Thành công của họ trong những nỗ lực nói trên giúp chúng ta phần nào nắm bắt được sự tiến triển của đời sống x hội loài người từ trước tới nay theo những hệ quy ước nào.. Có lẽ đúng như
Trang 1TS Nguyễn Ngọc Đào *
hi loài người bước vào đời sống có tổ
chức x hội thì đời sống đó đ được
điều chỉnh bởi những quy ước nhất định Các
lí thuyết gia từ thời cổ đại như Platon (427 -
347 TCN), Aristote (384 - 322 TCN) rồi đến
thời trung đại như Thomas D'Aquin (1225 -
1274) và cuối cùng là thời cận hiện đại như
Hobbes (1588 - 1679) Montesquieu (1685 -
1755) đ cố gắng phân loại những quy ước
đó dưới dạng là các hệ thống đạo lí hay pháp
luật Người ta cũng từng cố gắng cụ thể hóa
các hệ thống đó qua các phạm trù về công lí
x hội, qua các khái niệm về công pháp, tư
pháp Các lí thuyết gia của nhiều thời đại đ
phân tích các quy tắc x hội từ nhiều góc độ
khác nhau như triết học, x hội học, tôn giáo
học, mĩ học, lịch sử và cả dưới góc độ pháp
quyền Thành công của họ trong những nỗ
lực nói trên giúp chúng ta phần nào nắm bắt
được sự tiến triển của đời sống x hội loài
người từ trước tới nay theo những hệ quy ước
nào
Tuy nhiên, x hội loài người luôn như
thực thể sống, vô cùng sinh động và phức tạp
bởi các mối quan hệ khác nhau Có ba tư
cách của con người trong mọi x hội và mọi
thời đại, đó là tư cách của sinh vật tự nhiên
có ý thức, tư cách của con người là tế bào x
hội và tư cách là công dân của chính thể
Với tư cách thứ nhất, con người luôn
mang tư tưởng muốn liên kết thành khối
hoặc luôn muốn lập thành tổ chức Thế
nhưng, phải chăng bẩm sinh con người đ có
ý thức liên kết như John Locke nói hay vì
miếng ăn mà con người tụ tập lại để chống
kẻ khác như Hobbes trình bày trong "Levia Than" (Thủy Quái) Có lẽ đúng như nhiều triết gia khẳng định, sự sinh tồn về mọi mặt (vật chất và tinh thần) đ mách bảo con người tự nhiên gia nhập vào tổ chức x hội
và không thể phủ nhận quá trình xuất hiện quan hệ sở hữu về tài sản mà về sau đó là
động lực thúc đẩy sự ra đời của giai cấp, quốc gia và nhà nước Điều này đ được Ph.Ăngghen phân tích trong tác phẩm
"Nguồn gốc gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước"
Từ tư cách thứ nhất, con người không thể thiếu tư cách thứ hai, tư cách là tế bào x hội Chúng ta hiểu con người là tế bào x hội khi con người đ tham gia vào cơ sở nhỏ bé của x hội là gia đình và lớn hơn nữa là cộng
đồng sinh sống
Trong gia đình và cộng đồng, con người
đ không thể tự mình tồn tại được nếu không tham gia vào các quan hệ x hội Sự chia sẻ lợi ích với mọi người xung quanh tạo ra cho mỗi người sự ràng buộc nhất thiết
Với tư cách là công dân của chính thể, con người đ tự nhận cho mình những nghĩa
vụ đối với nhà nước và cộng đồng Tư cách công dân buộc con người phải thực hiện những chức năng mà x hội giao phó và con người yên tâm bởi cả cộng đồng x hội luôn
có mục đích bảo vệ lợi ích của mỗi người Tư cách của con người nhìn từ ba vị thế
K
* Đại học quốc gia Hà Nội
Trang 2cơ bản nêu trên có được tồn tại và hoàn thiện
hay không hoàn toàn phụ thuộc vào hệ thống
các quy tắc xử sự và nói như Montesquieu thì
hệ thống các quy tắc xử sử đó là cái tinh thần
(tinh thần quốc gia, dân tộc)
Gạt bỏ những biến dạng lạc hậu của cái
tinh thần nêu trên, các quy tắc dường như là
chuẩn mực của lối sống, của đời sống cá
nhân và toàn bộ x hội loài người Các quy
tắc mang tính chuẩn mực đó không phải thể
hiện một cách rời rạc theo các thời kì phát
triển của lịch sử loài người
Đời sống của x hội loài người từ thời kì
tiền sử cho đến ngày nay đ cho phép các
nhà nghiên cứu rút ra một số kết luận khoa
học về vai trò của hệ luân lí x hội, của giáo
lí và hệ thống pháp luật Con người đ và
đang nằm trong ba hệ thống xử sự đó
Với tư cách là động vật bậc cao có ý
thức, con người tách khỏi loài động vật bằng
luân lí trước khi có giáo lí và pháp lí Luân lí
là giá trị cao, đứng trên phẩm hạnh, nó có thể
được nhận biết qua hành vi cụ thể của con
người Con người có hành vi độ lượng, biết
nhường nhịn và chia sẻ, biết đồng cam cộng
khổ, biết thương yêu đồng loại; con người
phân biệt cái đúng, cái sai theo nghĩa chân,
thiện, mĩ; tính ác của con người chỉ trỗi dậy
(sống lại) nếu gặp phải hoàn cảnh khác biệt
Xét cho cùng, luân lí của con người là
giá trị tuyệt đối cao của nhận thức nhân bản
Luân lí mách bảo con người tự nhận biết
được hành vi của bản thân mình, tự nhận biết
được vị thế của mình trong cộng đồng người
và rất nhiều điều cần thiết Luân lí làm hạn
chế những xung đột cá nhân, xung đột dân
tộc và quốc gia Tình đồng loại như nguyên
căn của luân lí, góp phần kiến tạo nền hòa
bình và đời sống phồn thịnh
Tuy nhiên, luân lí từng được hiểu rất khác nhau: Platon đóng khung luân lí bằng bổn phận để giữ chặt trật tự các đẳng cấp là triết gia, vệ sĩ, bình dân trong chính thể hình chóp
Luân lí theo quan niệm của người Trung Hoa thời cổ đại chính là cái đức, đức của hai hạng người trong x hội là người quân tử và
kẻ tiểu nhân Khổng Tử (551 - 479 TCN) từng cho rằng: "Đức quân tử chi phong, đức tiểu nhân chi thảo" (Đức của người quân tử như ngọn gió, đức của kẻ tiểu nhân như ngọn
cỏ, câu nói này còn ẩn ý gió thổi ắt cỏ phải dạt xuống) Luân lí x hội đ toát lên qua tư duy của Khổng Tử là kẻ nói phải có người nghe, x hội phải có người trị và người bị trị, nhất nhất không khác được Là người hiểu
đạo Khổng nhất, Hàn Phi Tử (280 - 233 TCN) bác lại tinh thần chung của Khổng Tử
để nhấn mạnh rằng sự công bằng là nguyên căn của đời sống x hội Luân lí x hội, xét theo Hàn Phi Tử, là bảo đảm cho sự công bằng
Qua các thời kì tiếp theo của lịch sử loài người, luân lí x hội được nhìn nhận bằng nhiều hình thức Theo Kant, tạo hóa ban cho mỗi người một phẩm hạnh nhất định và luân
lí x hội là cộng lại những phẩm hạnh của các cá nhân; cái quan trọng nhất là sự tôn trọng phẩm hạnh của nhau chính đ tạo ra hệ luân lí cho toàn x hội Nhưng trên thực tế, ở rất nhiều nơi trên thế giới, tình trạng kẻ giàu, người nghèo vẫn còn tồn tại và những người hèn yếu về sức khỏe, về vật chất buộc phải chịu sự chi phối của kẻ khỏe mạnh và người giàu có
Loài người đ tiến hành nhiều cuộc cách mạng để bảo vệ luân lí x hội với nguyên căn
là tính nhân bản Các lí thuyết gia x hội đ
Trang 3đề ra nhiều phương châm thực hiện khẩu
hiệu tự do, bình đẳng và bác ái Luân lí x
hội, theo họ chính là sự bảo đảm cho tự do,
bình đẳng và bác ái X hội hiện đại đang
hoan nghênh và cố gắng thực hiện tinh thần
đó
Sự bất công x hội, sự đảo lộn những trật
tự và chuẩn mực luân lí và nhiều sự bất lực
khác trước vô vàn hiện tượng x hội và tự
nhiên đ đưa con người đến với giáo lí Giáo
lí không xuất hiện một cách tức thì, nó là kết
quả nhận thức của những quan niệm tín
ngưỡng Giáo lí là sự cụ thể hóa trên phương
diện lí thuyết nội dung của tôn giáo Nếu coi
giáo lí là những quy tắc xử sự mà các tín đồ
đ sống và hi vọng thì đương nhiên giáo lí
được sử dụng để điều chỉnh hành vi, tâm tư
và tình cảm của họ
Lịch sử sự xuất hiện các tôn giáo là sự
nối tiếp lịch sử các tín ngưỡng Tín ngưỡng
mang tính thần bí nhưng ở những mức độ
khác nhau, nó gắn với cuộc sống của con
người Sức mạnh các vị thần linh trong tín
ngưỡng chỉ là sức mạnh ảo nhưng đối với
những nhóm người nhất định, nó lại được coi
là tối thượng và thánh thiện
Cơ đốc giáo là một trong những tôn giáo
lớn xuất hiện vào đầu thiên niên kỉ I Giáo lí
Tân Ước đương nhiên đ kế thừa những giá
trị nội dung của giáo lí Cựu Ước Các tín đồ
của Cựu Ước coi thánh Moise là sức mạnh
toàn năng, các tín đồ Tân Ước coi Juse cũng
là bậc đức thánh thần Sự phát triển của giáo
lí Cựu Ước hay Tân Ước đều có chuẩn mực
nguyên căn đó là sức mạnh của đức cứu thế
Đạo Hồi, dù xuất hiện muộn hơn (thế kỉ
thứ VI - VII SCN) và giáo chủ Mohamed là
con người thật thì nội dung của giáo lí đạo
Hồi cũng thể hiện tư tưởng xuyên suốt về sức mạnh của đức thánh thần, sức mạnh ấy được trao lại cho các bậc tiên tri
ở phương Đông, Phật giáo là tôn giáo lớn Sức mạnh mà các tín đồ Phật giáo suốt
đời tin tưởng để dựa vào nó là cái tâm - sự huyền diệu của chân, thiện, mĩ Sự huyền diệu đó chính là đức từ bi
Nhiều nhà nghiên cứu đ không ít lần
đem ba tôn giáo nói trên để so sánh với nhau
Họ cố gắng đi tìm cái huyền diệu dẫn dắt con người với tư cách là tín đồ trong suốt cả cuộc đời Và họ đ tự nhận thấy rằng mọi giáo lí đều là sự răn dạy, được các tín độ chấp nhận tuân theo
Sự xuất hiện và phát triển các tổ chức x hội của loài người tất yếu sẽ dẫn đến sự ra
đời của nhà nước và song hành với nó là pháp luật Có rất nhiều cách luận giải khác nhau về các vấn đề pháp luật Nhưng tất cả
đều thống nhất rằng, pháp luật là hệ thống lớn nhất của các chuẩn mực cho hành vi xử
sự của con người
Như vậy, chúng ta thấy con người đơn lẻ
có thể cùng lúc đứng trong ba mối quan hệ luân lí, giáo lí, pháp lí Tùy từng mức độ khác nhau, đời sống của cá nhân con người
bị chi phối bởi ba mối quan hệ đó Vấn đề
đặt ra là liệu có thể có người chỉ bị chi phối bởi một mối quan hệ?
Câu trả lời ở đây là: Không! Sự hoàn mĩ
về phẩm hạnh của con người trong chế độ x hội hiện đại chỉ có thể đạt được khi anh ta bị chi phối bởi ít nhất là hai mối quan hệ, trong
đó quan hệ pháp luật giữ vai trò vô cùng quan trọng Nói như vậy có nghĩa là quan hệ pháp luật nảy sinh từ nhu cầu tất yếu của con người Không ít học giả đ thừa nhận chân lí
Trang 4mà Heraclite (530 - 470 TCN) nêu ra: "Pháp
luật là nơi nương tựa của con người" Chân lí
đó càng được hiện hữu hơn trong x hội pháp
quyền
Nếu thừa nhận như vậy thì nhất thiết
trước hết phải xác định vị trí quan hệ pháp
luật trong mối quan hệ giữa luân lí và giáo lí
Luân lí x hội cần được bảo đảm bằng sức
mạnh của các quy phạm pháp luật Có thể
lấy ví dụ đơn giản để minh họa cho luận cứ
này: Một kẻ ăn cắp tài sản của người khác để
làm của riêng mình Về phương diện luân lí
anh ta đ phạm vào điều tối kị là tham lam,
là gây hại cho lợi ích của kẻ khác Về
phương diện pháp luật anh ta mắc vào tội ăn
cắp, tội danh bị điều chỉnh bằng các chế tài
của luật hình sự Vậy thì trong trường hợp
này chế tài của luật hình lại chính là công cụ
để bảo vệ cái luân thường đạo lí Chế tài của
luật hình như răn dạy anh ta và ngăn ngừa
hành vi của kẻ khác trong việc xâm phạm
đến tài sản không phải của mình Có rất
nhiều ví dụ chứng minh rằng pháp luật càng
phát triển bao nhiêu, càng phù hợp với đời
sống x hội bao nhiêu thì càng hữu ích bấy
nhiêu trong việc giữ luân thường đạo lí
Giáo lí có mối quan hệ như thế nào với
pháp luật? Nếu không kể đến hệ thống giáo
lí như là thần luật của nhiều quốc gia dân tộc
từ trước tới nay thì chúng ta thấy trong nội
dung giáo lí cũng có những điểm giữ vai trò
như là quy tắc xử sự Trong kinh Coran của
người Hồi giáo, trong kinh thánh Cơ đốc
giáo, trong giáo lí Phật giáo luôn có sự răn
dạy con người chớ nên làm điều ác như
không trộm cắp, không vọng ngôn, không tà
dâm Giáo lí cũng dạy rằng con người với
con người phải biết thương yêu đùm bọc lẫn
nhau Mọi hành vi tội lỗi sẽ được coi là sự vi phạm, là làm lăng nhục Đức thánh thần và
đương nhiên sẽ bị trừng phạt một cách nghiêm khắc nhất Từ trong các hệ thống pháp luật của các quốc gia cổ đại chúng ta còn có thể thấy rất rõ tính tôn giáo của chúng, ví dụ: Trong Điều 167 của Bộ luật Hammurabi có ghi: " hy quẳng bị cáo xuống sông mà kẻ đó không bị chết đuối thì nguyên cáo phải bồi thường cho anh ta"
Điều luật này phản ánh nhận thức của người
cổ xưa về sức mạnh của thần linh Trong tình huống nói trên bị cáo được thần linh chứng giám là vô tội và do đó không bị trừng phạt Lịch sử phát triển của các hệ thống pháp luật cho thấy có sự ảnh hưởng của tôn giáo
đối với chúng
Việc xác định các yếu tố nào đan kết nên
hệ thống pháp luật giúp cho nó tương thích với sự phát triển của đời sống x hội giúp chúng ta rút ra được mối quan hệ giữa ít nhất
là hai phạm trù luân lí và pháp luật, giáo lí và pháp luật, vì con người không thể đứng trong mối quan hệ hệ độc lập, đơn nhất
Lâu nay, chắc chắn các nhà làm luật
đang cố gắng đi tìm sự tương thích tất yếu phải nảy sinh trong mối quan hệ luân lí - pháp lí, giáo lí - pháp lí
Nếu nói và khẳng định rằng hệ thống pháp luật của chúng ta ngày nay được xây dựng trên nền tảng của luân lí, của đạo đức
và thuần phong mĩ tục và truyền thống thì có nghĩa là chúng ta có quyền đòi hỏi pháp luật của chúng ta phản ánh tinh thần chung của
đạo đức dân tộc là tương thân tương ái, là công bằng x hội Sự phát triển của đời sống kinh tế, chính trị, x hội, văn hóa đòi hỏi các nhà làm luật không được xa rời cái tinh thần
Trang 5nói trên Cái gọi là sự "sòng phẳng" một cách
cứng nhắc không đồng nghĩa với sự tương
thân, tương ái về mặt ý nghĩa nhưng chắc
chắn sự công bằng x hội phải lấy tinh thần
tương thân, tương ái làm điểm tựa Tính nhân
văn cao của x hội hiện đại là ở chỗ đó
Nhiều người từng hoài nghi điều này Xu
hướng phân chia các quan hệ pháp luật thành
các loại và đi tìm những nét riêng của mỗi
loại như: Quan hệ pháp luật dân sự, kinh tế,
lao động, đất đai, môi trường, các quan hệ
pháp luật hành chính, pháp luật các đoàn thể,
quan hệ pháp luật hình sự, tố tụng hình sự
có những lí do và cũng mang lại những ý
nghĩa về mặt lí luận và thực tiễn Tuy nhiên,
thực tiễn cũng cho thấy những trường hợp
chỉ vì một lợi ích tài sản nhỏ nhoi, con người
có thể đâm chém lẫn nhau Vậy, người ta
đâm chém nhau trước chỉ vì lợi ích tài sản
nào đó đang chưa nhìn thấy hay do vì ngược
lại? Thiết nghĩ, cũng cần xem xét cả mối
quan hệ giữa luân lí và pháp luật Động cơ vì
sự sinh tồn của con người dù rằng có các
điểm xuất phát khác nhau, hành vi pháp luật
cũng khác nhau nhưng tựu chung con người
vẫn là con người
Về vai trò tôn giáo trong đời sống của
con người cũng có nhiều ý kiến khác nhau
Tuy nhiên, có những hiện tượng diễn ra trong
thực tiễn mà chúng ta chưa chú ý giải thích
Chẳng hạn, có kẻ ăn cắp đồ vật tế tự ở trong
chùa, chỉ sau thời gian ngắn anh ta bí mật
đem lại trả cho nhà chùa mà chưa hề biết
được rằng có bị tố giác hay không hoặc có
thương nhân hay trốn thuế và tìm mọi cách
để trốn thuế thường xuyên nhưng cứ đến
ngày mùng một âm lịch và ngày rằm anh ta
mang đến cho nhà chùa không ít tiền gọi là
công đức
Đường lối xây dựng, phát triển và hoàn thiện bộ máy nhà nước pháp quyền của Đảng
và Nhà nước cho thấy Đảng và Nhà nước ta
đang hướng đến việc hoàn thiện hệ thống pháp luật năng hoạt Tính năng hoạt của hệ thống pháp luật thể hiện sự tương thích của
nó đối với đời sống x hội Về vấn đề này
Đảng và Nhà nước đ lấy tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng, đó là tư tưởng nhân văn cao cả
Tư tưởng nhân văn của Bác đ đúc kết nên nội dung sâu sắc ngay từ trong Hiến pháp 1946 Hiến pháp 1946 ghi nhận hàng loạt các quyền cơ bản của công dân Việt Nam: Quyền bình đẳng về mọi phương diện chính trị, kinh tế, văn hóa; quyền tham gia chính quyền và công việc kiến quốc tùy theo tài năng và đức hạnh; quyền bình đẳng nam nữ; quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự
do tổ chức và hội họp, tự do tín ngưỡng; tự
do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài; quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, thư tín, quyền tư hữu tài sản tinh thần xuyên suốt của Hiến pháp 1946 là Nhà nước của dân, do dân, vì dân Hiến pháp 1992 là sự kế tiếp những giá trị lớn của Hiến pháp 1946 Xét cho cùng, nội dung của các quy phạm pháp luật không thể xa rời mục đích
đối tượng của nó là bảo vệ các lợi ích sống còn của con người và muốn bảo vệ lợi ích sống còn của con người thì phải coi con người là thực thể tự nhiên và x hội ở cả hai tư cách thực thể đó con người hiện đại sẽ phải khác hơn Và một lần nữa vấn đề con người trong mối quan hệ giữa luân lí, giáo lí
và pháp lí được đặt ra đòi hỏi phải được tiếp tục nghiên cứu một cách nghiêm túc để tìm
ra những giải pháp tương thích cho việc giải quyết mối quan hệ đó./