyển sang công nhận cả hai loại năng lực pháp luật của pháp nhân là năng lực pháp luật chuyên biệt và năng lực pháp luật chung (khi pháp nhân được đăng kí tất cả mọi hoạt

động kinh doanh mà pháp luật không ngăn cấm, chỉ trừ một số ít những hoạt động yêu cầu giấy phép đặc biệt riêng như hoạt động bán đấu giá, hoạt động ngân hàng, hoạt động

tổ chức thị trường chứng khoán )

Việc xét xem trường hợp này là vô hiệu tuyệt đối hay tương đối phụ thuộc rất nhiều vào đặc điểm hệ thống pháp luật của từng quốc gia, cũng như phụ thuộc vào thực tiễn của quan hệ giao dịch dân sự tại mỗi quốc gia Ví dụ như pháp luật của Liên bang Nga coi trường hợp này thuộc vô hiệu tương đối

Điều 173 BLDS Liên bang Nga quy định:

“Giao dịch do pháp nhân xác lập không phù hợp với mục đích hoạt động ghi trong lí lịch của pháp nhân, hoặc do pháp nhân xác lập

mà không có giấy phép hoạt động trong lĩnh vực đó, thì có thể bị toà án tuyên bố vô hiệu theo đơn kiện của chính pháp nhân, của thành viên pháp nhân, hoặc của cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiểm tra giám sát, nếu như chứng minh được rằng bên đối tác của giao dịch đ- biết trước hoặc cần phải biết trước rằng việc xác lập giao dịch là không hợp pháp” Quy định này thể hiện rõ quan

điểm của các nhà lập pháp Liên bang Nga coi giao dịch dân sự vô hiệu do pháp nhân xác lập vượt quá mục đích và phạm vi hoạt

động của mình là thuộc vô hiệu tương đối

Trang 7

Tuy nhiên, sự vô hiệu tương đối ở đây cũng

có những nét đặc thù riêng Thông thường

trong thực tế các giao dịch này chỉ bị tuyên

bố vô hiệu khi bên đối tác đ[ biết hoặc cần

phải biết từ trước rằng pháp nhân đó xác lập

giao dịch vượt quá phạm vi hoạt động của

mình Còn nếu như bên đối tác không biết và

không thể biết được điều đó thì thể theo

nguyện vọng của bên đối tác mà giao dịch

dân sự vẫn có thể được coi là có hiệu lực

Điều này nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi

của bên đối tác ngay tình, buộc bên pháp

nhân vi phạm vẫn phải chịu sự ràng buộc

nghĩa vụ theo giao dịch đối với bên đối tác

Theo các quy định của pháp luật Việt

Nam thì các trường hợp giao dịch dân sự vô

hiệu do pháp nhân xác lập vượt quá mục đích

và phạm vi hoạt động của mình được suy

diễn là vô hiệu tuyệt đối Theo nguyên tắc

chung đối với các giao dịch dân sự vô hiệu,

nếu như pháp luật không thể hiện rõ quan

điểm cho đó là vô hiệu tương đối thì giao

dịch đó phải bị coi là vô hiệu tuyệt đối Các

quy định của Pháp lệnh về hợp đồng kinh tế

cho thấy rằng các hợp đồng kinh tế của pháp

nhân xác lập vượt quá mục đích và phạm vi

hoạt động của mình thì bị đương nhiên vô

hiệu không phụ thuộc vào quyết định của toà

án cũng như không phụ thuộc vào việc các

bên của hợp đồng có yêu cầu hay không

Trước đây, Thông tư số 108/TT-PC ngày

19/5/1990 về hướng dẫn kí kết và thực hiện

hợp đồng kinh tế của Trọng tài kinh tế Nhà

nước còn quy định cụ thể hơn trường hợp

một bên kí kết hợp đồng kinh tế để thực hiện

một công việc không thuộc hoạt động sản

xuất, kinh doanh mà mình đ[ đăng kí thì

phải chứng minh các công việc đó không vi phạm pháp luật đăng kí kinh doanh Nếu chứng minh được thì hợp đồng kinh tế đó mới không bị coi là vô hiệu

- Vấn đề các trường hợp vô hiệu do vi phạm điều kiện về hình thức của giao dịch dân sự

Vấn đề này cũng đang là đối tượng của cuộc tranh luận sôi nổi trong giới luật học Việt Nam Nguyên nhân của cuộc tranh luận xuất phát từ quy định tại Điều 139 BLDS về giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ các quy định về hình thức Điều 139 BLDS quy định: “Trong trường hợp pháp luật quy

định giao dịch dân sự vô hiệu, nếu không

được thể hiện bằng văn bản, không được Công chứng nhà nước chứng nhận, không

được chứng thực, đăng kí hoặc cho phép, thì theo yêu cầu của một hoặc các bên, Toà án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác quyết

định buộc các bên thực hiện quy định về hình thức của giao dịch trong một thời hạn; quá thời hạn đó mà không thực hiện, thì giao dịch vô hiệu Bên có lỗi làm cho giao dịch vô hiệu phải bồi thường thiệt hại”

Trên thực tế đang tồn tại hai quan điểm trái ngược nhau về vấn đề này Quan điểm thứ nhất cho rằng đây thuộc trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu tương đối bởi những lí do: 1) Giao dịch vô hiệu “theo yêu cầu của một hoặc các bên”; 2) Giao dịch chỉ bị coi là vô hiệu khi quá thời hạn toà án buộc thực hiện các quy định về hình thức mà các bên vẫn không thực hiện các quy định đó Lí do thứ nhất là không hợp lí, bởi vì “yêu cầu của một hoặc các bên” ở đây không phải là yêu cầu toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu

Trang 8

mà là yêu cầu cho phép các bên có thể sửa

chữa những sai phạm về hình thức của giao

dịch, hoàn thiện các thủ tục về hình thức mà

pháp luật quy định nhằm mục đích làm cho

giao dịch trở nên có hiệu lực Từ đó suy ra lí

do thứ hai cũng không mang tính thuyết

phục Bởi lẽ, khi hết thời hạn đó mà các bên

không thực hiện các quy định về hình thức

thì khi đó giao dịch vẫn bị coi là vô hiệu (chứ

không được hiểu là chỉ khi đó giao dịch mới

vô hiệu), các bên phải thực hiện các nghĩa vụ

là hậu quả của giao dịch vô hiệu

Quan điểm thứ hai mang tính đúng đắn

hơn cho rằng giao dịch dân sự vô hiệu do vi

phạm các quy định về hình thức là thuộc

trường hợp vô hiệu tuyệt đối Bởi lẽ, các

trường hợp giao dịch phải tuân thủ theo hình

thức nhất định được pháp luật quy định rất cụ

thể và mang tính chất bắt buộc đối với các

bên của giao dịch Cũng chính vì tính chất vô

hiệu tuyệt đối mà pháp luật không hạn chế

thời gian yêu cầu toà án tuyên bố giao dịch

vô hiệu (khoản 2 Điều 145 BLDS) còn đối

với các trường hợp vô hiệu tương đối thì thời

hạn khởi kiện được quy định là 1 năm

(khoản 1 Điều 145 BLDS) Khoản 5 Điều

403 BLDS khẳng định thêm một lần nữa

quan điểm này khi quy định đối với các hợp

đồng phải có chứng nhận của công chứng

nhà nước, chứng thực, đăng kí hoặc xin phép

thì chỉ có hiệu lực từ thời điểm được chứng

nhận, chứng thực, đăng kí hoặc cho phép

Điều đó có nghĩa là khi các bên chưa thực

hiện các quy định về hình thức văn bản có

công chứng, chứng nhận, chứng thực hoặc

đăng kí thì hợp đồng chưa có hiệu lực pháp

luật

Hình thức của giao dịch dân sự không

những được pháp luật quy định mà còn có

thể do các bên tự thoả thuận Điều 139 BLDS chỉ quy định giao dịch vô hiệu khi vi phạm các quy định của pháp luật mà thôi Vậy còn các trường hợp vi phạm thoả thuận giữa các bên về hình thức của giao dịch thì sao? Ví dụ trường hợp cụ thể là mặc dù pháp luật không quy định nhưng hai bên của hợp đồng đ[ tự thoả thuận với nhau áp dụng hình thức văn bản có công chứng, chứng thực Thế nhưng sau đó một bên từ chối không chịu thực hiện việc công chứng hợp đồng, mặc dù phía bên kia đ[ thực hiện xong toàn bộ hoặc một phần nghĩa vụ của mình trong hợp đồng Vậy giao dịch hợp đồng đó có bị vô hiệu hay không? Như đ[ phân tích tại phần trên, khái niệm vô hiệu của giao dịch về thực chất là chế tài pháp lí buộc các chủ thể phải gánh chịu khi

vi phạm các quy định của pháp luật về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự Chính bởi vậy, việc tuyên bố giao dịch vô hiệu không được áp dụng trong trường hợp này, khi yêu cầu về hình thức không do pháp luật quy định mà chỉ do các bên tự thoả thuận Theo quy định tại mục 2 khoản 1 Điều 400 BLDS thì “Khi các bên thoả thuận giao kết hợp đồng bằng hình thức nhất định, thì hợp

đồng được coi là đ- giao kết khi đ- tuân theo hình thức đó” Như vậy, nếu các bên chưa thực hiện các yêu cầu về hình thức như đ[ thoả thuận thì hợp đồng chưa được giao kết./

(1).Xem: Cuốn Bình luận khoa học một số vấn đề cơ bản của BLDS Viện nghiên cứu khoa học pháp lí, Nxb Chính trị quốc gia 1997, tr 72

(2).Xem: Điều 145 BLDS

(3).Xem: Khoản 2 Điều 142 BLDS

(4).Xem: Cuốn BLDS và thương mại Thái Lan, Nxb Chính trị quốc gia 1995, tr 34

(5).Xem: Điều 173 BLDS Liên bang Nga được thông qua ngày 21/10/1994

Ngày đăng: 31/03/2014, 09:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w