1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo "Khắc phục tình trạng oan, sai trong tố tụng hình sự " docx

7 1,3K 18
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 93,17 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1 Trong tố tụng hình sự một người được coi là bị oan khi bản thân họ là người vô tội nhưng các cơ quan tiến hành tố tụng, bằng các quyết định tố tụng đặc trưng của mình quyết định khởi t

Trang 1

ThS Bùi Kiên Điện *

1 Theo Từ điển tiếng Việt từ “oan” có

nghĩa là: “bị quy cho tội mà bản thân không

phạm, phải chịu sự trừng phạt mà bản thân

không đáng phải chịu”. (1) Trong tố tụng hình

sự một người được coi là bị oan khi bản thân

họ là người vô tội nhưng các cơ quan tiến

hành tố tụng, bằng các quyết định tố tụng

đặc trưng của mình (quyết định khởi tố vụ án

hình sự, khởi tố bị can, quyết định áp dụng

các biện pháp ngăn chặn, kết luận điều tra và

đề nghị truy tố, bản cáo trạng, quyết định

đưa vụ án ra xét xử, bản án hoặc quyết định

kết tội của toà án ) khẳng định họ là người

có tội, thực hiện các hành vi tố tụng, thậm

chí áp dụng các biện pháp cưỡng chế tố tụng

hoặc hình phạt đối với họ và do đó gây thiệt

hại cho họ về mặt vật chất, thể chất hoặc tinh

thần hay đồng thời cả ba loại thiệt hại đó ở

mức độ nhất định Ngoài ra, "oan" còn được

hiểu là trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng

áp dụng sai tội danh, sai khung hình phạt dẫn

đến quyết định mức hình phạt nặng hơn so

với mức hình phạt do điều luật quy định đối

với hành vi phạm tội mà bị cáo, người bị kết

án đP thực hiện trong thực tế

Cũng theo Từ điển trên từ "sai" ở nghĩa

thứ nhất và thứ ba được hiểu là "không phù

hợp với cái hoặc điều có thật, mà có khác đi"

và "không phù hợp với yêu cầu khách quan,

lẽ ra phải khác" Trong tố tụng hình sự, việc

giải quyết vụ án sai là trường hợp các cơ

quan tiến hành tố tụng giải quyết vụ án được giao một cách không khách quan, trái với những quy định của pháp luật mà hậu quả của nó không chỉ "làm oan người vô tội" mà còn là "bỏ lọt tội phạm" Trong khi đó, theo quy định của Điều 1 BLTTHS, việc "không

bỏ lọt tội phạm", "không làm oan người vô tội" được coi là 2 mục đích mà quá trình tố tụng hình sự cần đạt tới và đòi hỏi các cơ quan tiến hành tố tụng phải quan tâm ở cấp

độ như nhau Như vậy, việc làm oan người vô tội luôn là hệ quả của các hành vi trái (sai) pháp luật; còn "sai" được hiểu với ý nghĩa là tính chất của hoạt động hoặc chất lượng của việc giải quyết vụ án

Căn cứ pháp lí để xác định một công dân

bị oan, sai trong tố tụng hình sự là các quyết

định mang tính gỡ tội, minh oan cho bị can,

bị cáo, người bị kết án như quyết định huỷ

bỏ các biện pháp ngăn chặn, đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án vì lí do họ không thực hiện tội phạm hoặc hành vi của họ không cấu thành tội phạm cũng như quyết định của toà

án xác định bị cáo, người bị kết án không có tội hoặc giảm nhẹ hình phạt cho họ một cách

đáng kể

Mặc dù sau này, khi chân lí khách quan của vụ án đP được xác lập thì “Cơ quan đ1 làm oan phải khôi phục lại danh dự, quyền

* Giảng viên Khoa tư pháp Trường đại học luật Hà Nội

Trang 2

lợi và bồi thường cho người bị thiệt hại Cá

nhân có hành vi trái pháp luật thì tuỳ trường

hợp mà bị xử lí kỉ luật hoặc bị truy cứu trách

nhiệm hình sự” (đoạn 3 Điều 24 BLTTHS)

Nhưng rõ ràng, những trường hợp oan, sai

trong tố tụng hình sự phải được coi là những

hiện tượng tiêu cực làm xói mòn tính nghiêm

minh vốn có của nền pháp chế xP hội chủ

nghĩa, giảm sút niềm tin của nhân dân vào

pháp luật cũng như các cơ quan thi hành

pháp luật và cần được khắc phục kịp thời(2)

2 Hiện nay, tình trạng oan, sai trong tố

tụng hình sự ở Việt Nam đang ở mức đáng lo

ngại Nguyên nhân của tình trạng oan, sai

trong tố tụng hình sự có nhiều nhưng có thể

quy về một số nguyên nhân chủ yếu sau:

Trước hết, nguyên nhân đầu tiên phải kể

đến là năng lực, trình độ của điều tra viên,

kiểm sát viên, thẩm phán còn hạn chế, chưa

đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn đấu tranh

phòng, chống tội phạm Báo cáo tóm tắt đề

tài khoa học về tổ chức, hoạt động của cơ

quan điều tra do Cục chính trị Tổng cục cảnh

sát nhân dân thực hiện tháng 4/1998 nhận

xét: Nhìn chung, kiến thức của điều tra viên

còn hạn chế, tinh thần trách nhiệm chưa cao

nên hiệu quả chưa đáp ứng được yêu cầu Cụ

thể, số điều tra viên thạo việc ở các cơ quan

cảnh sát điều tra chỉ chiếm 30 đến 40%, có

nơi chỉ có 20% Tính đến tháng 10/1997 mới

có 41,5% điều tra viên có trình độ đại học và

cao đẳng, 47% có trình độ trung học, còn lại

11% là trình độ sơ học hoặc chưa qua đào tạo

cơ bản.(3) Tình trạng tương tự cũng tồn tại ở

ngành toà án Theo Báo cáo của Bộ trưởng

Bộ tư pháp trước Quốc hội thì năm 1999 cả

nước có 48 thẩm phán cấp tỉnh và 170 thẩm

phán cấp huyện không được tái bổ nhiệm vì không đủ tiêu chuẩn chuyên môn và những lí

do khác (bị kỉ luật, giảm sút uy tín) Năng lực, trình độ hạn chế là tiền đề của những hành vi, quyết định không đúng đắn, trái pháp luật và tất yếu dẫn đến hậu quả cuối cùng là xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, làm oan người vô tội.(4)

Lực lượng cán bộ phụ trách công tác điều tra, truy tố, xét xử còn quá mỏng, không đủ

về số lượng theo yêu cầu của thực tiễn hoạt

động này cũng là một trong những nguyên nhân làm giảm hiệu quả của hoạt động đó, tác động tiêu cực đến tình trạng oan, sai trong tố tụng hình sự Cũng theo Báo cáo của Cục chính trị Tổng cục cảnh sát nhân dân, ở những quận, huyện thuộc thành phố lớn, một

điều tra viên phải thụ lí trung bình 10 vụ/tháng, cá biệt có nơi 20 đến 30 vụ/tháng như ở các quận Bình Thạnh, Tân Bình (Tp

Hồ chí Minh) Như vậy, bình quân mỗi điều tra viên không có đầy 3 ngày để giải quyết 1

vụ, thậm chí có nơi 1 ngày/ vụ Tình trạng quá tải cũng xảy ra trong hoạt động xét xử Theo biên chế được Quốc hội phê duyệt thì TANDTC phải có 120 thẩm phán nhưng hiện nay mới chỉ có 78, còn thiếu 42 thẩm phán (35%) ở TAQSTƯ mới chỉ có 17/19 thẩm phán, thiếu 2 thẩm phán Đến nay, TAND cấp tỉnh còn thiếu 239 thẩm phán (21,4%), TAND cấp huyện còn thiếu 1.259 thẩm phán (35,8%), TAQS quân khu thiếu 18 thẩm phán (28,1%) và TAQS khu vực thiếu 10 thẩm phán (16,1%).(5)

Nguyên nhân khác của tình trạng oan, sai trong tố tụng hình sự là ý thức trách nhiệm chưa cao hoặc bị chi phối bởi những động cơ

Trang 3

không đúng đắn khi giải quyết nhiệm vụ

được giao của một số điều tra viên, kiểm sát

viên, thẩm phán Năng lực, trình độ hạn chế,

sự quá tải trong công việc và những tác động

tiêu cực của nền kinh tế thị trường ảnh hưởng

không nhỏ đến ý thức trách nhiệm của một

bộ phận cán bộ của các cơ quan điều tra, viện

kiểm sát, toà án Trong vụ án Nguyễn Duy

Minh ở Lâm Đồng, khi bị bắt Minh nói là

không ăn trộm nhưng cán bộ (công an) bảo

cứ kí vào biên bản ở Công an huyện, Minh

bị cán bộ đánh vào tay, vào lưng nên phải

nhận là có đi ăn trộm Khi viện kiểm sát đưa

cáo trạng, mặc dù Minh không biết chữ

nhưng cán bộ cũng bảo kí nhận Tại phiên

toà, khi Minh khẳng định mình là người vô

tội thì toà án dồn ép, nói với Minh rằng:

"Anh đ1 kí vào biên bản rồi còn c1i gì", nên

buộc Minh phải nhận mình là người có tội.(6)

Trước những lời kêu oan của bị cáo, nhiều

thẩm phán thường chỉ hỏi lại: “không phạm

tội, sao khai” hoặc “không khai, sao kí” hoặc

“cuối bản cung có ghi: "đ1 đọc lại biên bản,

đồng ý với nội dung ", còn chối gì” Đặc

biệt, có thẩm phán còn quát tháo, bác bỏ lời

kêu oan của họ.(7)

Các động cơ không lành mạnh như vì

thành tích cá nhân, tập thể hoặc động cơ vụ

lợi của một số chủ thể tiến hành tố tụng

khiến tình trạng oan, sai ngày một gia tăng

Nhiều trường hợp tiêu cực trong ngành tư

pháp đP bị phát hiện và bị xử lí kỉ luật, thậm

chí có trường hợp bị truy cứu trách nhiệm

hình sự như trường hợp điều tra viên Nguyễn

Ngọc Minh trong vụ Khánh “trắng”; 4 điều

tra viên trong vụ Bùi Minh Hải; 5 điều tra

viên và kiểm sát viên trong vụ Nguyễn Văn

Tuân; vụ Nguyễn Trọng Bằng, viện phó Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng; Bùi Văn Thấm, phó chánh Toà dân sự Toà án nhân dân tối cao Hiện tượng các cơ quan tiến hành tố tụng nể nang hoặc quá tin tưởng nhau nên không làm hết trách nhiệm của mình vẫn còn phổ biến Trong Báo cáo của Toà án nhân dân tối cao tại kì họp thứ tư, Quốc hội khoá X nêu rõ: “công tác điều tra ban đầu sai lệch, mớm cung, ép cung buộc bị cáo nhận tội Khi truy tố, xét xử cả viện kiểm sát nhân dân và toà án nhân dân đều đ1 chủ quan, không làm rõ cả hai mặt buộc tội và

gỡ tội dẫn đến sai lầm nghiêm trọng” Khi góp ý đối với Báo cáo của chánh án Toà án nhân dân tối cao và viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao tại kì họp thứ 2, Quốc hội khoá X, các đại biểu nhận xét: “ Ngoài trình độ yếu kém về nhận thức chính sách, vận dụng pháp luật thì ý thức trách nhiệm của thẩm phán chưa cao, phong cách làm việc chưa sâu, và đáng quan tâm là còn có những trường hợp vì cảm tình, nể nang hoặc

động cơ thiếu trong sáng”.(8)

Sự thiếu hiểu biết của công dân, sự non kém về nghiệp vụ và tinh thần trách nhiệm chưa cao của không ít người bào chữa cũng

là một trong những nguyên nhân làm sâu sắc hơn tình trạng oan, sai trong tố tụng hình sự

Do không nắm vững pháp luật, nhất là pháp luật hình sự và tố tụng hình sự, nhiều công dân không đủ khả năng tự vệ, bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của mình khi tham gia tố tụng với tư cách là bị can, bị cáo Thậm chí, nhiều bị can không biết là mình có quyền nhờ người bào chữa ngay từ khi bị khởi tố

mà họ cứ tưởng chỉ đến khi ra toà mới được

Trang 4

mời luật sư Bên cạnh đó, một số luật sư vì

trình độ pháp luật và nghiệp vụ non kém nên

kết quả bào chữa rất hạn chế Có trường hợp

viện kiểm sát đề nghị toà án đưa bị cáo vào

trường giáo dưỡng thì luật sư lại đề nghị hội

đồng xét xử phạt tù cho hưởng án treo Có lẽ

luật sư cho rằng phạt tù được huởng án treo

thì nhẹ hơn biện pháp xử lí hành chính "đưa

vào trường giáo dưỡng" Đặc biệt trong

trường hợp bào chữa chỉ định, một số luật sư

nhận bào chữa theo kiểu “chạy sô” nên đP

đặt quyền lợi cá nhân trên quyền lợi của bị

cáo, biến mình thành người đóng kịch để hợp

pháp hoá phiên toà.(9)

Nguyên nhân cuối cùng dẫn đến tình

trạng oan, sai trong tố tụng hình sự hiện nay

là sự thiếu hoàn thiện của hệ thống pháp luật,

nhất là pháp luật tố tụng hình sự trong các

chế định có quan hệ trực tiếp đến cơ chế tôn

trọng và bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp

của công dân trong tố tụng hình sự như trách

nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng,

người tiến hành tố tụng, quyền bào chữa của

bị can, bị cáo Chẳng hạn, nhiều ý kiến cho

rằng việc quy định: “Người bào chữa có

quyền có mặt khi hỏi cung bị can và nếu điều

tra viên đồng ý thì được hỏi bị can” như

khoản 2 Điều 36 BLTTHS hiện hành là chưa

hợp lí, dễ dẫn đến việc áp dụng không thống

nhất trong thực tiễn và làm giảm vai trò của

người bào chữa trong giai đoạn điều tra vụ án

hình sự Một điểm bất hợp lí khác, mặc dù

chỉ liên quan đến vấn đề kĩ thuật lập pháp

cũng cần sớm khắc phục Đó là cần thay liên

từ “hoặc” bằng liên từ “và” trong đoạn 1

Điều 12 BLTTHS để thể hiện đầy đủ nội

dung quyền bào chữa của bị can, bị cáo bởi

“tự bào chữa” và “nhờ người khác bào chữa”

là hai bộ phận làm nên nội dung quyền bào chữa của bị can, bị cáo Hai bộ phận này không thể loại trừ lẫn nhau.(10)

Theo quy định của BLTTHS thì một trong những trường hợp bào chữa bắt buộc là khi bị can, bị cáo là người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về thể chất, tâm thần (điểm b khoản 2 Điều 37) Theo tinh thần của điều luật, cả hai trường hợp này bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của

họ đều có quyền thay đổi hoặc từ chối người bào chữa Quy định trên chỉ coi là hợp lí đối với trường hợp thứ nhất (bị can, bị cáo có đủ năng lực hành vi) nhưng sẽ bất hợp lí đối với trường hợp thứ hai bởi ở trường hợp này, bị can, bị cáo là người bị hạn chế về năng lực hành vi

Một quy định khác chưa thể coi là hợp lí liên quan đến việc có mặt của người bào chữa tại phiên toà Theo tinh thần đoạn 1

Điều 165 BLTTHS thì nếu người bào chữa vắng mặt nhưng có gửi trước bản bào chữa thì phiên toà vẫn được tiến hành Như vậy, pháp luật cho phép người bào chữa khi bào chữa cho bị can, bị cáo chỉ cần dựa trên cơ sở các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án Trong khi

đó, bản án của toà án được đưa ra không chỉ dựa trên cơ sở các chứng cứ đP thu thập, có trong hồ sơ vụ án mà cả các chứng cứ khác

được thu thập, kiểm tra, đánh giá trong giai

đoạn xét xử vụ án Vô hình trung, quy định trên đP cho phép người bào chữa có quyền thiếu trách nhiệm đối với những người mà mình nhận bảo vệ Do đó, Điều 165 BLTTHS nên sửa lại theo hướng sau: “Người bào chữa

có nghĩa vụ tham gia phiên toà Nếu người

Trang 5

bào chữa vắng mặt thì phải ho1n phiên

toà”.(11)

3 Khắc phục tình trạng oan, sai trong tố

tụng hình sự được xác định là một trong

những nhiệm vụ cấp bách cần giải quyết

trong giai đoạn hiện nay nhằm tăng cường

pháp chế xP hội chủ nghĩa, nâng cao hiệu

quả công tác đấu tranh phòng, chống tội

phạm Để đạt được mục đích đó, theo chúng

tôi cần nghiêm túc thực hiện tốt một số giải

pháp cơ bản sau:

- Thứ nhất, cần kịp thời nâng cao trình độ

chuyên môn nghiệp vụ, trình độ pháp luật

cho điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán,

hội thẩm nhân dân Nhân tố con người được

coi là nhân tố quan trọng, quyết định chất

lượng của mọi hoạt động Quá trình điều tra,

truy tố, xét xử các vụ án hình sự bên cạnh

tính hệ trọng còn có tính phức tạp cao Trong

quá trình này, các chủ thể tiến hành tố tụng

được pháp luật trao cho quyền tự do đánh giá

chứng cứ trên cơ sở niềm tin nội tâm, ý thức

pháp luật xP hội chủ nghĩa của mình Vì vậy,

chỉ khi các chủ thể đó có trình độ chuyên

môn nghiệp vụ cao, nắm vững pháp luật thì

các quyết định tố tụng của họ mới có cơ sở

thực tế, đảm bảo tính đúng đắn, tính phù hợp

với pháp luật và đó chính là cơ sở quan trọng

làm giảm tình trạng oan, sai trong tố tụng

hình sự Trong thời gian tới, Nhà nước cần

quan tâm không chỉ mở các lớp tập huấn

ngắn hạn cho các điều tra viên, kiểm sát

viên, thẩm phán, hội thẩm nhân dân về

nghiệp vụ và pháp luật, nhất là về BLHS năm

1999 và BLTTHS sửa đổi năm 2000 mà cần

có kế hoạch đào tạo nghề một cách chính

quy cho các chủ thể này.(12)

- Thứ hai, cần nhanh chóng bổ sung đủ

số lượng điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán đáp ứng đòi hỏi yêu cầu thực tế của công tác giải quyết các vụ án hình sự ở giai

đoạn hiện nay, khi diễn biến của tình hình tội phạm ngày càng phức tạp và gia tăng về số lượng một cách đáng lo ngại đòi hỏi đội ngũ cán bộ chuyên trách của các cơ quan điều tra, viện kiểm sát, toà án không chỉ phải đảm bảo

về chất lượng mà còn phải đảm bảo cả về mặt số lượng, tránh tình trạng quá tải trong công việc Xét từ góc độ khoa học quản lí và khoa học tâm lí, sự quá tải của công việc

được giao chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng hời hợt, qua loa, đại khái, thiếu trách nhiệm khi giải quyết công việc, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng công việc Vì vậy, cải cách hành chính trong lĩnh vực tư pháp không thể hiểu một cách máy móc là phải làm giảm số lượng cán bộ ở các cơ quan này mà cần được hiểu với nghĩa

là đảm bảo cho các cơ quan đó đủ sức giải quyết tốt nhiệm vụ pháp luật giao cho, đảm bảo hiệu quả hoạt động của các cơ quan đó trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm

- Thứ ba, cần có chế độ đPi ngộ, thưởng, phạt hợp lí đối với điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán, hội thẩm nhân dân Việc xử

lí nghiêm minh đối với những người vi phạm pháp luật trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử là một trong những phương tiện cần thiết nhằm hạn chế có hiệu quả tình trạng oan, sai, lấy lại niềm tin của nhân dân vào chế độ và pháp luật Bên cạnh đó, cần nhận thức rõ thực tế không thể phủ nhận là chính chế độ đPi ngộ bất hợp lí đối với các

Trang 6

cán bộ trực tiếp phụ trách công tác giải quyết

các vụ án hình sự cũng là một trong những

nguyên nhân “ngầm” làm gia tăng tình trạng

oan, sai trong tố tụng hình sự Để giúp điều

tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán, hội thẩm

nhân dân yên tâm công tác, toàn tâm vì công

việc được giao cần có chế độ đPi ngộ thoả

đáng, tạo cho họ có cuộc sống vật chất và

tinh thần ổn định, đủ sức “tự vệ” trước những

cám dỗ vật chất ý tưởng về sự cần thiết phải

có chế độ “dưỡng liêm” đối với thẩm phán do

bộ trưởng Bộ tư pháp Nguyễn Đình Lộc đề

xuất theo chúng tôi là rất hợp lí.(13) ý tưởng

này nên sớm cụ thể hoá thành chính sách của

Nhà nước và cần được áp dụng đối với cả

điều tra viên, kiểm sát viên

- Thứ tư, cần nâng cao nhận thức pháp

luật cho nhân dân, nâng cao vai trò của người

bào chữa trong tố tụng hình sự Như đP phân

tích ở phần trên, nhiều trường hợp do nhận

thức pháp luật của nhân dân nói chung còn

thấp nên khi tham gia tố tụng hình sự với tư

cách là bị can, bị cáo, việc thực hiện quyền

bào chữa của họ còn rất hạn chế Bên cạnh

đó, nhiều người bào chữa, vì những lí do

khác nhau (như đP nêu ở phần trước) chưa

phát huy hết khả năng, vai trò của mình khi

tham gia tố tụng, ảnh hưởng không nhỏ đến

việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị

can, bị cáo

- Thứ năm, cần sớm hoàn thiện hệ thống

pháp luật hiện hành, nhất là những chế định

liên quan đến việc bảo vệ quyền và lợi ích

hợp pháp của công dân trong tố tụng hình sự

như trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố

tụng, người tiến hành tố tụng, bảo đảm

quyền bào chữa của bị can, bị cáo và cơ

chế đảm bảo thực hiện các chế định đó trong

thực tế một cách có hiệu quả nhất./

(1).Xem: Từ điển tiếng Việt, Nxb Khoa học xP hội Trung tâm từ điển khoa học Hà Nội-Việt Nam 1994 (2) Thời gian gần đây, Đảng và Nhà nước ta đP ban hành một số văn bản tạo cơ sở pháp lí để sớm khắc phục tình trạng nêu trên Cụ thể, ngày 3/5/1997 Chính phủ đP ban hành Nghị định 47/CP "về việc giải quyết bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức Nhà nước có thẩm quyền của các cơ quan tiến hành tố tụng gây ra" Trên cơ sở Nghị định đó, ngày 30/3/1998, Bộ tài chính ban hành Thông tư số 38/TT-BTC hướng dẫn việc lập dự toán và quyết toán ngân sách nhà nước cho bồi thường thiệt hại; Ban tổ chức - cán bộ Chính phủ ban hành Thông tư số 54/1998 hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định 47/CP Ngày 9/6/2000 Quốc hội thông qua BLTTHS sửa đổi lần thứ ba trong đó bổ sung Điều 10a với tên gọi "trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng"

(3), (7).Xem: Về tình trạng nhục hình, bức cung Bảo Trâm - Ngọc Lan - Tú Anh Báo Pháp luật TP Hồ Chí Minh ngày 23/11/1999

(4) Tại mục 7 của Báo cáo tổng kết công tác ngành toà án năm 1999 và phương hướng nhiệm vụ công tác năm 2000 của Tòa án nhân dân tối cao đP chỉ rõ 5 loại thiếu sót, khuyết điểm chung trong công tác xét xử các vụ án hình sự năm qua, gồm: Thiếu sót trong

đánh giá chứng cứ, các thiếu sót về định sai tội danh, các thiếu sót về áp dụng sai khung hình phạt, một số thiếu sót khác, các sai sót về thủ tục tố tụng hình sự (5), (8).Xem: Báo cáo tổng kết công tác ngành toà án năm 1997, tr 34 - 35, tr 23

(6).Xem: Vì đâu có nỗi oan này? - Phóng sự điều tra của Đào Công Lí - Báo tiền phong số 36 ngày 24/3/1998

(9), (11)Xem: Hoàng Thị Sơn - Bùi Kiên Điện Những nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng hình sự Việt Nam Trường đại học luật Hà Nội Nxb CAND, H 2000, tr

110 - 113, tr.117

(10) Đoạn 1 Điều 12 BLTTHS quy định: "Bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa"

(12) Hiện nay, ở Việt Nam mới chỉ có cơ sở đào tạo nghề một cách có hệ thống cho thẩm phán do Trường

đào tạo các chức danh tư pháp thực hiện Chưa có các trường đào tạo nghề cho điều tra viên, kiểm sát viên (13).Xem: Nguyễn Đình Lộc - Cần thực hiện chế độ

"dưỡng liêm" cho người thẩm phán - Báo Pháp luật ngày 9/1/2000

Ngày đăng: 31/03/2014, 09:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w