1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo "Chế định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và vấn đề áp dụng chế định này trong thực tiễn " potx

7 828 11
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 109,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, trong thực tiễn đấu tranh với tội phạm thì thấy rằng trong một số trường hợp mặc dù hành vi phạm tội đ# xảy ra, người thực hiện hành vi phạm tội còn sống và hoàn toàn có đủ kh

Trang 1

TS Phạm Hồng Hải * uật hình sự là bộ phận hợp thành hệ

thống pháp luật nước ta, có chức năng

điều chỉnh các quan hệ x# hội giữa một bên là

người phạm tội và bên kia là Nhà nước Để

thực hiện chức năng điều chỉnh đó, luật hình

sự quy định tội phạm và hình phạt và kèm

theo chúng là các chế định khác trong đó có

chế định trách nhiệm hình sự Trách nhiệm

hình sự là dạng trách nhiệm pháp lí do người

phạm tội phải chịu trước Nhà nước Nhà nước

là chủ thể duy nhất có quyền thực hiện việc

truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người

phạm tội thông qua các biện pháp cưỡng chế

như khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và các

biện pháp tư pháp hình sự khác được áp dụng

đối với người phạm tội áp dụng các biện

pháp nêu trên với người phạm tội là thể hiện

tính nghiêm khắc của luật hình sự so với các

ngành luật khác Nó phù hợp với một trong

những nguyên tắc rất quan trọng của luật hình

sự nước ta là không một hành vi phạm tội nào

không bị phát hiện và không một người phạm

tội nào không bị trừng trị

Song song với tính nghiêm khắc, luật

hình sự còn có tính nhân đạo cao thể hiện

thông qua nhiều quy định và chế định khác

nhau trong đó có chế định thời hiệu truy cứu

trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình

sự

Về nguyên tắc, một người đ# thực hiện

hành vi nguy hiểm cho x# hội được coi là tội

phạm thì người đó phải chịu trách nhiệm hình

sự Tuy nhiên, trong thực tiễn đấu tranh với tội phạm thì thấy rằng trong một số trường hợp mặc dù hành vi phạm tội đ# xảy ra, người thực hiện hành vi phạm tội còn sống và hoàn toàn có đủ khả năng chịu các biện pháp khác nhau của trách nhiệm hình sự nhưng do có những điều kiện nhất định, Nhà nước thấy cần miễn trách nhiệm hình sự cho họ hoặc không cần truy cứu trách hiệm hình sự đối với họ Chính vì vậy, trong Bộ luật hình sự (BLHS) năm 1985 cũng như BLHS năm 1999

đ# có hai điều luật quy định về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự

Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là khoảng thời gian (thời hạn) do luật định mà khi đ# qua thời gian đó thì không được truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội nữa Tính nhân đạo của chế định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự thể hiện ở chỗ lẽ ra người phạm tội phải bị Nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng vì những lí do chủ quan nào đó từ phía các cơ quan bảo vệ pháp luật

mà tội phạm, người phạm tội đ# không bị phát hiện và khi tội phạm, người phạm tội bị phát hiện thì đ# qua thời hạn coi là thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội phạm

đó Quy định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự xuất phát từ quan niệm cho rằng, vì những nguyên nhân, mục đích, động cơ nào

L

* Viện nghiên cứu nhà nước và pháp luật

Trang 2

đó mà một người đ# thực hiện hành vi phạm

tội nhưng trong khoảng thời gian nhất định

sau khi đ# phạm tội, họ không phạm tội mới,

đ# ăn năn hối cải thậm chí trở thành người

tốt, có ích, có uy tín trong x# hội Đối với

những người này không cần bắt họ phải chịu

trách nhiệm hình sự trước Nhà nước bởi lẽ

chính bản thân họ đ# tự giáo dục và cải tạo

tốt

Chế định thời hiệu truy cứu trách nhiệm

hình sự chỉ được áp dụng đối với những tội

phạm và người phạm tội khi chúng không bị

phát hiện bởi các cơ quan bảo vệ pháp luật

Trong trường hợp ngược lại, khi tội phạm đ#

bị phát hiện, người phạm tội đ# có lệnh truy

n# nhưng vẫn cố tình trốn tránh thì thời gian

trốn tránh không được tính vào thời hiệu mà

nó chỉ được tính khi người phạm tội ra tự thú

hoặc bị bắt giữ

Trong luật hình sự nước ta, chế định thời

hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự lần đầu tiên

được thể chế hoá trong BLHS năm 1985

Trước khi pháp điển hoá luật hình sự, việc

quyết định áp dụng hay không áp dụng thời

hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự thuộc thẩm

quyền của VKSNDTC (VKSNDTC) và

TANDTC (TANDTC) Chính vì vậy mà tư

tưởng này vẫn tiếp tục được thể hiện trong

quy định về thời hiệu truy cứu trách nhiệm

hình sự của Bộ luật hình sự năm 1985 Điều

45 năm BLHS 1985 quy định:

"1 Không truy cứu trách nhiệm hình sự

nếu tính từ ngày tội phạm được thực hiện đ

qua những thời hạn sau đây:

a) Năm năm đối với các tội phạm ít

nghiêm trọng mà Bộ luật quy định hình phạt

từ hai năm tù trở xuống hoặc hình phạt khác

nhẹ hơn;

b) Mười năm đối với các tội phạm ít nghiêm trọng mà Bộ luật quy định hình phạt

tù trên hai năm;

c) Mười lăm năm đối với các tội phạm nghiêm trọng

Nếu trong thời hạn nói trên người phạm tội lại phạm tội mới mà Bộ luật quy định hình phạt từ một năm tù trở lên thì thời gian đ qua không được tính và thời hiệu đối với tội

cũ được tính lại kể từ ngày phạm tội mới Nếu trong thời hạn nói trên, người phạm tội cố tình trốn tránh và đ có lệnh truy n thì thời gian trốn tránh không được tính; thời hiệu tính lại kể từ khi người đó ra tự thú hoặc

bị bắt giữ

Đối với trường hợp nói ở điểm c khoản 1

Điều này nếu có lí do đặc biệt thì VKSNDTC vẫn có thể truy cứu trách nhiệm hình sự và TANDTC có thể quyết định không áp dụng thời hiệu"

Trong thời gian qua, cùng với sự phát triển của luật hình sự nói chung và chế định phân loại tội phạm nói riêng, chế định về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đ# có những thay đổi lớn Điều 23 BLHS năm 1999 quy định:

1 "Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình

sự là thời hạn do Bộ luật này quy định mà khi hết thời hạn đó thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự

2 Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự

được quy định như sau:

a) Năm năm đối với các tội phạm ít nghiêm trọng;

b) Mười năm đối với các tội phạm nghiêm trọng;

Trang 3

c) Mười lăm năm đối với các tội phạm

rất nghiêm trọng;

d) Hai mươi năm đối với các tội phạm

đặc biệt nghiêm trọng

3 Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự

được tính từ ngày tội phạm được thực hiện

Nếu trong thời hạn quy định tại khoản 2 điều

này người phạm tội lại phạm tội mới mà Bộ

luật quy định mức cao nhất của khung hình

phạt đối với tội ấy trên một năm tù thì thời

gian đ qua không được tính và thời hiệu đối

với tội cũ được tính lại kể từ ngày phạm tội

mới

Nếu trong thời hạn nói trên, người phạm

tội cố tình lẩn tránh và đ có lệnh truy n thì

thời gian trốn tránh không được tính và thời

hiệu tính lại kể từ khi người đó ra tự thú hoặc

bị bắt giữ"

Như vậy, thay vì có ba loại thời hiệu truy

cứu trách nhiệm hình sự (năm năm, mười

năm và mười lăm năm) theo như quy định của

BLHS năm 1985 thì nay theo quy định của

BLHS năm 1999 có bốn loại thời hiệu truy

cứu trách nhiệm hình sự phù hợp với bốn loại

tội phạm và thời hiệu dài nhất lên tới hai

mươi năm Trước đây, theo quy định của

BLHS năm 1985 thì việc không áp dụng thời

hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự thuộc thẩm

quyền của VKSNDTC và TANDTC và các tội

phạm có thể không được áp dụng thời hiệu

bao gồm tất cả các loại tội phạm có mức hình

phạt cao nhất quy định trong luật từ trên năm

năm tù trở lên, nay theo quy định của BLHS

năm 1999 không áp dụng thời hiệu truy cứu

trách nhiệm hình sự được coi là chế định độc

lập của luật hình sự và được quy định tại một

điều luật trong Bộ luật (Điều 24) Theo quy

định của Điều này thì chỉ các tội phạm quy

định tại Chương XI và Chương XXIV của BLHS (các tội xâm phạm an ninh quốc gia và các tội phá hoại hoà bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh) mới không áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự còn các tội phạm nằm ngoài hai chương nói trên mặc dù

là rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng cũng vẫn được áp dụng chế định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự So với quy định

về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự quy

định tại Điều 45 BLHS năm 1985 thì quy

định về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình

sự và không áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự tại Điều 23 và 24 BLHS năm

1999 vừa có nhiều điểm mới về nội dung lại vừa có sự tiến bộ về kĩ thuật lập pháp Điều này thể hiện rõ nét chính sách hình sự của

Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay

là vừa kiên quyết, triệt để, chủ động trấn áp tội phạm vừa khoan hồng, nhân đạo đối với người phạm tội có biểu hiện ăn năn hối cải, mong muốn cải tạo trở thành người tốt, người

có ích cho x# hội

Khi một người thực hiện hành vi nguy hiểm cho x# hội bị coi là tội phạm nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự không

có nghĩa là cho tới thời điểm người phạm tội

bị phát hiện hành vi của họ không được coi là tội phạm nữa Phải khẳng định rằng hành vi

đó vẫn được luật hình sự coi là tội phạm (tội phạm chưa được đại xá) nhưng vì khoảng thời gian được coi là thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đ# qua đi, trong khoảng thời gian ấy người phạm tội đ# không phạm tội mới và điều này đ# chứng minh rằng đối với tội phạm đó, người đó không cần thiết phải

đưa ra truy cứu thông qua các biện pháp cưỡng chế tố tụng như khởi tố, điều tra, truy

tố, xét xử nữa Trong tố tụng hình sự, hết thời

Trang 4

hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là một

trong những căn cứ không được khởi tố vụ án

hình sự Nếu một người bị khởi tố, điều tra,

truy tố, xét xử nhưng tới thời điểm phát hiện

thấy thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự

đ# hết thì phải đình chỉ điều tra (nếu tố tụng

hình sự đang ở giai đoạn điều tra) hoặc đình

chỉ vụ án (nếu tố tụng hình sự đang ở trong

giai đoạn truy tố hoặc xét xử) Hết thời hiệu

truy cứu trách nhiệm hình sự còn là căn cứ để

cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố

tụng có thẩm quyền không được ra quyết định

kháng nghị tái thẩm theo hướng tăng nặng

đối với người phạm tội

Hiện nay trong luật hình sự cũng như

Luật tố tụng hình sự của nước ta chưa có điều

luật nào quy định về trách nhiệm hoặc hậu

quả pháp lí của người đ# phạm tội nhưng

không bị truy cứu trách nhiệm hình sự bởi

thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đ# hết

Lẽ đương nhiên, ai cũng hiểu là trong trường

hợp này họ không phải chịu trách nhiệm hình

sự, thế nhưng vấn đề đặt ra là việc họ không

bị truy cứu trách nhiệm hình sự có giải phóng

họ khỏi các trách nhiệm khác không, thí dụ

trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp

đồng, trách nhiệm công khai xin lỗi người bị

hại hoặc trách nhiệm khôi phục lại những

quan hệ x# hội mà hành vi phạm tội của họ

trước đây đ# xâm hại? Thí dụ, một người

phạm tội giết người, hai mươi năm sau thời

hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đ# hết và

người này không bị truy cứu trách nhiệm hình

sự nữa thế nhưng vấn đề đặt ra là người này

có trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp

đồng theo quy định trong các Điều 614, 615,

616 Bộ luật dân sự? Thời hiệu khởi kiện đòi

bồi thường trong trường hợp này được quy

định ra sao? Người bị hại (đại diện người bị

hại) hoặc những người khác còn có quyền khiếu kiện người này để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình (thí dụ, đại diện của người bị hại yêu cầu thanh toán tiền thuê thám tử điều tra trong hai mươi năm; nếu vụ

án có người bị xét xử oan thì người phạm tội

có trách nhiệm gì trong việc khôi phục lại quyền và lợi ích hợp pháp của người bị oan, cơ quan và người tiến hành tố tụng có trách nhiệm, nghĩa vụ gì với người bị oan cũng như gia đình người bị hại) Tất cả những câu hỏi trên đây hiện còn chưa có lời giải đáp

Qua nghiên cứu thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự nói chung và áp dụng chế định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự nói riêng trong thời gian qua ở nước

ta, chúng tôi cho rằng luật hình sự, luật tố tụng hình sự và luật tố tụng dân sự ở nước ta cần có các quy định giải quyết các vấn đề đặt

ra trên đây liên quan tới chế định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự theo hướng một người đ# phạm tội nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự bởi thời hiệu đ# hết vẫn phải chịu các loại trách nhiệm pháp lí khác nếu có Xuất phát từ thực tiễn là những vấn đề dân sự thường được giải quyết ngay trong quá trình giải quyết vụ án hình sự và trách nhiệm hình sự là loại trách nhiệm pháp lí nặng nề nhất nên có người cho rằng khi hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, Nhà nước đ#

"giải phóng" người phạm tội khỏi trách nhiệm hình sự thì cũng có nghĩa là "giải phóng" họ khỏi các trách nhiệm pháp lí khác Chúng tôi không đồng tình với quan niệm trên đây Như tất cả mọi người đều thừa nhận, quan

hệ pháp luật hình sự là loại quan hệ rất hẹp giữa hai chủ thể: Một bên là người phạm tội

và bên kia là Nhà nước Trách nhiệm hình sự

là trách nhiệm của người phạm tội phải chịu

Trang 5

trước Nhà nước Khi hành vi phạm tội được

thực hiện, nó không chỉ làm phát sinh trách

nhiệm hình sự của người phạm tội trước Nhà

nước mà còn làm phát sinh nhiều loại trách

nhiệm của người này trước các chủ thể khác

nhau như công dân, tổ chức, tập thể Khi

thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đ# hết,

nếu Nhà nước (mà cụ thể trong trường hợp

này là pháp luật) giải phóng người phạm tội

khỏi trách nhiệm hình sự và đồng thời giải

phóng họ khỏi các trách nhiệm khác là vi

phạm tới quyền và lợi ích hợp pháp của công

dân, tổ chức - đối tượng cần được Nhà nước

và pháp luật bảo vệ Vì những lẽ trên, chúng

tôi cho rằng, việc luật hình sự có những quy

định thể hiện sự nhân đạo đối với người phạm

tội là rất cần thiết, thế nhưng về nguyên tắc,

các quy định đó không thể làm xấu đi tình

trạng của người khác, xâm phạm tới quyền và

lợi ích hợp pháp của họ Một người không bị

truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm

tội đ# thực hiện bởi lí do thời hiệu truy cứu

trách nhiệm hình sự đ# hết như trên đ# nêu

không thể được coi là người không phạm tội

bởi thực tế họ đ# phạm tội Điểm khác của

người này so với những người phạm tội khác

là ở chỗ người đó không bị toà án tuyên bản

án kết tội và vì thế theo nguyên tắc suy đoán

vô tội người này không bị coi là người có tội

ở đây, trước hết về hình thức, tồn tại

mâu thuẫn: Người phạm tội nhưng không bị

coi là người có tội Khi đ# không bị coi là

người có tội bởi không bị tuyên bằng bản án

buộc tội nên vấn đề án tích cũng không đặt ra

đối với người đó Như vậy, nếu so sánh những

trường hợp phạm tội tương tự thì người lẩn

trốn pháp luật lại luôn có lợi thế hơn người

không lẩn trốn Thí dụ, tháng bảy năm 1981

A phạm tội giết người theo khoản 1 Điều 101 BLHS năm 1985 và cùng thời gian đó B cũng phạm tội giết người tương tự Năm năm sau khi phạm tội, B ra tự thú và bị xét xử với mức

án chung thân kèm theo hình phạt bổ sung là quản chế ba năm và bồi thường thiệt hại

Do được giảm thời hạn chấp hành hình phạt, tháng bảy năm 2001 B được trả tự do Theo quy định của điểm c khoản 1 Điều 65 BLHS năm 1999 thì 13 năm sau (tức tới năm 2014) B mới có thể được xoá án tích

Trong khi đó, khi A không bị phát hiện thì theo quy định về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự trong BLHS năm1999, đến tháng 7/2001 thời hiệu đ# hết và A ung dung như người không có tội, không mang án tích

và theo các quy định hiện hành thì A có tất cả các quyền lợi như công dân bình thường Như vậy, nếu kèm theo chế định về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự không có các quy

định khác phù hợp thì trong thực tế áp dụng pháp luật sẽ nảy sinh nhiều điểm bất hợp lí, vi phạm nguyên tắc công bằng và đôi khi tạo ra

kẽ hở pháp luật cho những kẻ xấu lách luật

Điều 139 BLTTHS quy định hai căn cứ để cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra là có một trong những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự (trong đó có tình tiết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đ# hết)

và đ# hết thời hạn điều tra mà không chứng minh được bị can đ# thực hiện tội phạm ở

đây, chúng tôi không bàn tới căn cứ thứ hai bởi không liên quan tới vấn đề đang được xem xét Qua nghiên cứu, chúng tôi cho rằng luật tố tụng hình sự quy định hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là một trong những căn cứ để đình chỉ điều tra là chưa thể hiện được tính kiên quyết trong đấu tranh với

Trang 6

tội phạm Hoạt động điều tra, phát hiện tội

phạm không chỉ có mục đích và ý nghĩa về tố

tụng hình sự là giải quyết trách nhiệm hình sự

của người phạm tội mà còn có mục đích xác

định các loại trách nhiệm khác mà người

phạm tội không được "giải phóng" thậm chí

cả khi thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự

đ# hết Ngoài ra, việc cơ quan điều tra có

thẩm quyền (điều tra trong tố tụng và điều tra

ngoài tố tụng) kiên quyết khám phá tội phạm

và người phạm tội kể cả khi thời hiệu truy

cứu trách nhiệm hình sự đ# hết có ý nghĩa x#

hội rất lớn trong việc làm giảm tỉ lệ tội phạm

ẩn, tăng tỉ lệ tội phạm rõ, khẳng định nguyên tắc mọi tội phạm đều phải bị phát hiện, mọi người phạm tội đều bị xử lí

Từ sự phân tích trên đây, chúng tôi cho rằng có thể coi hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự như một căn cứ không khởi tố

vụ án hình sự, khởi tố bị can nhưng không thể coi đây là căn cứ để không tiến hành điều tra hoặc căn cứ đình chỉ điều tra như quy định trong pháp luật tố tụng hình sự hiện hành./

Góp ý cho Dự thảo Tiếp theo trang 7

Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, bộ

trưởng, chánh án Toà án nhân dân tối cao,

viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao…

Như vậy thì có thể ngăn chặn và giảm bớt sự

tham quyền, phát huy cao độ năng lực của

cán bộ trong hoạt động của Nhà nước, góp

phần nâng cao hiệu quả hoạt động và mức độ

hoàn thiện của bộ máy nhà nước

Trong tương lai, để bảo đảm cho mỗi

người có đủ thời gian, sức lực và trí tuệ để

hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình thì Hiến

pháp sửa đổi nên quy định rõ là không ai có

thể vừa là đại biểu Quốc hội, vừa là bộ trưởng

hoặc thẩm phán cùng một lúc Nếu quy định

như vậy thì Thủ tướng, các thành viên khác

của Chính phủ cũng như các thẩm phán đều

không phải làm thêm nhiệm vụ đại biểu Quốc

hội giúp họ tránh được tình trạng “quá tải” vì

công việc và trách nhiệm, vì thế, họ sẽ có đủ

điều kiện để thực hiện tốt thẩm quyền của

mình Nhờ đó có thể tránh được tình trạng

Chính phủ phải có một bộ máy đồ sộ để thực

hiện các nhiệm vụ không phải chỉ của Chính

phủ mà của cả Quốc hội bởi lẽ “trên 2/3 số thành viên của Chính phủ và người đứng đầu các cơ quan Chính phủ là đại biểu Quốc hội”.(2) Do vậy “vì phải bận quá nhiều việc của Quốc hội và Chính phủ không có đủ điều kiện nhiệm vụ” “Thay mặt Chính phủ báo cáo công tác trước Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội”, thông thường lại uỷ quyền cho thứ trưởng báo cáo công tác trước Uỷ ban thường

vụ Quốc hội”.(3) Quy định như vậy thì mới có thể thực hiện được sự phân công, phân nhiệm

rõ ràng giữa các cơ quan nhà nước, bảo đảm

sự độc lập và hiệu quả hoạt động của chúng Trên đây là một số ý kiến đóng góp với mong muốn làm cho Hiến pháp của nước ta ngày càng hoàn thiện hơn./

(2).Xem: “Một số vấn đề về hoàn thiện tổ chức và hoạt

động của bộ máy Nhà nước Cộng hoà x# hội chủ nghĩa Việt Nam”, TS Lê Minh Thông (Chủ biên) Nxb Khoa học x# hội - Hà Nội 2001, tr 302

(3).Xem: “Một số vấn đề về hoàn thiện tổ chức và hoạt

động của bộ máy Nhà nước Cộng hoà x# hội chủ nghĩa Việt Nam”, Sđd, tr.303

Ngày đăng: 31/03/2014, 09:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w