1 Trong tố tụng hình sự một người được coi là bị oan khi bản thân họ là người vô tội nhưng các cơ quan tiến hành tố tụng, bằng các quyết định tố tụng đặc trưng của mình quyết định khởi t
Trang 1ThS Bùi Kiên Điện *
1 Theo Từ điển tiếng Việt từ “oan” có
nghĩa là: “bị quy cho tội mà bản thân không
phạm, phải chịu sự trừng phạt mà bản thân
không đáng phải chịu”. (1) Trong tố tụng hình
sự một người được coi là bị oan khi bản thân
họ là người vô tội nhưng các cơ quan tiến
hành tố tụng, bằng các quyết định tố tụng
đặc trưng của mình (quyết định khởi tố vụ án
hình sự, khởi tố bị can, quyết định áp dụng
các biện pháp ngăn chặn, kết luận điều tra và
đề nghị truy tố, bản cáo trạng, quyết định
đưa vụ án ra xét xử, bản án hoặc quyết định
kết tội của toà án ) khẳng định họ là người
có tội, thực hiện các hành vi tố tụng, thậm
chí áp dụng các biện pháp cưỡng chế tố tụng
hoặc hình phạt đối với họ và do đó gây thiệt
hại cho họ về mặt vật chất, thể chất hoặc tinh
thần hay đồng thời cả ba loại thiệt hại đó ở
mức độ nhất định Ngoài ra, "oan" còn được
hiểu là trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng
áp dụng sai tội danh, sai khung hình phạt dẫn
đến quyết định mức hình phạt nặng hơn so
với mức hình phạt do điều luật quy định đối
với hành vi phạm tội mà bị cáo, người bị kết
án đP thực hiện trong thực tế
Cũng theo Từ điển trên từ "sai" ở nghĩa
thứ nhất và thứ ba được hiểu là "không phù
hợp với cái hoặc điều có thật, mà có khác đi"
và "không phù hợp với yêu cầu khách quan,
lẽ ra phải khác" Trong tố tụng hình sự, việc
giải quyết vụ án sai là trường hợp các cơ
quan tiến hành tố tụng giải quyết vụ án được giao một cách không khách quan, trái với những quy định của pháp luật mà hậu quả của nó không chỉ "làm oan người vô tội" mà còn là "bỏ lọt tội phạm" Trong khi đó, theo quy định của Điều 1 BLTTHS, việc "không
bỏ lọt tội phạm", "không làm oan người vô tội" được coi là 2 mục đích mà quá trình tố tụng hình sự cần đạt tới và đòi hỏi các cơ quan tiến hành tố tụng phải quan tâm ở cấp
độ như nhau Như vậy, việc làm oan người vô tội luôn là hệ quả của các hành vi trái (sai) pháp luật; còn "sai" được hiểu với ý nghĩa là tính chất của hoạt động hoặc chất lượng của việc giải quyết vụ án
Căn cứ pháp lí để xác định một công dân
bị oan, sai trong tố tụng hình sự là các quyết
định mang tính gỡ tội, minh oan cho bị can,
bị cáo, người bị kết án như quyết định huỷ
bỏ các biện pháp ngăn chặn, đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án vì lí do họ không thực hiện tội phạm hoặc hành vi của họ không cấu thành tội phạm cũng như quyết định của toà
án xác định bị cáo, người bị kết án không có tội hoặc giảm nhẹ hình phạt cho họ một cách
đáng kể
Mặc dù sau này, khi chân lí khách quan của vụ án đP được xác lập thì “Cơ quan đ1 làm oan phải khôi phục lại danh dự, quyền
* Giảng viên Khoa tư pháp Trường đại học luật Hà Nội
Trang 2lợi và bồi thường cho người bị thiệt hại Cá
nhân có hành vi trái pháp luật thì tuỳ trường
hợp mà bị xử lí kỉ luật hoặc bị truy cứu trách
nhiệm hình sự” (đoạn 3 Điều 24 BLTTHS)
Nhưng rõ ràng, những trường hợp oan, sai
trong tố tụng hình sự phải được coi là những
hiện tượng tiêu cực làm xói mòn tính nghiêm
minh vốn có của nền pháp chế xP hội chủ
nghĩa, giảm sút niềm tin của nhân dân vào
pháp luật cũng như các cơ quan thi hành
pháp luật và cần được khắc phục kịp thời(2)
2 Hiện nay, tình trạng oan, sai trong tố
tụng hình sự ở Việt Nam đang ở mức đáng lo
ngại Nguyên nhân của tình trạng oan, sai
trong tố tụng hình sự có nhiều nhưng có thể
quy về một số nguyên nhân chủ yếu sau:
Trước hết, nguyên nhân đầu tiên phải kể
đến là năng lực, trình độ của điều tra viên,
kiểm sát viên, thẩm phán còn hạn chế, chưa
đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn đấu tranh
phòng, chống tội phạm Báo cáo tóm tắt đề
tài khoa học về tổ chức, hoạt động của cơ
quan điều tra do Cục chính trị Tổng cục cảnh
sát nhân dân thực hiện tháng 4/1998 nhận
xét: Nhìn chung, kiến thức của điều tra viên
còn hạn chế, tinh thần trách nhiệm chưa cao
nên hiệu quả chưa đáp ứng được yêu cầu Cụ
thể, số điều tra viên thạo việc ở các cơ quan
cảnh sát điều tra chỉ chiếm 30 đến 40%, có
nơi chỉ có 20% Tính đến tháng 10/1997 mới
có 41,5% điều tra viên có trình độ đại học và
cao đẳng, 47% có trình độ trung học, còn lại
11% là trình độ sơ học hoặc chưa qua đào tạo
cơ bản.(3) Tình trạng tương tự cũng tồn tại ở
ngành toà án Theo Báo cáo của Bộ trưởng
Bộ tư pháp trước Quốc hội thì năm 1999 cả
nước có 48 thẩm phán cấp tỉnh và 170 thẩm
phán cấp huyện không được tái bổ nhiệm vì không đủ tiêu chuẩn chuyên môn và những lí
do khác (bị kỉ luật, giảm sút uy tín) Năng lực, trình độ hạn chế là tiền đề của những hành vi, quyết định không đúng đắn, trái pháp luật và tất yếu dẫn đến hậu quả cuối cùng là xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, làm oan người vô tội.(4)
Lực lượng cán bộ phụ trách công tác điều tra, truy tố, xét xử còn quá mỏng, không đủ
về số lượng theo yêu cầu của thực tiễn hoạt
động này cũng là một trong những nguyên nhân làm giảm hiệu quả của hoạt động đó, tác động tiêu cực đến tình trạng oan, sai trong tố tụng hình sự Cũng theo Báo cáo của Cục chính trị Tổng cục cảnh sát nhân dân, ở những quận, huyện thuộc thành phố lớn, một
điều tra viên phải thụ lí trung bình 10 vụ/tháng, cá biệt có nơi 20 đến 30 vụ/tháng như ở các quận Bình Thạnh, Tân Bình (Tp
Hồ chí Minh) Như vậy, bình quân mỗi điều tra viên không có đầy 3 ngày để giải quyết 1
vụ, thậm chí có nơi 1 ngày/ vụ Tình trạng quá tải cũng xảy ra trong hoạt động xét xử Theo biên chế được Quốc hội phê duyệt thì TANDTC phải có 120 thẩm phán nhưng hiện nay mới chỉ có 78, còn thiếu 42 thẩm phán (35%) ở TAQSTƯ mới chỉ có 17/19 thẩm phán, thiếu 2 thẩm phán Đến nay, TAND cấp tỉnh còn thiếu 239 thẩm phán (21,4%), TAND cấp huyện còn thiếu 1.259 thẩm phán (35,8%), TAQS quân khu thiếu 18 thẩm phán (28,1%) và TAQS khu vực thiếu 10 thẩm phán (16,1%).(5)
Nguyên nhân khác của tình trạng oan, sai trong tố tụng hình sự là ý thức trách nhiệm chưa cao hoặc bị chi phối bởi những động cơ
Trang 3không đúng đắn khi giải quyết nhiệm vụ
được giao của một số điều tra viên, kiểm sát
viên, thẩm phán Năng lực, trình độ hạn chế,
sự quá tải trong công việc và những tác động
tiêu cực của nền kinh tế thị trường ảnh hưởng
không nhỏ đến ý thức trách nhiệm của một
bộ phận cán bộ của các cơ quan điều tra, viện
kiểm sát, toà án Trong vụ án Nguyễn Duy
Minh ở Lâm Đồng, khi bị bắt Minh nói là
không ăn trộm nhưng cán bộ (công an) bảo
cứ kí vào biên bản ở Công an huyện, Minh
bị cán bộ đánh vào tay, vào lưng nên phải
nhận là có đi ăn trộm Khi viện kiểm sát đưa
cáo trạng, mặc dù Minh không biết chữ
nhưng cán bộ cũng bảo kí nhận Tại phiên
toà, khi Minh khẳng định mình là người vô
tội thì toà án dồn ép, nói với Minh rằng:
"Anh đ1 kí vào biên bản rồi còn c1i gì", nên
buộc Minh phải nhận mình là người có tội.(6)
Trước những lời kêu oan của bị cáo, nhiều
thẩm phán thường chỉ hỏi lại: “không phạm
tội, sao khai” hoặc “không khai, sao kí” hoặc
“cuối bản cung có ghi: "đ1 đọc lại biên bản,
đồng ý với nội dung ", còn chối gì” Đặc
biệt, có thẩm phán còn quát tháo, bác bỏ lời
kêu oan của họ.(7)
Các động cơ không lành mạnh như vì
thành tích cá nhân, tập thể hoặc động cơ vụ
lợi của một số chủ thể tiến hành tố tụng
khiến tình trạng oan, sai ngày một gia tăng
Nhiều trường hợp tiêu cực trong ngành tư
pháp đP bị phát hiện và bị xử lí kỉ luật, thậm
chí có trường hợp bị truy cứu trách nhiệm
hình sự như trường hợp điều tra viên Nguyễn
Ngọc Minh trong vụ Khánh “trắng”; 4 điều
tra viên trong vụ Bùi Minh Hải; 5 điều tra
viên và kiểm sát viên trong vụ Nguyễn Văn
Tuân; vụ Nguyễn Trọng Bằng, viện phó Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng; Bùi Văn Thấm, phó chánh Toà dân sự Toà án nhân dân tối cao Hiện tượng các cơ quan tiến hành tố tụng nể nang hoặc quá tin tưởng nhau nên không làm hết trách nhiệm của mình vẫn còn phổ biến Trong Báo cáo của Toà án nhân dân tối cao tại kì họp thứ tư, Quốc hội khoá X nêu rõ: “công tác điều tra ban đầu sai lệch, mớm cung, ép cung buộc bị cáo nhận tội Khi truy tố, xét xử cả viện kiểm sát nhân dân và toà án nhân dân đều đ1 chủ quan, không làm rõ cả hai mặt buộc tội và
gỡ tội dẫn đến sai lầm nghiêm trọng” Khi góp ý đối với Báo cáo của chánh án Toà án nhân dân tối cao và viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao tại kì họp thứ 2, Quốc hội khoá X, các đại biểu nhận xét: “ Ngoài trình độ yếu kém về nhận thức chính sách, vận dụng pháp luật thì ý thức trách nhiệm của thẩm phán chưa cao, phong cách làm việc chưa sâu, và đáng quan tâm là còn có những trường hợp vì cảm tình, nể nang hoặc
động cơ thiếu trong sáng”.(8)
Sự thiếu hiểu biết của công dân, sự non kém về nghiệp vụ và tinh thần trách nhiệm chưa cao của không ít người bào chữa cũng
là một trong những nguyên nhân làm sâu sắc hơn tình trạng oan, sai trong tố tụng hình sự
Do không nắm vững pháp luật, nhất là pháp luật hình sự và tố tụng hình sự, nhiều công dân không đủ khả năng tự vệ, bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của mình khi tham gia tố tụng với tư cách là bị can, bị cáo Thậm chí, nhiều bị can không biết là mình có quyền nhờ người bào chữa ngay từ khi bị khởi tố
mà họ cứ tưởng chỉ đến khi ra toà mới được
Trang 4mời luật sư Bên cạnh đó, một số luật sư vì
trình độ pháp luật và nghiệp vụ non kém nên
kết quả bào chữa rất hạn chế Có trường hợp
viện kiểm sát đề nghị toà án đưa bị cáo vào
trường giáo dưỡng thì luật sư lại đề nghị hội
đồng xét xử phạt tù cho hưởng án treo Có lẽ
luật sư cho rằng phạt tù được huởng án treo
thì nhẹ hơn biện pháp xử lí hành chính "đưa
vào trường giáo dưỡng" Đặc biệt trong
trường hợp bào chữa chỉ định, một số luật sư
nhận bào chữa theo kiểu “chạy sô” nên đP
đặt quyền lợi cá nhân trên quyền lợi của bị
cáo, biến mình thành người đóng kịch để hợp
pháp hoá phiên toà.(9)
Nguyên nhân cuối cùng dẫn đến tình
trạng oan, sai trong tố tụng hình sự hiện nay
là sự thiếu hoàn thiện của hệ thống pháp luật,
nhất là pháp luật tố tụng hình sự trong các
chế định có quan hệ trực tiếp đến cơ chế tôn
trọng và bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp
của công dân trong tố tụng hình sự như trách
nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng,
người tiến hành tố tụng, quyền bào chữa của
bị can, bị cáo Chẳng hạn, nhiều ý kiến cho
rằng việc quy định: “Người bào chữa có
quyền có mặt khi hỏi cung bị can và nếu điều
tra viên đồng ý thì được hỏi bị can” như
khoản 2 Điều 36 BLTTHS hiện hành là chưa
hợp lí, dễ dẫn đến việc áp dụng không thống
nhất trong thực tiễn và làm giảm vai trò của
người bào chữa trong giai đoạn điều tra vụ án
hình sự Một điểm bất hợp lí khác, mặc dù
chỉ liên quan đến vấn đề kĩ thuật lập pháp
cũng cần sớm khắc phục Đó là cần thay liên
từ “hoặc” bằng liên từ “và” trong đoạn 1
Điều 12 BLTTHS để thể hiện đầy đủ nội
dung quyền bào chữa của bị can, bị cáo bởi
“tự bào chữa” và “nhờ người khác bào chữa”
là hai bộ phận làm nên nội dung quyền bào chữa của bị can, bị cáo Hai bộ phận này không thể loại trừ lẫn nhau.(10)
Theo quy định của BLTTHS thì một trong những trường hợp bào chữa bắt buộc là khi bị can, bị cáo là người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về thể chất, tâm thần (điểm b khoản 2 Điều 37) Theo tinh thần của điều luật, cả hai trường hợp này bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của
họ đều có quyền thay đổi hoặc từ chối người bào chữa Quy định trên chỉ coi là hợp lí đối với trường hợp thứ nhất (bị can, bị cáo có đủ năng lực hành vi) nhưng sẽ bất hợp lí đối với trường hợp thứ hai bởi ở trường hợp này, bị can, bị cáo là người bị hạn chế về năng lực hành vi
Một quy định khác chưa thể coi là hợp lí liên quan đến việc có mặt của người bào chữa tại phiên toà Theo tinh thần đoạn 1
Điều 165 BLTTHS thì nếu người bào chữa vắng mặt nhưng có gửi trước bản bào chữa thì phiên toà vẫn được tiến hành Như vậy, pháp luật cho phép người bào chữa khi bào chữa cho bị can, bị cáo chỉ cần dựa trên cơ sở các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án Trong khi
đó, bản án của toà án được đưa ra không chỉ dựa trên cơ sở các chứng cứ đP thu thập, có trong hồ sơ vụ án mà cả các chứng cứ khác
được thu thập, kiểm tra, đánh giá trong giai
đoạn xét xử vụ án Vô hình trung, quy định trên đP cho phép người bào chữa có quyền thiếu trách nhiệm đối với những người mà mình nhận bảo vệ Do đó, Điều 165 BLTTHS nên sửa lại theo hướng sau: “Người bào chữa
có nghĩa vụ tham gia phiên toà Nếu người
Trang 5bào chữa vắng mặt thì phải ho1n phiên
toà”.(11)
3 Khắc phục tình trạng oan, sai trong tố
tụng hình sự được xác định là một trong
những nhiệm vụ cấp bách cần giải quyết
trong giai đoạn hiện nay nhằm tăng cường
pháp chế xP hội chủ nghĩa, nâng cao hiệu
quả công tác đấu tranh phòng, chống tội
phạm Để đạt được mục đích đó, theo chúng
tôi cần nghiêm túc thực hiện tốt một số giải
pháp cơ bản sau:
- Thứ nhất, cần kịp thời nâng cao trình độ
chuyên môn nghiệp vụ, trình độ pháp luật
cho điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán,
hội thẩm nhân dân Nhân tố con người được
coi là nhân tố quan trọng, quyết định chất
lượng của mọi hoạt động Quá trình điều tra,
truy tố, xét xử các vụ án hình sự bên cạnh
tính hệ trọng còn có tính phức tạp cao Trong
quá trình này, các chủ thể tiến hành tố tụng
được pháp luật trao cho quyền tự do đánh giá
chứng cứ trên cơ sở niềm tin nội tâm, ý thức
pháp luật xP hội chủ nghĩa của mình Vì vậy,
chỉ khi các chủ thể đó có trình độ chuyên
môn nghiệp vụ cao, nắm vững pháp luật thì
các quyết định tố tụng của họ mới có cơ sở
thực tế, đảm bảo tính đúng đắn, tính phù hợp
với pháp luật và đó chính là cơ sở quan trọng
làm giảm tình trạng oan, sai trong tố tụng
hình sự Trong thời gian tới, Nhà nước cần
quan tâm không chỉ mở các lớp tập huấn
ngắn hạn cho các điều tra viên, kiểm sát
viên, thẩm phán, hội thẩm nhân dân về
nghiệp vụ và pháp luật, nhất là về BLHS năm
1999 và BLTTHS sửa đổi năm 2000 mà cần
có kế hoạch đào tạo nghề một cách chính
quy cho các chủ thể này.(12)
- Thứ hai, cần nhanh chóng bổ sung đủ
số lượng điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán đáp ứng đòi hỏi yêu cầu thực tế của công tác giải quyết các vụ án hình sự ở giai
đoạn hiện nay, khi diễn biến của tình hình tội phạm ngày càng phức tạp và gia tăng về số lượng một cách đáng lo ngại đòi hỏi đội ngũ cán bộ chuyên trách của các cơ quan điều tra, viện kiểm sát, toà án không chỉ phải đảm bảo
về chất lượng mà còn phải đảm bảo cả về mặt số lượng, tránh tình trạng quá tải trong công việc Xét từ góc độ khoa học quản lí và khoa học tâm lí, sự quá tải của công việc
được giao chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng hời hợt, qua loa, đại khái, thiếu trách nhiệm khi giải quyết công việc, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng công việc Vì vậy, cải cách hành chính trong lĩnh vực tư pháp không thể hiểu một cách máy móc là phải làm giảm số lượng cán bộ ở các cơ quan này mà cần được hiểu với nghĩa
là đảm bảo cho các cơ quan đó đủ sức giải quyết tốt nhiệm vụ pháp luật giao cho, đảm bảo hiệu quả hoạt động của các cơ quan đó trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm
- Thứ ba, cần có chế độ đPi ngộ, thưởng, phạt hợp lí đối với điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán, hội thẩm nhân dân Việc xử
lí nghiêm minh đối với những người vi phạm pháp luật trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử là một trong những phương tiện cần thiết nhằm hạn chế có hiệu quả tình trạng oan, sai, lấy lại niềm tin của nhân dân vào chế độ và pháp luật Bên cạnh đó, cần nhận thức rõ thực tế không thể phủ nhận là chính chế độ đPi ngộ bất hợp lí đối với các
Trang 6cán bộ trực tiếp phụ trách công tác giải quyết
các vụ án hình sự cũng là một trong những
nguyên nhân “ngầm” làm gia tăng tình trạng
oan, sai trong tố tụng hình sự Để giúp điều
tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán, hội thẩm
nhân dân yên tâm công tác, toàn tâm vì công
việc được giao cần có chế độ đPi ngộ thoả
đáng, tạo cho họ có cuộc sống vật chất và
tinh thần ổn định, đủ sức “tự vệ” trước những
cám dỗ vật chất ý tưởng về sự cần thiết phải
có chế độ “dưỡng liêm” đối với thẩm phán do
bộ trưởng Bộ tư pháp Nguyễn Đình Lộc đề
xuất theo chúng tôi là rất hợp lí.(13) ý tưởng
này nên sớm cụ thể hoá thành chính sách của
Nhà nước và cần được áp dụng đối với cả
điều tra viên, kiểm sát viên
- Thứ tư, cần nâng cao nhận thức pháp
luật cho nhân dân, nâng cao vai trò của người
bào chữa trong tố tụng hình sự Như đP phân
tích ở phần trên, nhiều trường hợp do nhận
thức pháp luật của nhân dân nói chung còn
thấp nên khi tham gia tố tụng hình sự với tư
cách là bị can, bị cáo, việc thực hiện quyền
bào chữa của họ còn rất hạn chế Bên cạnh
đó, nhiều người bào chữa, vì những lí do
khác nhau (như đP nêu ở phần trước) chưa
phát huy hết khả năng, vai trò của mình khi
tham gia tố tụng, ảnh hưởng không nhỏ đến
việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị
can, bị cáo
- Thứ năm, cần sớm hoàn thiện hệ thống
pháp luật hiện hành, nhất là những chế định
liên quan đến việc bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của công dân trong tố tụng hình sự
như trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố
tụng, người tiến hành tố tụng, bảo đảm
quyền bào chữa của bị can, bị cáo và cơ
chế đảm bảo thực hiện các chế định đó trong
thực tế một cách có hiệu quả nhất./
(1).Xem: Từ điển tiếng Việt, Nxb Khoa học xP hội Trung tâm từ điển khoa học Hà Nội-Việt Nam 1994 (2) Thời gian gần đây, Đảng và Nhà nước ta đP ban hành một số văn bản tạo cơ sở pháp lí để sớm khắc phục tình trạng nêu trên Cụ thể, ngày 3/5/1997 Chính phủ đP ban hành Nghị định 47/CP "về việc giải quyết bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức Nhà nước có thẩm quyền của các cơ quan tiến hành tố tụng gây ra" Trên cơ sở Nghị định đó, ngày 30/3/1998, Bộ tài chính ban hành Thông tư số 38/TT-BTC hướng dẫn việc lập dự toán và quyết toán ngân sách nhà nước cho bồi thường thiệt hại; Ban tổ chức - cán bộ Chính phủ ban hành Thông tư số 54/1998 hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định 47/CP Ngày 9/6/2000 Quốc hội thông qua BLTTHS sửa đổi lần thứ ba trong đó bổ sung Điều 10a với tên gọi "trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng"
(3), (7).Xem: Về tình trạng nhục hình, bức cung Bảo Trâm - Ngọc Lan - Tú Anh Báo Pháp luật TP Hồ Chí Minh ngày 23/11/1999
(4) Tại mục 7 của Báo cáo tổng kết công tác ngành toà án năm 1999 và phương hướng nhiệm vụ công tác năm 2000 của Tòa án nhân dân tối cao đP chỉ rõ 5 loại thiếu sót, khuyết điểm chung trong công tác xét xử các vụ án hình sự năm qua, gồm: Thiếu sót trong
đánh giá chứng cứ, các thiếu sót về định sai tội danh, các thiếu sót về áp dụng sai khung hình phạt, một số thiếu sót khác, các sai sót về thủ tục tố tụng hình sự (5), (8).Xem: Báo cáo tổng kết công tác ngành toà án năm 1997, tr 34 - 35, tr 23
(6).Xem: Vì đâu có nỗi oan này? - Phóng sự điều tra của Đào Công Lí - Báo tiền phong số 36 ngày 24/3/1998
(9), (11)Xem: Hoàng Thị Sơn - Bùi Kiên Điện Những nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng hình sự Việt Nam Trường đại học luật Hà Nội Nxb CAND, H 2000, tr
110 - 113, tr.117
(10) Đoạn 1 Điều 12 BLTTHS quy định: "Bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa"
(12) Hiện nay, ở Việt Nam mới chỉ có cơ sở đào tạo nghề một cách có hệ thống cho thẩm phán do Trường
đào tạo các chức danh tư pháp thực hiện Chưa có các trường đào tạo nghề cho điều tra viên, kiểm sát viên (13).Xem: Nguyễn Đình Lộc - Cần thực hiện chế độ
"dưỡng liêm" cho người thẩm phán - Báo Pháp luật ngày 9/1/2000