Trần Huy Liệu * hủ tục rút gọn hay còn gọi là thủ tục rút ngắn là dạng thủ tục tố tụng được các cơ quan tư pháp có thẩm quyền áp dụng, trong đó một số thủ tục, một số khâu trung gian hoặ
Trang 1
Trần Huy Liệu *
hủ tục rút gọn hay còn gọi là thủ tục rút
ngắn là dạng thủ tục tố tụng được các cơ
quan tư pháp có thẩm quyền áp dụng, trong
đó một số thủ tục, một số khâu trung gian
hoặc giai đoạn tố tụng được giản lược, đơn
giản hoá nhằm giúp cho việc điều tra, truy
tố, xét xử nhanh chóng, kịp thời một số loại
án nhất định, phát huy tác dụng giáo dục,
phòng ngừa tội phạm đồng thời tiết kiệm
được thời gian, công sức và các chi phí vật
chất khác nhưng vẫn bảo đảm được việc xử lí
đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và bảo
vệ kịp thời các quyền và lợi ích hợp pháp của
Nhà nước và công dân
Việc đơn giản hoá các thủ tục tố tụng,
nâng cao chất lượng hoạt động điều tra, truy
tố và xét xử các vụ án hình sự, bảo vệ kịp
thời các quyền và lợi ích hợp pháp của công
dân, nâng cao trình độ chuyên môn và kĩ
năng nghề nghiệp cho đội ngũ cán bộ tư
pháp là một trong những nội dung, yêu cầu
cơ bản của công cuộc cải cách tư pháp ở
nước ta
Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc
lần thứ VIII của Đảng, trong chủ trương đổi
mới tổ chức và hoạt động tư pháp đN đề ra
nhiệm vụ "Phân định lại thẩm quyền xét xử
của toà án nhân dân, từng bước mở rộng
thẩm quyền xét xử sơ thẩm cho toà án nhân
dân huyện".(1)
Chủ trương này được cụ thể hoá trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII): "Thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử
Bỏ thủ tục xét xử sơ chung thẩm của Toà án nhân dân tối cao và Toà án quân sự trung
ương Nghiên cứu thủ tục rút gọn để xét xử kịp thời một số vụ án đơn giản, rõ ràng; Toà
án nhân dân tối cao tập trung vào công tác tổng kết xét xử, hướng dẫn các toà án áp dụng pháp luật thống nhất và làm tốt chức năng giám đốc xét xử Đổi mới thủ tục giám
đốc thẩm để bảo đảm việc xét xử vừa đúng
đắn vừa nhanh chóng".(2)
Thủ tục tố tụng rút gọn không phải là vấn
đề mới mẻ của khoa học tố tụng hình sự Nó
được quy định trong pháp luật và áp dụng ở nhiều nước trên thế giới rất đa dạng và tuỳ thuộc vào điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của từng giai đoạn phát triển của mỗi quốc gia Trong Bộ luật tố tụng hình sự của Trung Quốc có những quy định cho phép xét xử một số án tư tố hoặc có tình tiết nhẹ, tội trạng rõ ràng theo thủ tục rút gọn với một thẩm phán ở Pháp, thủ tục rút ngắn được áp dụng đối với một số loại tội phạm vi cảnh
T
* Bộ tư pháp
Trang 2hoặc một số việc tiểu hình phạm pháp quả
tang và được quy định trong luật tố tụng dân
sự.(3) Pháp luật tố tụng hình sự của Nhật Bản
cho phép xét xử theo thủ tục rút gọn đối với
các vụ án mà bị cáo thừa nhận tội, nếu các
tội đó chỉ bị xử phạt từ một năm tù trở xuống
hoặc hình phạt khác nhẹ hơn
ở nước ta, thủ tục rút gọn đN được quy
định trong pháp luật tố tụng và được áp dụng
trước khi ban hành Bộ luật hình sự và Bộ luật
tố tụng hình sự năm 1988 Văn bản pháp luật
đầu tiên quy định về thủ tục rút gọn trong tố
tụng hình sự ở nước ta là Sắc lệnh số 51/SL
ngày 17/4/1946 của Chính phủ lâm thời nước
Việt Nam dân chủ Cộng hoà Điều 23 Sắc
lệnh số 51/SL quy định: "Nếu là một việc
tiểu hình mà lại là một việc phạm pháp quả
tang, ông Biện lí phải hỏi cung ngay bị can
và có thể hạ trát tống giam rồi đưa bị can ra
xét xử tại một phiên toà tiểu hình gần nhất"
Để trừng trị kịp thời và nghiêm minh bọn
tội phạm, khắc phục tình trạng kéo dài và ứ
đọng các vụ án hình sự trong hoạt động điều
tra, truy tố và xét xử, ngày 28/4/1974 Phủ
Thủ tướng đN ban hành Thông tư số 139/TTg
hướng dẫn về thủ tục điều tra, truy tố và xét
xử các vụ pham pháp quả tang, trong đó quy
định: "Đối với những vụ phạm pháp quả tang
không thuộc loại trọng án, có đủ chứng cứ,
bị can phạm tội thì cơ quan công an lập biên
bản đưa sang viện kiểm sát nhân dân để
quyết định chuyển thẳng sang toà án nhân
dân để xét xử" Ngày 08/7/1974, TAND tối
cao ra Thông tư số 10/TATC quy định về thủ
tục rút ngắn trong việc điều tra, truy tố và xét
xử một số vụ án hình sự ít nghiêm trọng,
phạm pháp quả tang, đơn giản, rõ ràng Theo thủ tục này, với các vụ án nói trên có mức hình phạt từ 2 năm tù trở xuống thì viện kiểm sát có thể ra quyết định đưa ngay sang toà án
để xét xử mà không cần lập cáo trạng và toà
án cũng không phải tống đạt cáo trạng trước khi xét xử
Để áp dụng thống nhất, đồng bộ thủ tục rút ngắn, Bộ công an ra Chỉ thị số 54/CP ngày 17/8/1974 về áp dụng thủ tục rút ngắn trong việc điều tra các vụ án hình sự ít nghiêm trọng và ngày 28/02/1975 Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành Thông tư số 01/TT về áp dụng thủ tục rút ngắn Các văn bản nói trên quy định thủ tục rút ngắn được
áp dụng đối với loại tội ít nghiêm trọng với tính chất là phạm tội quả tang, đơn giản, rõ ràng, với điều kiện bị cáo có căn cước, lí lịch
rõ ràng và có khung hình phạt từ 2 năm tù trở xuống
Như vậy, thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự không phải là mới mẻ ở nước ta và
được áp dụng trước khi có Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 Bộ luật tố tụng hình sự và pháp luật tố tụng kinh tế, dân sự, lao động và hành chính hiện hành không quy định thủ tục này
Vấn đề đặt ra là xác định rõ nội dung của thủ tục rút gọn hay nói cách khác là thủ tục rút gọn cần được áp dụng ở những khâu nào?
ở công đoạn nào của quá trình tố tụng cần
đơn giản hoá và những điều kiện nào được áp dụng thủ tục rút gọn, bảo đảm cho hoạt động
điều tra, truy tố, xét xử nhanh chóng, kịp thời nhưng vẫn bảo đảm xét xử khách quan, công bằng, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, trên cơ sở đó để quy định bổ sung hoàn
Trang 3thiện pháp luật
Thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự, tố
tụng dân sự là vấn đề có nội dung phức tạp
và liên quan đến nhiều nội dung khác của tố
tụng hình sự Nhìn dưới nhiều góc độ khác
nhau, đa số các nhà lập pháp, tư pháp đều
thấy sự cần thiết khôi phục lại chế định thủ
tục rút ngắn trong tố tụng hình sự nhưng có
những ý kiến khác nhau về điều kiện (phạm
vi) áp dụng thủ tục rút gọn; những khâu nào
trong tố tụng được rút ngắn hoặc đơn giản
hoá ở đây, chúng tôi đồng tình với một số ý
kiến phổ biến, được thừa nhận chung là cần
kế thừa những quy định về thủ tục rút ngắn
trước đây nhưng có sửa đổi, bổ sung cho phù
hợp với điều kiện hiện nay để làm cơ sở xây
dựng chế định thủ tục rút ngắn trong tố tụng
hình sự Theo chúng tôi thủ tục rút gọn cần
được quy định các vấn đề sau đây:
1 Điều kiện (phạm vi) áp dụng thủ tục
rút gọn
Nói chung, thủ tục rút gọn chỉ được áp
dụng đối với một số loại án hình sự, dân sự
nhất định, nhằm giải quyết nhanh chóng, kịp
thời nhưng vẫn phải bảo đảm việc xử lí đúng
đắn chính xác Chúng tôi cho rằng để tránh
sự tuỳ tiện trong việc thực hiện thủ tục rút
gọn, chế định về thủ tục rút gọn cần quy định
các vụ án thoả mNn các điều kiện sau đây thì
được áp dụng thủ tục rút gọn
- Đối với các vụ án hình sự
+ Tội phạm thuộc loại ít nghiêm trọng có
khung hình phạt được quy định trong Bộ luật
hình sự từ 3 năm tù trở xuống hoặc các hình
phạt khác nhẹ hơn;
+ Phạm pháp quả tang, chứng cứ đầy đủ,
rõ ràng; nội dung phạm tội đơn giản, không
cần nhiều thời gian điều tra, xác minh; + Bị can, bị cáo không có tiền án, tiền sự,
có lí lịch, căn cước, nơi cư trú rõ ràng; có gia
đình hoặc người thân bảo lNnh
- Đối với các vụ án dân sự Điều kiện để áp dụng thủ tục rút gọn là: + Những vụ án đơn giản, chứng cứ pháp
lí đầy đủ và rõ ràng;
+ Bị đơn không phủ nhận các yêu cầu của nguyên đơn;
+ Nguyên đơn và bị đơn thừa nhận quyền
và nghĩa vụ của nhau;
+ Tranh chấp dân sự có giá ngạch thấp dưới 500.000 đồng
Các điều kiện trên đây là thể thống nhất, nghĩa là vụ án chỉ được áp dụng thủ tục rút ngắn khi có đủ các điều kiện nói trên Thiếu một trong các điều kiện nói trên thì sẽ không
được áp dụng thủ tục rút ngắn mà phải được giải quyết theo thủ tục thông thường
Có ý kiến cho rằng cần bổ sung điều kiện
bị can, bị cáo, các đương sự không phản đối việc áp dụng thủ tục rút gọn Trong trường hợp bị can, bị cáo, các đương sự không nhất trí áp dụng thủ tục rút gọn để xử lí vụ án thì các cơ quan tiến hành tố tụng phải tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục thông thường Tuy nhiên, theo chúng tôi không nên đặt vấn
đề bị cáo có quyền chọn thủ tục này hay thủ tục kia để xét xử hành vi phạm tội của mình, vì mục đích của việc đặt ra thủ tục rút gọn là
để giải quyết nhanh chóng vụ án, khắc phục tình trạng án tồn đọng mà vẫn bảo đảm xét
xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Cho nên, những vụ án nào có đủ điều kiện theo luật định thì tiến hành theo thủ tục rút gọn, không cần quan tâm đến việc bị cáo có
Trang 4đồng ý việc áp dụng thủ tục đó hay không
Nếu bị cáo thấy việc xét xử chưa đúng thì
vẫn có quyền kháng cáo theo thủ tục chung
2 Quá trình điều tra, truy tố, xét xử
được rút ngắn và đơn giản hoá thủ tục
Như trên đN đề cập, thủ tục rút gọn là sự
đơn giản hoá, giản lược bớt những thủ tục,
công đoạn trung gian không cần thiết trong
quá trình giải quyết vụ án Với mục tiêu xử lí
nhanh chóng, kịp thời các vụ án thuộc thủ
tục rút gọn, chúng tôi cho rằng cần đơn giản
hoá và rút ngắn ở tất cả các giai đoạn và ở
từng khâu của quá trình điều tra, truy tố, xét
xử: Rút ngắn thời gian điều tra, truy tố, xét
xử so với các vụ án thông thường
Để rút ngắn thời hạn điều tra, truy tố và
xét xử cần có quy định đơn giản hoá các thủ
tục như:
- Khi kết thúc công tác điều tra, cơ quan
điều tra không cần làm kết luận điều tra mà
chỉ cần có biên bản phạm tội quả tang, bị can
đN nhận tội, kèm theo lời khai của người bị
hại, người làm chứng và tang vật của vụ án là
có thể chuyển hồ sơ vụ án sang viện kiểm sát
để truy tố ra toà án;
- Sau khi nhận được hồ sơ vụ án và đề
nghị truy tố bị can do cơ quan điều tra
chuyển sang, viện kiểm sát nghiên cứu hồ sơ
vụ án, nếu thấy có đủ căn cứ để truy tố thì
làm quyết định truy tố trước toà án Do tính
chất vụ việc đơn giản, chứng cứ rõ ràng, viện
kiểm sát không cần phải lập cáo trạng mà chỉ
ra quyết định chuyển vụ án và quyết định
truy tố đưa ra toà án để xét xử Việc tống đạt
quyết định truy tố gửi kèm theo quyết định
đưa vụ án ra xét xử trước khi mở phiên toà
nên quy định thời hạn là 5 ngày Theo thủ
tục rút ngắn không nên quy định sự tham gia bắt buộc của viện kiểm sát ở tất cả các vụ án
mà tuỳ thuộc vào tính chất của từng vụ án cụ thể mà viện kiểm sát quyết định có tham gia phiên toà hay không Trường hợp không tham gia phiên toà thì viện kiểm sát phải gửi cho toà án bản kết luận về vụ án trước khi
mở phiên toà
Theo Bộ luật tố tụng hình sự hiện nay, thời hạn để điều tra, truy tố và xét xử một vụ
án ít nghiêm trọng theo thủ tục thông thường
là 7 tháng (không kể gia hạn) Để đạt được mục đích của thủ tục rút ngắn, chúng tôi cho rằng nên quy định thời hạn giải quyết vụ án (từ khi điều tra đến khi xét xử sơ thẩm) theo thủ tục rút ngắn không quá 30 ngày, trong đó
điều tra là 7 ngày, thời hạn truy tố là 7 ngày
và thời hạn xét xử sơ thẩm 16 ngày Thời hạn
để kháng cáo và viện kiểm sát cùng cấp kháng nghị bản án sơ thẩm nên quy định là 5 ngày và viện kiểm sát cấp trên kháng nghị là
7 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm Về thời hạn xét xử phúc thẩm cần quy định 7 ngày
kể từ ngày toà phúc thẩm thụ lí hồ sơ
3 Hội đồng xét xử theo thủ tục rút gọn
được đơn giản hoá
Hội đồng xét xử theo thủ tục rút gọn ở phiên toà sơ thẩm cần được đơn giản hoá, nghĩa là chỉ cần một thẩm phán tham gia xét
xử mà không cần sự tham gia của hội thẩm nhân dân như xét xử đối với vụ án theo thủ tục thông thường Quy định này hoàn toàn phù hợp với chế định thủ tục rút gọn được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới đN được chứng minh và kiểm nghiệm, phù hợp với bản chất của thủ tục rút gọn
Tuy nhiên, quy định này đặt ra là trái với
Trang 5một số nguyên tắc hiến định hiện nay, đó là
nguyên tắc: "Toà án xét xử tập thể và quyết
định theo đa số" (Điều 131 Hiến pháp 1992)
và "Việc xét xử của toà án nhân dân có hội
thẩm nhân dân và của toà án quân sự có hội
thẩm quân nhân tham gia theo quy định của
pháp luật" (Điều 129 Hiến pháp 1992) Theo
pháp luật tố tụng hiện hành, hội đồng xét xử
sơ thẩm các vụ án hình sự, dân sự có 01 thẩm
phán và 02 hội thẩm nhân dân Hội đồng xét
xử sơ thẩm các vụ án kinh tế, lao động có 02
thẩm phán, 01 hội thẩm nhân dân Để có thể
áp dụng thủ tục rút ngắn theo hướng đổi mới
nói trên cần có sự nghiên cứu sửa đổi Hiến
pháp và hệ thống pháp luật tố tụng điều
chỉnh hoạt động điều tra, truy tố, xét xử của
các cơ quan tư pháp, trong đó đặc biệt cần
sửa đổi các văn bản pháp luật có hiệu lực
pháp lí cao như Hiến pháp, Bộ luật tố tụng
hình sự, Luật tổ chức toà án, Luật tổ chức
viện kiểm sát và Pháp lệnh điều tra hình sự
Vừa qua, tại kì họp thứ 9, trên cơ sở Tờ
trình số 310/UBTVQH10 ngày 18/5/2001
của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Quốc hội đN
thảo luận và cho ý kiến về những vấn đề cần
nghiên cứu sửa đổi, bổ sung một số điều của
Hiến pháp năm 1992 Về nguyên tắc xét xử
tập thể của toà án nhân dân, bên cạnh việc
tiếp tục khẳng định nguyên tắc xét xử tập thể
được quy định trong Hiến pháp 1992, các đại
biểu đề nghị bổ sung quy định làm căn cứ để
cụ thể hoá trong luật việc xét xử theo thủ tục
rút gọn Cụ thể, Uỷ ban dự thảo sửa đổi, bổ
sung một số điều của Hiến pháp năm 1992
đN đề nghị sửa đổi, bổ sung Điều 131 như
sau:
"Toà án nhân dân xét xử công khai, trừ
trường hợp do luật định
Toà án nhân dân xét xử tập thể và quyết
định theo đa số, trừ trường hợp luật định việc xét xử do một thẩm phán thực hiện".(4)
Chúng tôi hoàn toàn nhất trí với đề nghị sửa đổi Điều 131 Hiến pháp 1992 của Uỷ ban dự thảo sửa đổi, bổ sung một số điều Hiến pháp năm 1992 theo hướng tạo cơ sở pháp lí cho việc áp dụng thủ tục xét xử rút gọn Nhưng để tạo cơ sở pháp lí cho việc áp dụng thủ tục xét xử rút gọn một cách đồng
bộ và thống nhất, theo chúng tôi, cần phải sửa đổi, bổ sung cả Điều 129 và Điều 131 Hiến pháp 1992, cụ thể như sau:
- Điều 129: Việc xét xử của toà án nhân dân có hội thẩm nhân dân và của toà án quân
sự có hội thẩm quân nhân tham gia, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn theo quy định của pháp luật
- Điều 131: Toà án nhân dân xét xử tập thể và quyết định theo đa số, trừ trường hợp luật định xét xử theo thủ tục rút gọn do một thẩm phán thực hiện
Đây là vấn đề phức tạp nhưng việc sửa
đổi Hiến pháp phù hợp với thực tiễn khách quan, để làm cơ sở pháp lí cho việc đổi mới
tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan tư pháp, mang lại lợi ích chung cho đất nước, theo chúng tôi là việc nên làm
và có thể thực hiện được./
(1).Xem: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, H 1996, tr 132 (2).Xem: Văn kiện Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII, H 1997, tr 57 (3) Nhà pháp luật Việt Pháp, Bộ luật tố tụng dân sự của Cộng hòa Pháp, Nxb Chính trị Quốc gia, H
1998
(4) Xem: Báo Nhân dân số 16832, ngày 16/8/2001,
tr 6