Tuy nhiên, trong thực tiễn đấu tranh với tội phạm thì thấy rằng trong một số trường hợp mặc dù hành vi phạm tội đ# xảy ra, người thực hiện hành vi phạm tội còn sống và hoàn toàn có đủ kh
Trang 1TS Phạm Hồng Hải * uật hình sự là bộ phận hợp thành hệ
thống pháp luật nước ta, có chức năng
điều chỉnh các quan hệ x# hội giữa một bên là
người phạm tội và bên kia là Nhà nước Để
thực hiện chức năng điều chỉnh đó, luật hình
sự quy định tội phạm và hình phạt và kèm
theo chúng là các chế định khác trong đó có
chế định trách nhiệm hình sự Trách nhiệm
hình sự là dạng trách nhiệm pháp lí do người
phạm tội phải chịu trước Nhà nước Nhà nước
là chủ thể duy nhất có quyền thực hiện việc
truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người
phạm tội thông qua các biện pháp cưỡng chế
như khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và các
biện pháp tư pháp hình sự khác được áp dụng
đối với người phạm tội áp dụng các biện
pháp nêu trên với người phạm tội là thể hiện
tính nghiêm khắc của luật hình sự so với các
ngành luật khác Nó phù hợp với một trong
những nguyên tắc rất quan trọng của luật hình
sự nước ta là không một hành vi phạm tội nào
không bị phát hiện và không một người phạm
tội nào không bị trừng trị
Song song với tính nghiêm khắc, luật
hình sự còn có tính nhân đạo cao thể hiện
thông qua nhiều quy định và chế định khác
nhau trong đó có chế định thời hiệu truy cứu
trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình
sự
Về nguyên tắc, một người đ# thực hiện
hành vi nguy hiểm cho x# hội được coi là tội
phạm thì người đó phải chịu trách nhiệm hình
sự Tuy nhiên, trong thực tiễn đấu tranh với tội phạm thì thấy rằng trong một số trường hợp mặc dù hành vi phạm tội đ# xảy ra, người thực hiện hành vi phạm tội còn sống và hoàn toàn có đủ khả năng chịu các biện pháp khác nhau của trách nhiệm hình sự nhưng do có những điều kiện nhất định, Nhà nước thấy cần miễn trách nhiệm hình sự cho họ hoặc không cần truy cứu trách hiệm hình sự đối với họ Chính vì vậy, trong Bộ luật hình sự (BLHS) năm 1985 cũng như BLHS năm 1999
đ# có hai điều luật quy định về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự
Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là khoảng thời gian (thời hạn) do luật định mà khi đ# qua thời gian đó thì không được truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội nữa Tính nhân đạo của chế định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự thể hiện ở chỗ lẽ ra người phạm tội phải bị Nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng vì những lí do chủ quan nào đó từ phía các cơ quan bảo vệ pháp luật
mà tội phạm, người phạm tội đ# không bị phát hiện và khi tội phạm, người phạm tội bị phát hiện thì đ# qua thời hạn coi là thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội phạm
đó Quy định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự xuất phát từ quan niệm cho rằng, vì những nguyên nhân, mục đích, động cơ nào
L
* Viện nghiên cứu nhà nước và pháp luật
Trang 2đó mà một người đ# thực hiện hành vi phạm
tội nhưng trong khoảng thời gian nhất định
sau khi đ# phạm tội, họ không phạm tội mới,
đ# ăn năn hối cải thậm chí trở thành người
tốt, có ích, có uy tín trong x# hội Đối với
những người này không cần bắt họ phải chịu
trách nhiệm hình sự trước Nhà nước bởi lẽ
chính bản thân họ đ# tự giáo dục và cải tạo
tốt
Chế định thời hiệu truy cứu trách nhiệm
hình sự chỉ được áp dụng đối với những tội
phạm và người phạm tội khi chúng không bị
phát hiện bởi các cơ quan bảo vệ pháp luật
Trong trường hợp ngược lại, khi tội phạm đ#
bị phát hiện, người phạm tội đ# có lệnh truy
n# nhưng vẫn cố tình trốn tránh thì thời gian
trốn tránh không được tính vào thời hiệu mà
nó chỉ được tính khi người phạm tội ra tự thú
hoặc bị bắt giữ
Trong luật hình sự nước ta, chế định thời
hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự lần đầu tiên
được thể chế hoá trong BLHS năm 1985
Trước khi pháp điển hoá luật hình sự, việc
quyết định áp dụng hay không áp dụng thời
hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự thuộc thẩm
quyền của VKSNDTC (VKSNDTC) và
TANDTC (TANDTC) Chính vì vậy mà tư
tưởng này vẫn tiếp tục được thể hiện trong
quy định về thời hiệu truy cứu trách nhiệm
hình sự của Bộ luật hình sự năm 1985 Điều
45 năm BLHS 1985 quy định:
"1 Không truy cứu trách nhiệm hình sự
nếu tính từ ngày tội phạm được thực hiện đ
qua những thời hạn sau đây:
a) Năm năm đối với các tội phạm ít
nghiêm trọng mà Bộ luật quy định hình phạt
từ hai năm tù trở xuống hoặc hình phạt khác
nhẹ hơn;
b) Mười năm đối với các tội phạm ít nghiêm trọng mà Bộ luật quy định hình phạt
tù trên hai năm;
c) Mười lăm năm đối với các tội phạm nghiêm trọng
Nếu trong thời hạn nói trên người phạm tội lại phạm tội mới mà Bộ luật quy định hình phạt từ một năm tù trở lên thì thời gian đ qua không được tính và thời hiệu đối với tội
cũ được tính lại kể từ ngày phạm tội mới Nếu trong thời hạn nói trên, người phạm tội cố tình trốn tránh và đ có lệnh truy n thì thời gian trốn tránh không được tính; thời hiệu tính lại kể từ khi người đó ra tự thú hoặc
bị bắt giữ
Đối với trường hợp nói ở điểm c khoản 1
Điều này nếu có lí do đặc biệt thì VKSNDTC vẫn có thể truy cứu trách nhiệm hình sự và TANDTC có thể quyết định không áp dụng thời hiệu"
Trong thời gian qua, cùng với sự phát triển của luật hình sự nói chung và chế định phân loại tội phạm nói riêng, chế định về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đ# có những thay đổi lớn Điều 23 BLHS năm 1999 quy định:
1 "Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình
sự là thời hạn do Bộ luật này quy định mà khi hết thời hạn đó thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự
2 Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự
được quy định như sau:
a) Năm năm đối với các tội phạm ít nghiêm trọng;
b) Mười năm đối với các tội phạm nghiêm trọng;
Trang 3c) Mười lăm năm đối với các tội phạm
rất nghiêm trọng;
d) Hai mươi năm đối với các tội phạm
đặc biệt nghiêm trọng
3 Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự
được tính từ ngày tội phạm được thực hiện
Nếu trong thời hạn quy định tại khoản 2 điều
này người phạm tội lại phạm tội mới mà Bộ
luật quy định mức cao nhất của khung hình
phạt đối với tội ấy trên một năm tù thì thời
gian đ qua không được tính và thời hiệu đối
với tội cũ được tính lại kể từ ngày phạm tội
mới
Nếu trong thời hạn nói trên, người phạm
tội cố tình lẩn tránh và đ có lệnh truy n thì
thời gian trốn tránh không được tính và thời
hiệu tính lại kể từ khi người đó ra tự thú hoặc
bị bắt giữ"
Như vậy, thay vì có ba loại thời hiệu truy
cứu trách nhiệm hình sự (năm năm, mười
năm và mười lăm năm) theo như quy định của
BLHS năm 1985 thì nay theo quy định của
BLHS năm 1999 có bốn loại thời hiệu truy
cứu trách nhiệm hình sự phù hợp với bốn loại
tội phạm và thời hiệu dài nhất lên tới hai
mươi năm Trước đây, theo quy định của
BLHS năm 1985 thì việc không áp dụng thời
hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự thuộc thẩm
quyền của VKSNDTC và TANDTC và các tội
phạm có thể không được áp dụng thời hiệu
bao gồm tất cả các loại tội phạm có mức hình
phạt cao nhất quy định trong luật từ trên năm
năm tù trở lên, nay theo quy định của BLHS
năm 1999 không áp dụng thời hiệu truy cứu
trách nhiệm hình sự được coi là chế định độc
lập của luật hình sự và được quy định tại một
điều luật trong Bộ luật (Điều 24) Theo quy
định của Điều này thì chỉ các tội phạm quy
định tại Chương XI và Chương XXIV của BLHS (các tội xâm phạm an ninh quốc gia và các tội phá hoại hoà bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh) mới không áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự còn các tội phạm nằm ngoài hai chương nói trên mặc dù
là rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng cũng vẫn được áp dụng chế định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự So với quy định
về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự quy
định tại Điều 45 BLHS năm 1985 thì quy
định về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình
sự và không áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự tại Điều 23 và 24 BLHS năm
1999 vừa có nhiều điểm mới về nội dung lại vừa có sự tiến bộ về kĩ thuật lập pháp Điều này thể hiện rõ nét chính sách hình sự của
Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay
là vừa kiên quyết, triệt để, chủ động trấn áp tội phạm vừa khoan hồng, nhân đạo đối với người phạm tội có biểu hiện ăn năn hối cải, mong muốn cải tạo trở thành người tốt, người
có ích cho x# hội
Khi một người thực hiện hành vi nguy hiểm cho x# hội bị coi là tội phạm nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự không
có nghĩa là cho tới thời điểm người phạm tội
bị phát hiện hành vi của họ không được coi là tội phạm nữa Phải khẳng định rằng hành vi
đó vẫn được luật hình sự coi là tội phạm (tội phạm chưa được đại xá) nhưng vì khoảng thời gian được coi là thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đ# qua đi, trong khoảng thời gian ấy người phạm tội đ# không phạm tội mới và điều này đ# chứng minh rằng đối với tội phạm đó, người đó không cần thiết phải
đưa ra truy cứu thông qua các biện pháp cưỡng chế tố tụng như khởi tố, điều tra, truy
tố, xét xử nữa Trong tố tụng hình sự, hết thời
Trang 4hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là một
trong những căn cứ không được khởi tố vụ án
hình sự Nếu một người bị khởi tố, điều tra,
truy tố, xét xử nhưng tới thời điểm phát hiện
thấy thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự
đ# hết thì phải đình chỉ điều tra (nếu tố tụng
hình sự đang ở giai đoạn điều tra) hoặc đình
chỉ vụ án (nếu tố tụng hình sự đang ở trong
giai đoạn truy tố hoặc xét xử) Hết thời hiệu
truy cứu trách nhiệm hình sự còn là căn cứ để
cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố
tụng có thẩm quyền không được ra quyết định
kháng nghị tái thẩm theo hướng tăng nặng
đối với người phạm tội
Hiện nay trong luật hình sự cũng như
Luật tố tụng hình sự của nước ta chưa có điều
luật nào quy định về trách nhiệm hoặc hậu
quả pháp lí của người đ# phạm tội nhưng
không bị truy cứu trách nhiệm hình sự bởi
thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đ# hết
Lẽ đương nhiên, ai cũng hiểu là trong trường
hợp này họ không phải chịu trách nhiệm hình
sự, thế nhưng vấn đề đặt ra là việc họ không
bị truy cứu trách nhiệm hình sự có giải phóng
họ khỏi các trách nhiệm khác không, thí dụ
trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng, trách nhiệm công khai xin lỗi người bị
hại hoặc trách nhiệm khôi phục lại những
quan hệ x# hội mà hành vi phạm tội của họ
trước đây đ# xâm hại? Thí dụ, một người
phạm tội giết người, hai mươi năm sau thời
hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đ# hết và
người này không bị truy cứu trách nhiệm hình
sự nữa thế nhưng vấn đề đặt ra là người này
có trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng theo quy định trong các Điều 614, 615,
616 Bộ luật dân sự? Thời hiệu khởi kiện đòi
bồi thường trong trường hợp này được quy
định ra sao? Người bị hại (đại diện người bị
hại) hoặc những người khác còn có quyền khiếu kiện người này để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình (thí dụ, đại diện của người bị hại yêu cầu thanh toán tiền thuê thám tử điều tra trong hai mươi năm; nếu vụ
án có người bị xét xử oan thì người phạm tội
có trách nhiệm gì trong việc khôi phục lại quyền và lợi ích hợp pháp của người bị oan, cơ quan và người tiến hành tố tụng có trách nhiệm, nghĩa vụ gì với người bị oan cũng như gia đình người bị hại) Tất cả những câu hỏi trên đây hiện còn chưa có lời giải đáp
Qua nghiên cứu thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự nói chung và áp dụng chế định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự nói riêng trong thời gian qua ở nước
ta, chúng tôi cho rằng luật hình sự, luật tố tụng hình sự và luật tố tụng dân sự ở nước ta cần có các quy định giải quyết các vấn đề đặt
ra trên đây liên quan tới chế định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự theo hướng một người đ# phạm tội nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự bởi thời hiệu đ# hết vẫn phải chịu các loại trách nhiệm pháp lí khác nếu có Xuất phát từ thực tiễn là những vấn đề dân sự thường được giải quyết ngay trong quá trình giải quyết vụ án hình sự và trách nhiệm hình sự là loại trách nhiệm pháp lí nặng nề nhất nên có người cho rằng khi hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, Nhà nước đ#
"giải phóng" người phạm tội khỏi trách nhiệm hình sự thì cũng có nghĩa là "giải phóng" họ khỏi các trách nhiệm pháp lí khác Chúng tôi không đồng tình với quan niệm trên đây Như tất cả mọi người đều thừa nhận, quan
hệ pháp luật hình sự là loại quan hệ rất hẹp giữa hai chủ thể: Một bên là người phạm tội
và bên kia là Nhà nước Trách nhiệm hình sự
là trách nhiệm của người phạm tội phải chịu
Trang 5trước Nhà nước Khi hành vi phạm tội được
thực hiện, nó không chỉ làm phát sinh trách
nhiệm hình sự của người phạm tội trước Nhà
nước mà còn làm phát sinh nhiều loại trách
nhiệm của người này trước các chủ thể khác
nhau như công dân, tổ chức, tập thể Khi
thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đ# hết,
nếu Nhà nước (mà cụ thể trong trường hợp
này là pháp luật) giải phóng người phạm tội
khỏi trách nhiệm hình sự và đồng thời giải
phóng họ khỏi các trách nhiệm khác là vi
phạm tới quyền và lợi ích hợp pháp của công
dân, tổ chức - đối tượng cần được Nhà nước
và pháp luật bảo vệ Vì những lẽ trên, chúng
tôi cho rằng, việc luật hình sự có những quy
định thể hiện sự nhân đạo đối với người phạm
tội là rất cần thiết, thế nhưng về nguyên tắc,
các quy định đó không thể làm xấu đi tình
trạng của người khác, xâm phạm tới quyền và
lợi ích hợp pháp của họ Một người không bị
truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm
tội đ# thực hiện bởi lí do thời hiệu truy cứu
trách nhiệm hình sự đ# hết như trên đ# nêu
không thể được coi là người không phạm tội
bởi thực tế họ đ# phạm tội Điểm khác của
người này so với những người phạm tội khác
là ở chỗ người đó không bị toà án tuyên bản
án kết tội và vì thế theo nguyên tắc suy đoán
vô tội người này không bị coi là người có tội
ở đây, trước hết về hình thức, tồn tại
mâu thuẫn: Người phạm tội nhưng không bị
coi là người có tội Khi đ# không bị coi là
người có tội bởi không bị tuyên bằng bản án
buộc tội nên vấn đề án tích cũng không đặt ra
đối với người đó Như vậy, nếu so sánh những
trường hợp phạm tội tương tự thì người lẩn
trốn pháp luật lại luôn có lợi thế hơn người
không lẩn trốn Thí dụ, tháng bảy năm 1981
A phạm tội giết người theo khoản 1 Điều 101 BLHS năm 1985 và cùng thời gian đó B cũng phạm tội giết người tương tự Năm năm sau khi phạm tội, B ra tự thú và bị xét xử với mức
án chung thân kèm theo hình phạt bổ sung là quản chế ba năm và bồi thường thiệt hại
Do được giảm thời hạn chấp hành hình phạt, tháng bảy năm 2001 B được trả tự do Theo quy định của điểm c khoản 1 Điều 65 BLHS năm 1999 thì 13 năm sau (tức tới năm 2014) B mới có thể được xoá án tích
Trong khi đó, khi A không bị phát hiện thì theo quy định về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự trong BLHS năm1999, đến tháng 7/2001 thời hiệu đ# hết và A ung dung như người không có tội, không mang án tích
và theo các quy định hiện hành thì A có tất cả các quyền lợi như công dân bình thường Như vậy, nếu kèm theo chế định về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự không có các quy
định khác phù hợp thì trong thực tế áp dụng pháp luật sẽ nảy sinh nhiều điểm bất hợp lí, vi phạm nguyên tắc công bằng và đôi khi tạo ra
kẽ hở pháp luật cho những kẻ xấu lách luật
Điều 139 BLTTHS quy định hai căn cứ để cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra là có một trong những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự (trong đó có tình tiết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đ# hết)
và đ# hết thời hạn điều tra mà không chứng minh được bị can đ# thực hiện tội phạm ở
đây, chúng tôi không bàn tới căn cứ thứ hai bởi không liên quan tới vấn đề đang được xem xét Qua nghiên cứu, chúng tôi cho rằng luật tố tụng hình sự quy định hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là một trong những căn cứ để đình chỉ điều tra là chưa thể hiện được tính kiên quyết trong đấu tranh với
Trang 6tội phạm Hoạt động điều tra, phát hiện tội
phạm không chỉ có mục đích và ý nghĩa về tố
tụng hình sự là giải quyết trách nhiệm hình sự
của người phạm tội mà còn có mục đích xác
định các loại trách nhiệm khác mà người
phạm tội không được "giải phóng" thậm chí
cả khi thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự
đ# hết Ngoài ra, việc cơ quan điều tra có
thẩm quyền (điều tra trong tố tụng và điều tra
ngoài tố tụng) kiên quyết khám phá tội phạm
và người phạm tội kể cả khi thời hiệu truy
cứu trách nhiệm hình sự đ# hết có ý nghĩa x#
hội rất lớn trong việc làm giảm tỉ lệ tội phạm
ẩn, tăng tỉ lệ tội phạm rõ, khẳng định nguyên tắc mọi tội phạm đều phải bị phát hiện, mọi người phạm tội đều bị xử lí
Từ sự phân tích trên đây, chúng tôi cho rằng có thể coi hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự như một căn cứ không khởi tố
vụ án hình sự, khởi tố bị can nhưng không thể coi đây là căn cứ để không tiến hành điều tra hoặc căn cứ đình chỉ điều tra như quy định trong pháp luật tố tụng hình sự hiện hành./
Góp ý cho Dự thảo Tiếp theo trang 7
Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, bộ
trưởng, chánh án Toà án nhân dân tối cao,
viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao…
Như vậy thì có thể ngăn chặn và giảm bớt sự
tham quyền, phát huy cao độ năng lực của
cán bộ trong hoạt động của Nhà nước, góp
phần nâng cao hiệu quả hoạt động và mức độ
hoàn thiện của bộ máy nhà nước
Trong tương lai, để bảo đảm cho mỗi
người có đủ thời gian, sức lực và trí tuệ để
hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình thì Hiến
pháp sửa đổi nên quy định rõ là không ai có
thể vừa là đại biểu Quốc hội, vừa là bộ trưởng
hoặc thẩm phán cùng một lúc Nếu quy định
như vậy thì Thủ tướng, các thành viên khác
của Chính phủ cũng như các thẩm phán đều
không phải làm thêm nhiệm vụ đại biểu Quốc
hội giúp họ tránh được tình trạng “quá tải” vì
công việc và trách nhiệm, vì thế, họ sẽ có đủ
điều kiện để thực hiện tốt thẩm quyền của
mình Nhờ đó có thể tránh được tình trạng
Chính phủ phải có một bộ máy đồ sộ để thực
hiện các nhiệm vụ không phải chỉ của Chính
phủ mà của cả Quốc hội bởi lẽ “trên 2/3 số thành viên của Chính phủ và người đứng đầu các cơ quan Chính phủ là đại biểu Quốc hội”.(2) Do vậy “vì phải bận quá nhiều việc của Quốc hội và Chính phủ không có đủ điều kiện nhiệm vụ” “Thay mặt Chính phủ báo cáo công tác trước Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội”, thông thường lại uỷ quyền cho thứ trưởng báo cáo công tác trước Uỷ ban thường
vụ Quốc hội”.(3) Quy định như vậy thì mới có thể thực hiện được sự phân công, phân nhiệm
rõ ràng giữa các cơ quan nhà nước, bảo đảm
sự độc lập và hiệu quả hoạt động của chúng Trên đây là một số ý kiến đóng góp với mong muốn làm cho Hiến pháp của nước ta ngày càng hoàn thiện hơn./
(2).Xem: “Một số vấn đề về hoàn thiện tổ chức và hoạt
động của bộ máy Nhà nước Cộng hoà x# hội chủ nghĩa Việt Nam”, TS Lê Minh Thông (Chủ biên) Nxb Khoa học x# hội - Hà Nội 2001, tr 302
(3).Xem: “Một số vấn đề về hoàn thiện tổ chức và hoạt
động của bộ máy Nhà nước Cộng hoà x# hội chủ nghĩa Việt Nam”, Sđd, tr.303