Nhóm từ "luật cơ bản của một nước" đ7 được tìm ra và được sử dụng để nói lên tính chất, vai trò và chức năng x7 hội của hiến pháp với nghĩa hiến pháp được coi là đạo luật khác thường, có
Trang 1PGS.TS Lê Minh tâm *
1 Hiến pháp được coi là đạo luật gốc của
một nước Nhìn lại lịch sử hình thành và phát
triển của hiến pháp thì từ "hiến pháp" có
nguồn gốc La-tinh (constitutio), có nghĩa là
thiết lập (xác lập), cơ cấu Trước đây, ở La
M7 đ7 có các quy định được ban hành dưới
hình thức constituo và được coi là nguồn
quan trọng nhất của pháp luật Sau này, khi
bản hiến pháp hiện đại đầu tiên ra đời (1787)
thì chữ constitution trong tiếng Anh đ7 được
dùng với hàm nghĩa rộng hơn Cùng với thời
gian, quan niệm hiến pháp là đạo luật gốc,
đạo luật nguồn đ7 trở nên chật hẹp vì chưa
nói hết được ý nghĩa và vai trò của hiến
pháp Các nhà chính trị học, triết học và luật
học bắt đầu đi tìm những cách biểu đạt mới
để nói về hiến pháp Nhóm từ "luật cơ bản
của một nước" đ7 được tìm ra và được sử
dụng để nói lên tính chất, vai trò và chức
năng x7 hội của hiến pháp với nghĩa hiến
pháp được coi là đạo luật khác thường, có giá
trị pháp lí cao hơn và có tính quyết định đối
với các đạo luật khác và đối với hệ thống
pháp luật của nhà nước nói chung Tuy
nhiên, nhóm từ mới này cũng vẫn được dùng
kết hợp với từ "luật gốc" để diễn đạt cho đủ
nghĩa Sự phát triển của x7 hội hiện đại đ7
dẫn đến nhu cầu phải mở rộng nội dung của
hiến pháp và một lần nữa xung quanh khái
niệm hiến pháp lại có những câu hỏi mới
được đặt ra như Hiến pháp có phải chỉ là đạo
luật cơ bản của một nước? Hiến pháp có những giá trị x7 hội nào và chức năng x7 hội của hiến pháp là gì? Tình hình đó đ7 đòi hỏi phải có sự nhận thức rõ hơn về khái niệm hiến pháp Trong chính trị học, luật học và một số lĩnh vực khác đ7 xuất hiện những ý kiến khác nhau Theo chúng tôi, hiến pháp cần được quan niệm là loại văn bản chính trị
- pháp lí đặc biệt Tính chính trị và tính pháp
lí là hai mặt của thể thống nhất, phản ánh tính chất của hiến pháp và quán xuyến toàn
bộ nội dung của hiến pháp Khi nói về khái niệm hiến pháp cần đề cập những vấn đề cơ bản sau đây:
- Về tính chất, hiến pháp phản ánh tập trung nhất bản chất của chế độ, trong đó có chế độ nhà nước; là văn bản duy nhất quy
định bản chất, nội dung và phương thức tổ chức quyền lực chính trị, trong đó có quyền lực nhà nước và bộ máy của quyền lực nhà nước với tư cách là chỉnh thể và hiến pháp là văn bản duy nhất quy định mối quan hệ giữa nhà nước và cá nhân với tư cách là hai chủ thể ở mức phổ quát nhất
- Về nội dung, hiến pháp có nội dung bao quát bao gồm ba loại nguyên tắc và quy định hợp thành là các nguyên tắc và quy định mang tính ghi nhận, phản ánh, tuyên bố; các nguyên tắc và quy định để điều chỉnh các
* Trường đại học luật Hà Nội
Trang 2quan hệ cơ bản và các nguyên tắc, quy định
mang tính định hướng
- Về vai trò, hiến pháp là văn bản tuyên
bố công khai thể chế chính trị x7 hội, chủ
quyền quốc gia, quyền lực nhân dân, là cơ sở
để xác lập và giải quyết mối quan hệ giữa
các lực lượng, các giai tầng x7 hội; là cơ sở
để giải quyết các vấn đề đối nội và đối ngoại
Về mặt pháp lí, hiến pháp là cơ sở để hình
thành nên hệ thống pháp luật của mỗi quốc
gia, vì vậy nó luôn giữ vai trò chủ đạo, tất cả
các văn bản pháp luật dưới hiến pháp đều
không được trái với nó
- Về chức năng, hiến pháp có ba chức
năng cơ bản là phản ánh, điều chỉnh và định
hướng Với chức năng thứ nhất, hiến pháp
phản ánh (ghi nhận) những thành quả đạt
được của đất nước trong giai đoạn lịch sử
nhất định; xác định tình hình chính trị, kinh
tế, văn hoá, x7 hội trong giai đoạn tồn tại của
hiến pháp Với chức năng thứ hai, hiến pháp
quy định những nguyên tắc và quy định về tổ
chức bộ máy nhà nước, về mối quan hệ giữa
nhà nước với các tổ chức chính trị trong hệ
thống chính trị và về mối quan hệ giữa nhà
nước với cá nhân với tư cách là hai chủ thể
chung nhất và giữa nhà nước với công dân
Với chức năng thứ ba, hiến pháp xác định
những định hướng về chính sách đối nội và
đối ngoại, về những chủ trương phát triển
kinh tế, văn hoá, x7 hội
Từ những điều nêu trên và thực tiễn đ7
cho thấy, vượt lên trên tất cả các văn bản luật
thông thường, hiến pháp có những giá trị to
lớn và thiêng liêng, vì vậy mỗi khi có sự sửa
đổi, bổ sung hiến pháp, dù chỉ là một số điều
cũng đều thu hút sự quan tâm của các cấp,
các ngành, các giới và các tầng lớp nhân dân
2 Do hiến pháp có những đặc điểm đó nên về mặt kĩ thuật pháp lí cũng có những
đặc thù riêng để bảo đảm cho hiến pháp có nội dung vừa bao quát vừa cụ thể; vừa có tính
ổn định lâu dài lại vừa có tính linh hoạt để có thể sửa đổi, bổ sung kịp thời khi cần thiết Những nguyên tắc, quy định phản ánh, ghi nhận và định hướng thường đòi hỏi phải có các hình thức biểu hiện mang tính khái quát hoá rất cao; còn đối với những nguyên tắc, quy định điều chỉnh thì lại đòi hỏi phải có tính cụ thể để có thể điều chỉnh ngay những mối quan hệ cơ bản nhất và tạo cơ sở pháp lí cho việc hình thành hệ thống văn bản pháp luật dưới hiến pháp một cách thống nhất,
đồng bộ Vì vậy, việc sửa đổi, bổ sung hiến pháp là công việc phải làm kịp thời khi có nhu cầu thực sự Nhưng việc sửa đổi cơ bản hoặc xây dựng mới hiến pháp chỉ được đặt ra vào những thời điểm có tính chất bước ngoặt, khi tình hình chính trị, kinh tế, x7 hội có những biến đổi sâu sắc và toàn diện đòi hỏi phải có sự sửa đổi, bổ sung những vấn đề mang tính bản chất, có liên quan đến cả ba loại các nguyên tắc và quy định nói trên của hiến pháp
Nhìn một cách toàn diện về nội dung của Hiến pháp năm 1992 và những yêu cầu đặt ra hiện nay, việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992 mà trọng tâm là sửa
đổi một số điều có liên quan đến bộ máy nhà nước là rất cần thiết nhưng chưa đến mức phải sửa đổi cơ bản Tuy nhiên, ở đây cũng cần quan niệm rõ hơn về sửa đổi cơ bản và sửa đổi, bổ sung một số điều của hiến pháp Theo chúng tôi, có thể chỉ sửa rất ít điều nhưng nếu những điều đó có liên quan đến những vấn đề bản chất thì cũng là sửa đổi cơ
Trang 3bản và ngược lại có thể sửa đổi nhiều điều
nhưng cũng không phải là sửa đổi cơ bản Vì
vậy, vấn đề đặt ra không phải là sửa đổi, bổ
sung bao nhiêu điều mà là sửa đổi, bổ sung
điều nào, vấn đề gì và có thực sự cần thiết
hay chưa?
3 Nhìn tổng quan, trong số những điểm
mà Uỷ ban sửa đổi, bổ sung một số điều của
Hiến pháp năm 1992 đưa ra để lấy ý kiến kì
này, trong đó có Lời nói đầu và 32 điều, có
thể rút ra mấy nhận xét sau:
- Ngoài phần bổ sung một đoạn vào Lời
nói đầu, có 7 điều dự kiến chỉ có sự sửa đổi
nhỏ về thuật ngữ: thay chữ viên chức thành
công chức (Điều 8, 9, 12), bổ sung thêm chữ
cán bộ thành cán bộ, công chức (Điều 56,
63, 96) hoặc thêm chữ công nhân thành công
nhân, cán bộ, công chức (Điều 10);
- Có 25 điều dự kiến có bổ sung sửa đổi
về nội dung có một số điều (11) đ7 đưa một
số vấn đề theo quan điểm Nghị quyết Đại hội
Đảng IX (Điều 2, 3, 12, 15, 16, 19, 21, 24,
35, 36, 37) nhưng dường như còn chưa được
"gia công" để biến thành những quy định
mang tính đặc thù của hiến pháp
- Những điều còn lại tập trung để sửa đổi,
bổ sung các quy định về bộ máy nhà nước:
đối với Quốc hội có 4 điểm (Điều 84); đối
với Uỷ ban thường vụ Quốc hội có 1 điểm
(Điều 91); đối với Chủ tịch nước có 3 điểm
(Điều 103); đối với Chính phủ có 3 điểm
(Điều 112, 114 và 116); đối với toà án nhân
dân có 2 điểm (Điều 128 và 131) và đối với
viện kiểm sát nhân dân có 3 điểm (Điều
137, 138 và 140) Cảm nhận chung, các điểm
sửa đổi này đều xuất phát từ nhu cầu thực tế
và bức xúc đang đặt ra hiện nay Tuy nhiên,
còn có nhiều vấn đề phải bàn thêm cho rõ để
góp phần xây dựng luận cứ cho việc xác định
đúng mức độ và cách thể hiện cho phù hợp
Đồng thời, cũng có một số vấn đề đ7 chín muồi đề nghị cần được xem xét thêm
4 Đi vào các điều cụ thể của Dự án sửa
đổi bổ sung một số điều của Hiến pháp năm
1992 xin được góp một số ý kiến sau:
4.1 Về Lời nói đầu: Từ năm 1986 đến nay, công cuộc đổi mới toàn diện đất nước
do Đảng khởi xướng và l7nh đạo đ7 đạt được những thành tựu rất quan trọng Những quan
điểm, đường lối được đề ra từ Đại hội lần thứ
VI là hết sức đúng đắn nhưng qua các kì Đại hội VII, VIII và nhất là Đại hội IX, những quan điểm, đường lối đó đ7 được bổ sung và phát triển nhiều Những biến đổi sâu sắc đó cần được thể hiện ở mức khái quát cao trong Lời nói đầu Vì vậy, đề nghị sửa đoạn "Từ năm 1986 đến nay nhiệm vụ mới" cho phù hợp với tình hình hiện nay
Nghị quyết Đại hội IX của Đảng khẳng
định nhiều vấn đề lớn, trong đó có ba quan
điểm rất quan trọng cần được thể chế hoá trong hiến pháp, đó là: Quan điểm đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa công nhân với nông dân và trí thức; xây dựng Nhà nước pháp quyền x7 hội chủ nghĩa dưới sự l7nh đạo của Đảng và xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng x7 hội chủ nghĩa Vì vậy, đề nghị trong Lời nói đầu, bên cạnh việc thể hiện quan điểm đại đoàn kết toàn dân theo tinh thần Nghị quyết IX của Đảng (nhưng cần viết gọn hơn) thì cũng cần thể hiện quan điểm về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN dưới sự l7nh đạo của Đảng và xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN vì đây không chỉ là cách nói mới mà
là sự tổng kết, khẳng định và có tính định
Trang 4hướng cho việc xây dựng và hoàn thiện Nhà
nước và xây dựng nền kinh tế trong quá trình
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Đưa
những vấn đề này vào Lời nói đầu thể hiện
một cách ngắn gọn và khái quát nhất sẽ là
phương án phù hợp nhất để thể chế Nghị
quyết Đại hội IX của Đảng mà không làm
thay đổi những điều đ7 được xây dựng khá
hoàn chỉnh của Hiến pháp năm 1992 (Điều
2, 12 và 15)
4.2 Về Chương I - Nước Cộng hoà x
hội chủ nghĩa Việt Nam - Chế độ chính trị
4.2.1 Điều 2 Hiến pháp năm 1992 xác
định bản chất của Nhà nước ta và vấn đề này
đ7 được thể hiện một cách hoàn chỉnh cả về
nội dung và hình thức biểu đạt Vì vậy, nếu
bổ sung cụm từ "pháp quyền x hội chủ
nghĩa" như phương án 2 thì có một số điểm
cần phải xem xét thêm Đó là: Thứ nhất, cụm
từ này không làm rõ hơn bản chất của Nhà
nước ta nhưng lại đòi hỏi phải có sự giải
thích để hiểu cho rõ thế nào là nhà nước pháp
quyền x7 hội chủ nghĩa Thứ hai, nhà nước
pháp quyền xét về nguồn gốc và thực tại là
vấn đề mang tính khách quan và phổ biến, vì
nhà nước và pháp luật bao giờ cũng có mối
quan hệ mật thiết với nhau Nhìn chung các
nhà nước hiện đại, ở mức độ này hay mức độ
khác đều có tính pháp quyền; chỉ có vấn đề
là tính pháp quyền được thực thi nhiều hay ít,
mức độ tôn trọng pháp quyền cao hay thấp
mà thôi Vì lí do này mà hầu như trong hiến
pháp của các nước không có các điều khoản
quy định về nhà nước pháp quyền mà chỉ
thông qua các nguyên tắc và quy định cụ thể
của hiến pháp để thể hiện tinh thần pháp
quyền, để thực thi và bảo vệ pháp quyền Thứ
ba, lí thuyết nhà nước pháp quyền khá trừu
tượng và vấn đề đặt ra là tiếp thu các giá trị nào của lí thuyết này để vận dụng, hình thành được cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc xây dựng mô hình, cơ chế tổ chức và hoạt động của nhà nước pháp quyền XHCN cho phù hợp với điều kiện của nước ta - điều
mà chúng ta còn đang đặt ra để nghiên cứu trong chương trình khoa học cấp nhà nước, chưa có kết luận Tuy nhiên, đây là lần đầu tiên quan điểm về xây dựng nhà nước pháp quyền x7 hội chủ nghĩa được ghi nhận chính thức trong văn kiện Đại hội IX của Đảng, có
ý nghĩa rất quan trọng đối với việc định hướng cho tổ chức và hoạt động của Nhà nước trong thời gian tới và cần phải được thể hiện trong Hiến pháp Nhưng phương án phù hợp nhất là thể hiện trong Lời nói đầu của Hiến pháp như đ7 trình bày ở trên
Đồng thời, để phù hợp với tinh thần Nghị quyết Đại hội IX của Đảng trong Điều 2 nên sửa câu thứ 2 thành "Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa công nhân với nông dân và trí thức"
4.2.2 Điều 12 xác lập nguyên tắc pháp chế và yêu cầu cần thiết để thực hiện nguyên tắc này Cách thể hiện cũng rất hay và nhất là
Điều này đ7 được đông đảo các tầng lớp nhân dân đón nhận với tình cảm và ý thức tốt Việc đưa thêm ý "Xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là trách nhiệm của mọi cơ quan, tổ chức và công dân" vào
Điều 12 sẽ phá vỡ tính hoàn thiện của Điều này, làm cho nó trở nên vừa thiếu lại vừa thừa Thiếu, vì nội dung của các đoạn 2 và 3 của Điều này không đủ để phản ánh nội dung
và yêu cầu của câu được bổ sung Thừa, vì câu này dường như bị tách ra khỏi nội dung
Trang 5đ7 khá hoàn chỉnh của Điều 12 Hiến pháp
năm 1992 Vì vậy, cũng không nên đưa câu
bổ sung này vào Điều 12 Việc đưa vào Lời
nói đầu một câu về nhà nước pháp quyền
XHCN như trình bày ở 4.2.1 đ7 có ý nghĩa
định hướng, bổ sung gián tiếp cho nội dung
của Điều 12
4.3 Về Chương II - Chế độ kinh tế
4.3.1 Nhóm từ "nền kinh tế thị trường
định hướng x hội chủ nghĩa" không nên bổ
sung vào Điều 15 mà nên thể hiện ở Lời nói
đầu thành một câu để thể hiện sự định hướng
phát triển cho nền kinh tế là hợp lí nhất Trên
thực tế, các nước có nền kinh tế thị trường
phát triển đều không ghi nội dung này trong
các điều khoản cụ thể của hiến pháp Tiếp
theo, cũng nên bỏ cụm từ "đan xen, hỗn hợp"
ra khỏi Điều 15 vì đó là điều tất yếu sẽ diễn
ra trong nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành
phần Đồng thời, để phù hợp với Điều 16 nói
về mục đích chính sách kinh tế thì Điều 15
nên viết lại cho gọn là "Chính sách kinh tế
của Nhà nước là phát triển nền kinh tế hàng
hoá nhiều thành phần với các hình thức tổ
chức sản xuất, kinh doanh đa dạng dựa trên
chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở
hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn dân và sở
hữu tập thể là nền tảng"
4.3.2 Đề nghị bỏ các chữ "của Nhà
nước" tại dòng thứ nhất, "trên cơ sở" tại
dòng thứ hai, bỏ đoạn liệt kê các thành phần
kinh tế tại đoạn 1 và bỏ hẳn đoạn ba Điều 16,
vì: Thứ nhất, Điều 16 tiếp ngay sau Điều 15
nói về chính sách kinh tế của Nhà nước nên
không cần nhắc lại các từ "của nhà nước" mà
vẫn rõ nghĩa Thứ hai, giải phóng mọi năng
lực sản xuất, phát huy mọi tiềm năng của các
thành phần kinh tế cũng là mục đích của
chính sách kinh tế Thứ ba, Nghị quyết Đại hội IX của Đảng có kết luận về 6 thành phần kinh tế, điều đó có ý nghĩa rất quan trọng Nhưng điều đó không cần thiết phải thể hiện trong Hiến pháp vì rất có thể trong thực tiễn
sẽ xuất hiện những thành phần khác nữa Tương tự như vậy, các loại thị trường được liệt kê trong đoạn ba cũng có thể là chưa đầy
đủ và trong tương lai có thể xuất hiện những loại thị trường mới
Vì vậy, đề nghị nên viết gọn Điều 16 lại như sau: "Mục đích của chính sách kinh tế là làm cho dân giàu, nước mạnh, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân, giải phóng mọi năng lực sản xuất, phát huy mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế, bảo đảm cho các thành phần kinh tế cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh"
4.3.3 Tại Điều 19, việc thay nhóm từ
"kinh tế quốc doanh" bằng "kinh tế nhà nước" là hợp lí nhưng đoạn "là lực lượng vật chất quan trọng và là công cụ để Nhà nước
định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế, cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân" thì không cần phải ghi, vì mệnh đề thứ nhất đ7 nói rõ nội dung của chính sách đối với kinh tế nhà nước và vai trò của nó; còn mệnh đề thứ hai này được dùng để giải thích
rõ hơn về ý nghĩa của kinh tế nhà nước thì không cần thiết, còn nếu để thông qua đó để nói tới vị trí và vai trò của kinh tế tập thể thì lại chưa đầy đủ Vì vậy, cùng với việc bỏ mệnh đề thứ hai của đoạn 1 thì cũng cần bổ sung một đoạn để ghi nhận vị trí, vai trò của kinh tế tập thể nhằm bảo đảm vị trí tương xứng của kinh tế tập thể trong cơ cấu kinh tế
Trang 6nhiều thành phần Điều này còn có ý nghĩa
bảo đảm tính đồng bộ nếu xét đến mối quan
hệ quy định tại Điều 21
4.3.4 Tại Điều 24, việc bổ sung đoạn
"chủ động hội nhập kinh tế quốc tế" là rất
cần thiết và chỉ cần bổ sung ý này thì Điều
24 đ7 thể hiện được chính sách kinh tế đối
ngoại một cách toàn diện, cô đọng và súc
tích
4.4 Về Chương III - Văn hoá, giáo dục,
khoa học, công nghệ
4.4.1 Nhất trí bổ sung nhóm từ "là sự
nghiệp của Nhà nước và của toàn dân" ở
đoạn 1 Điều 35 nhưng đoạn 2 đề nghị sửa là:
"Phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí,
đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài" để nói
rõ chính sách phát triển giáo dục và phù hợp
với chủ trương đẩy mạnh x7 hội hoá giáo dục
hiện nay
4.4.2 Với Điều 36, đề nghị viết gọn đoạn
bổ sung: "bảo đảm duy trì, củng cố kết quả
xoá mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học,
thực hiện phổ cập giáo dục trung học cơ sở,
tiến tới phổ cập giáo dục trung học phổ
thông, trung học chuyên nghiệp gắn với yêu
cầu phát triển kinh tế-x hội của đất nước và
từng địa phương" thành "bảo đảm xoá mù
chữ và phổ cập tiểu học, tiến tới phổ cập
trung học cơ sở trên phạm vi toàn quốc" để
bảo đảm tính chặt chẽ và khả thi trong giai
đoạn hiện nay
4.4.3 Đề nghị giữ lại đoạn hai Điều 59
"Bậc tiểu học là bắt buộc, không phải trả
học phí" vì điều này có ý nghĩa chính trị - x7
hội rất lớn, bỏ đoạn này sẽ có ảnh hưởng
không thuận tới tâm lí x7 hội của đông đảo
các tầng lớp nhân dân
4.5 Về Chương VI - Quốc hội 4.5.1 Khoản 4 Điều 84 sửa như vậy là hợp lí Khoản 5, nên viết gọn lại là: "Quyết
định chính sách dân tộc và tôn giáo của Nhà nước" Khoản 7 bổ sung quy định về bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn theo quy định của pháp luật là hợp lí Tuy nhiên đây là vấn đề rất tế nhị, vì vậy đề nghị nên có quy định bổ sung để làm rõ nội dung
và quy trình thực hiện quy định này Đối với quy định bổ sung khoản 13 Điều 84 - về phê chuẩn điều ước quốc tế do Chủ tịch nước trực tiếp kí kết với người đứng đầu nhà nước khác cũng là hợp lí, vì các điều ước quốc tế liên quan đến quyền, lợi ích của đất nước và chủ quyền quốc gia
4.5.2 Việc sửa đổi khoản 8 Điều 91 và quy định bổ sung vào đoạn cuối của Điều 92
là hợp lí
4.6 Về Chương VII - Chủ tịch nước Nhất trí với việc sửa đổi, bổ sung quy
định tại khoản 6 và khoản 9 Điều 103 như
Dự án của Uỷ ban sửa đổi, bổ sung một số
điều của Hiến pháp năm 1992 đ7 đưa ra, vì những sửa đổi, bổ sung này phù hợp với yêu cầu, vị trí và vai trò của Chủ tịch nước trong tình hình hiện nay
4.7 Về Chương VIII - Chính phủ 4.7.1 Việc bổ sung vào khoản 8 Điều
112 thẩm quyền của Chính phủ: "Đàm phán,
kí kết điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước Cộng hoà x hội chủ nghĩa Việt Nam, trừ trường hợp quy định tại khoản 10 Điều 103;
đàm phán, " là phù hợp Thực tế cho thấy,
có nhiều trường hợp các điều ước quốc tế phải được kí kết hoặc nhân danh nhà nước nhưng người kí kết của bên đối tác không
Trang 7phải là người đứng đầu nhà nước Vì vậy,
nếu chỉ quy định cho Chủ tịch nước quyền kí
kết hoặc tham gia tất cả các điều ước quốc tế
nhân danh Nhà nước thì không bảo đảm
được tính linh hoạt trong việc xử lí các
trường hợp đó
4.7.2 Việc bỏ quy định về thẩm quyền
ban hành văn bản quy phạm pháp luật của
thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ tại Điều
116 là một trong những điểm có tính cải
cách quan trọng, tạo điều kiện cho việc tổ
chức lại cơ cấu tổ chức của Chính phủ theo
hướng tinh giản: Chính phủ chỉ bao gồm các
cơ quan quản lí nhà nước theo ngành (lĩnh
vực) hoặc đa ngành, thực hiện đúng chức
năng quản lí nhà nước của mình
4.8 Về Chương IX - Hội đồng nhân dân
và uỷ ban nhân dân
Việc bổ sung vào Điều 123 nội dung:
"Uỷ ban nhân dân gồm chủ tịch, các phó chủ
tịch và các uỷ viên Chủ tịch uỷ ban nhân
dân là đại biểu hội đồng nhân dân Trong
trường hợp cần thiết, Thủ tướng Chính phủ
có thể điều động, bổ nhiệm chủ tịch uỷ ban
nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương, chủ tịch uỷ ban nhân dân cấp trên có
thể điều động, bổ nhiệm chủ tịch uỷ ban
nhân dân cấp dưới trực tiếp; trong trường
hợp bổ nhiệm, chủ tịch uỷ ban nhân dân
không nhất thiết là đại biểu hội đồng nhân
dân" là phù hợp, tạo ra cơ chế linh hoạt và
bảo đảm tính hiệu quả trong việc thực hiện
chức năng quản lí điều hành của hệ thống
hành chính nhà nước Tuy nhiên, cũng cần
có sự cụ thể hoá quy định này trong các văn
bản dưới Hiến pháp để bảo đảm cơ chế kiểm
tra, giám sát của hội đồng nhân dân đối với
uỷ ban nhân dân nói chung và chủ tịch
UBND nói riêng
4 9 Về Chương X - Toà án nhân dân và viện kiểm sát nhân dân
4.9.1 Việc bổ sung một đoạn vào Điều
128 về nhiệm kì của chánh án Toà án nhân dân tối cao là đúng, tạo cơ sở pháp lí cho việc bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của chánh án Toà án nhân dân tối cao trong giai đoạn chuyển tiếp
4.9.2 Việc đề nghị bổ sung đoạn: "trừ trường hợp luật định việc xét xử do một thẩm phán thực hiện" vào cuối Điều 131 chưa phù hợp với tình hình hiện nay
4.9.3 Việc sửa đổi, bổ sung Điều 137 có
ý nghĩa quan trọng, tạo cơ sở cho việc tiếp tục cải cách hệ thống cơ quan kiểm sát nói riêng và bộ máy nhà nước nói chung Tuy nhiên, cần làm rõ nội dung "kiểm sát các hoạt động tư pháp" là bao gồm những hoạt
động nào? đề nghị ghi rõ những nội dung này là "kiểm sát hoạt động điều tra, xét xử và thi hành án" Đồng thời, cần có quy định bổ sung về việc trao thẩm quyền kiểm sát chung cho cơ quan thuộc Quốc hội vì không thể để trống mảng quyền này trong hệ thống quyền lực nhà nước
5 Ngoài những điểm nói trên, đề nghị cần xem xét thêm một số vấn đề đ7 chín muồi để sửa đổi, bổ sung vào Hiến pháp như quy định Nhà nước là người đại diện của sở hữu toàn dân (cần được bổ sung vào Điều 17); nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất đ7 được khẳng định rõ trong Nghị quyết TƯ 8 Khoá VII (cần được bổ sung vào Điều 6); nguyên tắc doanh nghiệp được tự do kinh doanh những ngành nghề mà pháp luật không cấm /