1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo "Tội giết con mới đẻ trong pháp luật hình sự Việt Nam " ppt

2 887 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 2
Dung lượng 51,74 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khoản 4 Điều 101 Bộ luật hình sự Việt Nam BLHS năm 1985 quy định: "Người mẹ nào do ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng lạc hậu hoặc trong hoàn cảnh khách quan đặc biệt mà giết con mới đẻ hoặc

Trang 1

nghiên cứu - trao đổi

Tạp chí luật học - 9

Tội giết con mới đẻ trong pháp luật hình sự việt nam

Phạm văn Báu * rong luật hình sự Việt Nam, tội giết

con mới đẻ được quy định và xét xử

khá sớm Năm 1963 Tòa án nhân dân

tối cao (TANDTC) đ8 tổng kết và có Chỉ

thị số 1/ NCCS ngày 14/3/1963 về xử lí tội

giết trẻ em sơ sinh Bản chuyên đề tổng kết

thực tiễn xét xử loại tội giết người kèm

theo Công văn số 452/HS2 ngày 10/8/1970

của TANDTC trong phần B điểm c -

Những tình tiết đặc biệt có tính chất giảm

nhẹ cũng xác nhận giết trẻ em mới đẻ là

phạm tội giết người có tình tiết giảm nhẹ

đặc biệt đồng thời cụ thể hóa các dấu hiệu

của trường hợp phạm tội này Trong các

văn bản trên chỉ nói đến hành vi giết trẻ

em mới đẻ là tội phạm mà không nói đến

hành vi vứt bỏ con mới đẻ Khoản 4 Điều

101 Bộ luật hình sự Việt Nam (BLHS)

năm 1985 quy định: "Người mẹ nào do

ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng lạc hậu

hoặc trong hoàn cảnh khách quan đặc biệt

mà giết con mới đẻ hoặc vứt bỏ con mới đẻ

dẫn đến hậu quả đứa trẻ chết " Theo quy

định này không chỉ hành vi giết con mới

đẻ mà cả hành vi vứt bỏ con mới đẻ cũng

là tội phạm và bị xử lí theo khoản 4 Điều

101 BLHS với tội danh - tội giết người nếu

thỏa m8n các dấu hiệu mà điều luật này

quy định Với quy định như vậy thì không

có sự phân biệt giữa hành vi giết con mới

đẻ và hành vi vứt con mới đẻ bởi chữ

"giết" hay "vứt bỏ" đều có cùng một tội

danh - tội giết người mà cụ thể hơn là tội

giết con mới đẻ Thực hiện nguyên tắc cá

thể hóa trách nhiệm hình sự và hình phạt,

những điều cấm của pháp luật hình sự phải

được quy định rất rõ ràng trong luật và

phải có sự phân hóa các hành vi phạm tội

có tính nguy hiểm cho x8 hội và quy định

chúng là các tội phạm khác nhau với các

khung hình phạt riêng BLHS năm 1999 đ8 tách trường hợp giết con mới đẻ hoặc vứt con mới đẻ thành điều luật riêng với tên tội danh là tội giết con mới đẻ (Điều 94) So với quy định về tội này trong khoản 4 Điều

101 BLHS 1985, quy định ở Điều 94 về tội này không có sự khác biệt, chỉ có thay đổi nhỏ về câu chữ và mức hình phạt

Song nghiên cứu điều luật mới của BLHS năm 1999 với tên tội danh - tội giết con mới đẻ, chúng tôi thấy có vấn đề cần trao đổi Điều 94 quy định "người mẹ nào do mà giết con mới đẻ hoặc vứt bỏ đứa trẻ đó " Như vậy, có hai dạng hành vi bị coi là hành vi phạm tội - hành vi giết con mới đẻ và hành vi vứt bỏ con mới đẻ và người mẹ nào dù có hành vi giết con mới

đẻ hoặc có hành vi vứt bỏ con mới đẻ đều

bị xét xử về cùng tội danh - tội giết con mới đẻ rõ ràng là không ổn, là không chính xác Hành vi giết con mới đẻ và hành vi vứt bỏ con mới đẻ là hai loại hành

vi khác nhau và vì nó có khác nhau nên nhà làm luật mới có sự phân biệt chúng ngay trong quy định của điều luật "người

mẹ nào mà giết con mới đẻ hoặc vứt bỏ

đứa trẻ đó " Sự khác nhau này tương tự với sự khác nhau của các hành vi được quy

định trong Điều 101 BLHS năm 1999

"người nào xúi giục làm người khác tự sát hoặc giúp người khác tự sát " nhưng hành

vi xúi giục và hành vi giúp người khác tự sát được luật quy định là hai tội phạm khác nhau ngay trong tên gọi của Điều 101- tội xúi giục hoặc giúp người khác tự sát Hành

vi giết con mới đẻ hoặc vứt bỏ con mới đẻ không chỉ khác nhau ở chính các hành vi này mà còn khác nhau cả về hình thức thực

* Giảng viên Khoa tư pháp Trường đại học luật Hà Nội

T

Trang 2

nghiên cứu - trao đổi

10 - Tạp chí luật học

hiện hành vi và lỗi của người thực hiện các

hành vi ấy Nhưng hiện nay chưa có sự

phân biệt rành mạch hai trường hợp phạm

tội này của các cơ quan xét xử cũng như

trong các tài liệu giảng dạy luật hình sự

Điều đó dẫn đến nhận thức không thống

nhất về các trường hợp này Theo quy định

của luật, hành vi giết con mới đẻ về khách

quan có thể là hành động hoặc không hành

động, hậu quả có thể đứa trẻ chết hoặc

không chết và về chủ quan thường là do lỗi

cố ý trực tiếp và cá biệt có thể do lỗi cố ý

gián tiếp Hành vi vứt bỏ con mới đẻ về

khách quan có thể là hành động hoặc

không hành động, hành vi đó phải dẫn đến

hậu quả đứa trẻ chết và về chủ quan chỉ có

thể là do lỗi cố ý gián tiếp chứ không thể

là do lỗi cố ý trực tiếp được Nếu vứt bỏ

con mới đẻ và mong muốn đứa trẻ chết (cố

ý trực tiếp) phải coi đó là hành vi giết con

mới đẻ Thực tiễn cho thấy đa số các

trường hợp vứt bỏ con mới đẻ do ảnh

hưởng nặng nề của tư tưởng lạc hậu hoặc

trong hoàn cảnh khách quan đặc biệt khác

người mẹ không mong muốn con mình

chết mà mong muốn đứa trẻ đó sống, đứa

trẻ đó được người khác nhặt về nuôi dưỡng

nên đ8 vứt bỏ con của mình nơi cửa chùa,

cổng bệnh viện, cổng nhà người khác và

thực tế đứa trẻ đó không bị chết Từ sự

khác nhau như vậy nên việc xác định tội

danh của các hành vi giết con mới đẻ hoặc

vứt bỏ con mới đẻ cũng có sự khác nhau

Trong trường hợp giết con mới đẻ có

hậu quả là đứa trẻ chết xảy ra thì dù lỗi

của người phạm tội là cố ý trực tiếp hay cố

ý gián tiếp cũng không ảnh hưởng đến việc

định tội danh - tội giết con mới đẻ Trong

trường hợp đứa trẻ không chết cần phân

biệt: Nếu lỗi của người phạm tội là cố ý

trực tiếp thì người phạm tội phải chịu trách

nhiệm hình sự về tội giết con mới đẻ và

thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt; nếu

lỗi của người phạm tội là cố ý gián tiếp thì

người phạm tội chỉ có thể phải chịu trách

nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích

hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người

khác (nếu họ gây ra hậu quả thương tích hoặc tổn hại cho sức khoẻ của đứa trẻ đủ mức cấu thành tội này)

Trong trường hợp vứt bỏ con mới đẻ do lỗi cố ý gián tiếp nên chỉ bị coi là tội phạm

và là tội phạm hoàn thành khi có hậu quả

đứa trẻ chết Nếu không dẫn đến hậu quả

đứa trẻ chết thì không bị coi là có tội và cũng không bị coi là phạm tội chưa đạt Trên đây là một số suy nghĩ của chúng tôi

về sự khác nhau giữa hai trường hợp giết con mới đẻ và vứt bỏ con mới đẻ Do vậy, cần phải có sự phân biệt hai loại hành vi phạm tội này ngay trong luật và giải thích luật để vừa

đáp ứng được đòi hỏi của nguyên tắc phân hóa các hành vi phạm tội, vừa bảo đảm tính khách quan, chính xác của pháp luật hình sự cũng như thực tiễn xét xử Như vậy, cần phải quy định trong luật hình sự hành vi giết con mới đẻ hoặc vứt bỏ con mới đẻ của người mẹ

do ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng lạc hậu hoặc trong hoàn cảnh đặc biệt là những tội phạm độc lập theo một trong hai hướng sau

đây:

- Tách các hành vi giết con mới đẻ và vứt bỏ con mới đẻ ra thành những tội phạm

độc lập và quy định chúng trong các điều luật riêng

- Bổ sung vào tên tội danh ở Điều 94 BLHS năm 1999 - tội giết con mới đẻ ba chữ "hoặc vứt bỏ" như sau: Tội giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ Hoặc thêm cả cụm từ

"hoặc vứt bỏ con mới đẻ" sau cụm từ tội giết con mới đẻ như sau: Tội giết con mới

đẻ hoặc vứt bỏ con mới đẻ

Với quy định như vậy các hành vi sẽ có tội danh riêng phù hợp với phần quy định của điều luật và trong thực tế hành vi giết con mới đẻ sẽ có tội danh là tội giết con mới đẻ, hành vi vứt bỏ con mới đẻ sẽ có tội danh là tội vứt bỏ con mới đẻ nếu thỏa m8n các dấu hiệu khác mà các cấu thành tội phạm này đòi hỏi./

Ngày đăng: 31/03/2014, 09:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w