Vì tính chất pháp lí của án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện nên nghĩa vụ pháp lí riêng biệt luật định trong thời gian thử thách cho người phạm tội được hưởng á
Trang 1Điều kiện thử thách của án treo
và hậu quả pháp lí của việc vi phạm
điều kiện thử thách của án treo theo luật hình sự Việt Nam
ThS Phạm Thị bích Học *
ục đích áp dụng án treo là thông
qua việc ấn định thời gian thử
thách, đặt ra nghĩa vụ pháp lí riêng
biệt nhằm để cải tạo, giáo dục và răn đe
người phạm tội Đồng thời cũng để kiểm
tra sự đúng đắn của bản án mà tòa án đ5
tuyên cho hưởng án treo đối với người bị
phạt tù Vì tính chất pháp lí của án treo là
biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có
điều kiện nên nghĩa vụ pháp lí riêng biệt
luật định trong thời gian thử thách cho
người phạm tội được hưởng án treo chính
là điều kiện thử thách của án treo
Nội dung điều kiện thử thách của án
treo là thước đo về mặt pháp lí tính tích
cực cải tạo, giáo dục của người được
hưởng án treo trong môi trường x5 hội
Nếu tuân thủ một cách nghiêm túc điều
kiện này, người phạm tội sẽ được miễn
vĩnh viễn việc chấp hành hình phạt tù
Ngược lại, phải chịu hậu quả pháp lí xấu
nếu họ vi phạm điều kiện thử thách Song,
điều kiện cụ thể thế nào, hậu quả pháp lí
cụ thể của việc vi phạm điều kiện thử
thách của án treo ra sao, ở nước ta luật
hình sự quy định cũng khác nhau trong
từng thời kì
1 Điều kiện thử thách của án treo
a Thời kì trước khi có Bộ luật hình sự
(BLHS)
Trước đây, điều kiện thử thách của án
treo được quy định tại Điều 10 Sắc lệnh
số 21/SL ngày 14/2/1946 là: "Nếu trong 5
năm bắt đầu từ ngày tuyên án, tội nhân không bị tòa án quân sự làm tội một lần nữa về một việc mới thì bản án đ8 tuyên
sẽ hủy đi, coi như không có"(1) Theo điều luật này, không bị "làm tội một lần nữa
về một việc mới" có nghĩa là không phạm bất cứ tội mới nào trong thời gian thử thách Vì vậy, nếu tuân thủ điều kiện này của án treo, người đ5 phạm tội đó được miễn vĩnh viễn việc chấp hành hình phạt
tù và coi như chưa có tiền án
Khi Thông tư số 2308/NCPL ngày 1/12/1961 của Tòa án nhân dân tối cao ra
đời thì điều kiện thử thách của án treo
được xác định là không phạm tội mới cùng tính chất hoặc nặng hơn tội cũ trong thời gian thử thách của án treo Không vi phạm điều kiện này thì hết thời gian thử thách, người phạm tội được miễn vĩnh viễn việc chấp hành hình phạt tù đ5 tuyên, cụ thể là:
"Nếu hết thời gian thử thách mà người
bị phạt án treo không phạm tội gì mới thì
sẽ coi như không có tiền án Nếu phạm tội mới không cùng tính chất và nhẹ hơn tội cũ thì hết thời gian thử thách, bản án treo cũ cũng vĩnh viễn không phải chấp hành nữa"(2)
Theo chúng tôi, hướng dẫn này trái với quy định tại Điều 10 Sắc lệnh số 21/SL nêu trên
M
* Giảng viên Khoa tư pháp Trường Đại học luật Hà Nội
Trang 2b Từ khi BLHS được ban hành
Tại khoản 5 Điều 44 BLHS (chưa sửa
đổi, bổ sung) về điều kiện thử thách của
án treo, nhà làm luật chỉ trực tiếp quy
định sự vi phạm nghĩa vụ pháp lí phát
sinh trong thời gian thử thách là: "Nếu
trong thời gian thử thách, người bị án
treo phạm tội mới và bị xử phạt tù".Với
quy định này có thể nhận thấy điều kiện
thử thách của án treo là người bị án treo
không được phạm tội mới và bị xử phạt tù
trong thời gian thử thách
Như vậy, trong thời kì này, BLHS quy
định không phạm tội mới và bị xử phạt tù,
không phân biệt tội phạm mới này cố ý
hay vô ý, phạm tội mới cùng tính chất
hay không cùng tính chất, tội mới nặng
hay nhẹ như hướng dẫn của Tòa án nhân
dân tối cao trước đây Tuy vậy, việc quy
định trên cũng chưa đáp ứng với yêu cầu
nâng cao tác dụng giáo dục và phòng
ngừa của án treo Điều này đòi hỏi phải
sửa đổi điều kiện thử thách của án treo
trong BLHS cho phù hợp hơn với đòi hỏi
thực tế khách quan của cuộc đấu tranh
phòng và chống tội phạm
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
BLHS do Quốc hội thông qua ngày
28/12/1989 đ5 sửa đổi khoản 5 Điều 44
như sau: "Nếu trong thời gian thử thách,
người bị án treo phạm tội mới do vô ý và
bị phạt tù hoặc phạm tội mới do cố ý thì
tòa án bắt buộc phải chấp hành hình phạt
của bản án trước" Quy định này có
hiệu lực từ ngày 2/1/1990 cho đến nay
Có thể nhận thấy rằng điều kiện thử
thách đối với người được hưởng án treo
được quy định trong BLHS từ ngày
2/1/1990 trở đi là không được phạm tội
mới do cố ý; đối với trường hợp phạm tội
mới do vô ý thì phải không bị xử phạt tù
Nếu không vi phạm điều kiện này, người
bị kết án được miễn vĩnh viễn việc chấp
hành hình phạt tù của bản án được hưởng
án treo
So với điều kiện thử thách án treo trước khi ban hành BLHS thì phạm vi nghĩa vụ pháp lí có tính răn đe người phạm tội được quy định tại Điều 10 Sắc lệnh số 21/SL ngày 14/2/1946 nghiêm khắc hơn hay nói cách khác là đối tượng
áp dụng rộng hơn so với quy định tại khoản 5 Điều 44 BLHS chưa được sửa
đổi Nếu so sánh khoản 5 Điều 44 BLHS (chưa được sửa đổi bổ sung) và khoản 5
Điều 44 BLHS đ5 được bổ sung chúng ta
dễ nhận thấy rằng quy định tại khoản 5
Điều 44 BLHS đ5 được sửa đổi nghiêm khắc hơn hay nói cách khác, đối tượng áp dụng rộng hơn Tuy nhiên, xét yêu cầu của cuộc đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm thì quy định điều kiện thử thách của án treo hiện nay chưa thật đầy đủ Do vậy, chúng tôi đề nghị cần phải sửa lại khoản 5 Điều 44 BLHS bằng việc xóa cụm từ “do vô ý và bị phạt tù hoặc phạm tội mới do cố ý” Ngoài ra cũng cần quy
định thêm nghĩa vụ pháp lí bắt buộc khác Bởi lẽ, ý nghĩa thiết thực nhất đối với sự cải tạo của người bị án treo trong thời gian thử thách là ngoài việc tuân thủ các nghĩa vụ pháp lí có tính răn đe, quy định tại khoản 5 Điều 44 BLHS thì cũng nên
có nghĩa vụ pháp lí buộc phải thực hiện
được đặt ra trong BLHS
Nghĩa vụ này vừa đảm bảo cho bị cáo
tự cải tạo trong môi trường x5 hội, vừa phải chịu sự giám sát, sự tác động giáo dục của cộng đồng Trên cơ sở tham khảo luật hình sự một số nước, chúng tôi xin đề xuất nên có thêm một khoản tại Điều 44 BLHS quy định các nghĩa vụ pháp lí phải thực hiện trong thời gian thử thách này, bao gồm:
- Phải tuân thủ các biện pháp giám sát của cơ quan nhà nước hoặc tổ chức x5 hội
được tòa án giao trách nhiệm này;
Trang 3- Phải cư trú ở một nơi xác định;
- Phải thực hiện nghĩa vụ lao động
hoặc làm việc theo nghề nghiệp của mình
hoặc theo học nghề và phải chứng minh
trước cơ quan hoặc tổ chức có trách
nhiệm giám sát, giáo dục về việc thực
hiện nghĩa vụ này một cách tích cực, hợp
pháp;
- Phải chứng minh đ5 đóng góp vào
trách nhiệm gia đình hoặc làm đầy đủ các
nghĩa vụ cấp dưỡng (nếu có);
- Phải chứng minh rằng mình đ5 bồi
thường những thiệt hại theo quyết định
trong bản án xét xử về hình sự hay bản án
hoặc quyết định dân sự khác (nếu có);
- Phải chứng minh rằng mình đ5 thanh
toán các khoản nợ với nhà nước (nếu có);
- Phải báo trước cho cơ quan hoặc tổ
chức được giao quyền giám sát, giáo dục
về những thay đổi chỗ ở hoặc nghề
nghiệp của mình;
- Cấm tham gia vào các hoạt động vi
phạm trật tự công cộng, các hoạt động tệ
nạn x5 hội
Đồng thời cần quy định thêm: Trường
hợp người bị án treo vi phạm có hệ thống
những nghĩa vụ pháp lí phải thực hiện
trong thời gian thử thách thì theo đề nghị
của cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giám
sát, giáo dục, tòa án ra quyết định hủy
biện pháp áp dụng án treo và buộc người
này phải chấp hành toàn bộ hình phạt tù
đ5 tuyên cho hưởng án treo trước đây
2 Hậu quả pháp lí của việc vi phạm
điều kiện thử thách của án treo
Khi người bị kết án tù được hưởng án
treo vi phạm điều kiện do pháp luật quy
định trong thời gian thử thách, họ phải
chịu hậu quả pháp lí bất lợi cho mình
Những hậu quả pháp lí cụ thể, trong từng
thời kì, được pháp luật hình sự của Nhà
nước ta quy định cũng không giống nhau
a Thời kì trước khi có BLHS
Trước khi có BLHS, hậu quả pháp lí
đối với người bị phạt tù được hưởng án treo vi phạm điều kiện thử thách được quy định tại Điều 10 Sắc lệnh số 21/SL ngày 14/2/1946: "Nếu trong 5 năm ấy, tội nhân bị kết án một lần nữa trước một tòa
án quân sự thì bản án treo sẽ đem thi hành" Cụ thể: Khi tội phạm mới bị đưa
ra xét xử, không bị phạt tù, người phạm tội đồng thời phải chấp hành hai bản án (trường hợp tội phạm mới có hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù) Nếu tội phạm mới
bị xử phạt tù thì phải tổng hợp với hình phạt của bản án cũ
Đến khi có hướng dẫn tại Thông tư số 2308/NCPL ngày 01/12/1961 thì hậu quả pháp lí của người phạm tội được hưởng
án treo vi phạm điều kiện thử thách của
án treo đ5 có những thay đổi căn bản:
"Nếu trong thời gian thử thách, người
được hưởng án treo lại phạm tội mới cùng tính chất hoặc nặng hơn tội cũ, tòa án sẽ cộng một phần hay toàn bộ hình phạt cũ vào hình phạt mới để chấp hành"(3) Quan niệm trong văn bản hướng dẫn này là nếu người bị phạt tù nhưng được hưởng án treo trong thời gian thử thách phạm tội mới cùng tính chất hoặc phạm tội mới nặng hơn, chứng tỏ là kẻ phạm tội mặc dù đ5 được giáo dục nhưng không tiếp thu sự giáo dục, không chịu cải tạo
để trở thành người lương thiện Do đó, trong những trường hợp này, tòa án mới bắt phải chấp hành một phần hoặc toàn
bộ hình phạt của bản án cũ Quyết định bắt chấp hành một phần hay toàn bộ hình phạt của bản án cũ là tùy thuộc từng trường hợp "linh hoạt" của tòa án Tuy nhiên, đối với can phạm rõ ràng là không chịu sửa chữa, cố tình coi thường pháp luật thì phải cộng toàn bộ án cũ vào án mới
Đối chiếu với Sắc lệnh số 21/SL ngày 14/2/1946 thì sự hướng dẫn trên của Tòa
Trang 4án nhân dân tối cao là không phù hợp với
quy định về hậu quả pháp lí của việc
phạm tội trong thời gian thử thách của án
treo tại Điều 10 của Sắc lệnh này Tuy
vậy, văn bản hướng dẫn này vẫn tồn tại
trong suốt quá trình xét xử của tòa án
trước khi BLHS năm 1985 được ban
hành Chúng tôi cho rằng, Điều 10 Sắc
lệnh số 21/SL quy định bắt chấp hành
toàn bộ hình phạt của bản án cũ khi người
bị án treo phạm bất kì tội mới nào trong
thời gian thử thách là phù hợp với yêu cầu
phòng ngừa tội phạm của chế định án treo
trong thời gian đó
b Từ khi BLHS được ban hành
Từ ngày 1/1/1986 (ngày BLHS năm
1985 có hiệu lực) đến ngày 2/1/1990
(ngày Luật sửa đổi, bổ sung một số điều
của BLHS được Quốc hội nước Cộng hòa
x5 hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua
ngày 28/12/1989 được công bố) thì: "Nếu
trong thời gian thử thách, người bị án
treo phạm tội mới và bị xử phạt tù thì tòa
án quyết định buộc phải chấp hành hình
phạt của bản án trước và tổng hợp với
hình phạt của bản án mới theo quy định ở
khoản 2 Điều 42" (khoản 5 Điều 44
BLHS chưa được sửa đổi)
Sự vi phạm điều kiện thử thách của án
treo dẫn đến hậu quả pháp lí là người bị
kết án phải chấp hành toàn bộ hình phạt
của bản án cũ và tổng hợp với hình phạt
của bản án mới theo nguyên tắc tổng hợp
hình phạt khi có nhiều bản án tại khoản 2
Điều 42 BLHS
Theo quy định tại khoản 2 Điều 42
BLHS thì: "Khi xét xử một người đang
phải chấp hành một bản án mà lại phạm
tội mới, tòa án quyết định hình phạt đối
với tội mới, sau đó cộng với phần hình
phạt chưa chấp hành của bản án trước
rồi quyết định hình phạt chung Hình
phạt chung không được vượt mức cao
nhất mà luật quy định cho loại hình phạt
đ8 tuyên" Tuy nhiên, trong thực tiễn xét
xử ở các cấp tòa án, việc hiểu và vận dụng quy định này chưa thống nhất, nhiều khi tổng hợp chưa đúng với quy
định của pháp luật, như áp dụng cách cộng "thu hút" để quyết định chỉ bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản
án mới
Từ tình hình thực tế đó, Tòa án nhân dân tối cao đ5 ra Thông tư số 01/NCPL ngày 6/4/1988 hướng dẫn bổ sung về án treo theo Điều 44 BLHS Về phần này, Thông tư số 01/NCPL đ5 hướng dẫn cụ thể như sau: "Những trường hợp tòa án
đ8 tổng hợp hình phạt của hai bản án (án treo phải chấp hành hình phạt tù và án tù mới) nhưng chỉ bắt chấp hành mức án của bản án mới trong khi hình phạt chung không vượt mức cao nhất mà luật quy
định cho loại hình phạt đ8 tuyên là trái pháp luật và làm cho án treo mất hết ý nghĩa của nó Vì vậy, phải cộng toàn bộ mức hình phạt của hai bản án và quyết
định hình phạt chung theo tinh thần của khoản 5 Điều 44 và khoản 2 Điều 42 BLHS Nếu bị cáo đ8 bị tam giam thì thời gian tạm giam của tội cũ cũng như thời gian tạm giam của tội mới được trừ vào thời gian phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án"(4)
Chúng tôi cho rằng văn bản hướng dẫn trên đây vẫn có điểm chưa phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 42 BLHS vì chưa có sự phân biệt được thời gian tạm giam của bản án cũ với thời gian tạm giam của bản án đối với tội mới Cho nên, quan điểm của Tòa án nhân dân tối cao lại cho là đều "được trừ vào thời gian phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án"(5) Vấn đề này lại được khẳng
định tiếp tại Nghị quyết số 01/HĐTP
Trang 5ngày 18/10/1990 của Hội đồng thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao là: "Nếu họ
đ8 bị tạm giam thì thời gian tạm giam về
tội cũ cũng như thời gian tạm giam về tội
mới được khấu trừ vào thời hạn chấp
hành hình phạt tù" Theo quy định tại
khoản 2 Điều 42 BLHS thì chỉ lấy phần
hình phạt chưa chấp hành của bản án cũ
để tổng hợp với hình phạt của bản án đối
với tội mới Như vậy, chỉ khi bị cáo đ5 bị
tạm giam đối với tội mới thì thời gian tạm
giam này mới được trừ vào thời gian chấp
hành hình phạt chung (hình phạt tổng
hợp), còn trường hợp thời gian tạm giam
của tội cũ phải được trừ vào hình phạt đối
với bản án của tội cũ trước khi tổng hợp
Thực tiễn xét xử của tòa án trong
nhiều năm qua cũng cho thấy có nhiều
trường hợp người phạm nhiều tội nhưng
tội phạm thực hiện sau lại bị xét xử trước,
tội phạm được thực hiện trước lại bị xét
xử sau và khi xét xử lần sau, tòa án có thể
biết hoặc không biết có bản trước Theo
quy định tại Điều 44 BLHS, trường hợp
này không phải là vi phạm điều kiện thử
thách của án treo mặc dù bản án xét xử
lần sau trong thời gian thử thách của án
treo (trường hợp bản án xử lần trước đ5
cho hưởng án treo) Trường hợp này cũng
đ5 được hướng dẫn tại Nghị quyết số
01/HĐTP ngày 18/10/1990 của Hội đồng
thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao với
tinh thần là: "Nếu trong thời gian thử
thách, họ bị phạt tù về tội đ8 thực hiện
trước khi bị phạt tù và được hưởng án
treo thì tùy trường hợp tòa án có thể cho
hoặc không cho hưởng án treo một lần
nữa Nếu cho người bị kết án được
hưởng án treo một lần nữa thì tòa án tổng
hợp hình phạt tù của hai bản án và ấn
định thời gian thử thách chung của hai
bản án Trong trường hợp này cần chú ý
là chỉ khi hình phạt chung của hai bản án
không vượt quá 5 năm tù (hiện nay đ5 sửa
đổi không quá 3 năm tù - TG) thì mới cho hưởng án treo và thời gian thử thách chung không dưới 1 năm, không được quá
5 năm"(6) Với những hướng dẫn trên, chúng tôi thấy rằng khi một người bị tòa án xét xử lần sau về tội phạm thực hiện trước và có biết bản án xét xử lần trước thì không thể cho người đó hưởng án treo một lần nữa vì với đặc điểm phạm tội này, theo yêu cầu phòng ngừa, tòa án coi đây là tình tiết
đặc biệt xấu của nhân thân người phạm tội Vì như vậy sẽ làm cho bản án có sức thuyết phục hơn và chế định án treo mới thể hiện được tính nghiêm túc mà vẫn không mất đi tinh thần nhân đạo x5 hội chủ nghĩa
Tóm lại, điều kiện thử thách của án treo và hậu quả pháp lí của người bị án treo vi phạm điều kiện này trong thời gian thử thách có ý nghĩa thiết thực răn đe và cải tạo người phạm tội, khơi dậy ở họ ý chí quyết tâm hối cải thành người lương thiện Để làm được điều đó, đối chiếu với quy định của pháp luật hiện nay còn có nhiều điểm chưa phù hợp, cần phải được xem xét lại một cách nghiêm túc trong lần sửa đổi này./
(1).Xem: Hệ thống hóa luật lệ về hình sự; tập 1, TANDTC 1975, tr.119
(2).Xem: Hệ thống hóa luật lệ về hình sự, Sđd, tr.127 (3).Xem: Hệ thống hóa luật lệ về hình sự, Sđd, tr.125 (4).Xem: Hệ thống các văn bản cần thiết cho công tác kiểm sát, tập 1 năm 1991, tr.230 - 231
(5).Xem: Hệ thống hóa luật lệ về hình sự, Sđd, tr.26 (6).Xem: Hệ thống hóa các văn bản cần thiết cho công tác kiểm sát, Sđd, tr.253