1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo "Cơ sở pháp lý của quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự " pptx

3 474 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 3
Dung lượng 72,78 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luật tố tụng dân sự quy định cách thức, trình tự tố tụng để giải quyết quan hệ pháp luật về nội dung đang bị tranh chấp hay vi phạm hoặc giải quyết yêu cầu của đương sự theo quy định của

Trang 1

tạp chí luật học - 37

cơ sở pháp lí của quyền tự định đoạt của đương sự

ghiên cứu quyền tự định đoạt của

đương sự trong tố tụng dân sự, trước

hết cần nghiên cứu cơ sở x$ hội và cơ

sở pháp lí của việc pháp luật quy định

quyền tự định đoạt của đương sự Trong

phạm vi bài viết này, chúng tôi chỉ xin đề

cập cơ sở pháp lí của những quy định của

pháp luật về quyền tự định đoạt của đương

sự trong tố tụng dân sự

Trong khoa học pháp lí, luật tố tụng dân

sự là luật hình thức, là cơ chế bảo đảm của

luật nội dung(1) Luật tố tụng dân sự quy

định cách thức, trình tự tố tụng để giải quyết

quan hệ pháp luật về nội dung đang bị tranh

chấp hay vi phạm hoặc giải quyết yêu cầu

của đương sự theo quy định của pháp luật

để bảo vệ quyền về dân sự, về hôn nhân và

gia đình mà luật nội dung đ$ quy định Như

vậy, quyền tự định đoạt của đương sự trong

tố tụng dân sự có cơ sở về nội dung của nó

là quy phạm pháp luật dân sự, hôn nhân và

gia đình

Lời nói đầu của Bộ luật dân sự được

Quốc hội khóa IX kì họp thứ VIII thông qua

ngày 28/11/1995 đ$ nêu rõ: “Pháp luật dân

sự Việt Nam là công cụ pháp lí thúc đẩy

giao lưu dân sự, tạo môi trường thuận lợi

cho sự phát triển kinh tế - x+ hội của đất

nước” “Bộ luật dân sự có vị trí quan trọng

trong hệ thống pháp luật nước nhà, tạo cơ

sở pháp lí nhằm tiếp tục giải phóng mọi

năng lực sản xuất, phát huy dân chủ, bảo

đảm công bằng x+ hội, quyền con người về

dân sự” Đương sự là chủ thể của quan hệ

pháp luật nội dung Các chủ thể theo quy định của pháp luật có quyền tham gia vào các quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình, những quan hệ pháp luật đó được ghi nhận và bảo đảm thực hiện Luật nội dung có nhiệm vụ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, bảo đảm sự bình

đẳng và an toàn pháp lí trong quan hệ pháp luật dân sự, góp phần tạo điều kiện đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - x$ hội Luật nội dung quy định địa vị pháp lí của các chủ thể, khi tham gia vào các quan hệ x$ hội do luật đó điều chỉnh; quy định quyền, nghĩa vụ của các chủ thể trong các quan hệ về tài sản, quan hệ nhân thân, trong giao lưu dân sự Luật cũng quy

định các chuẩn mực pháp lí cho cách ứng xử của các chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự

Các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình là những quan hệ đa dạng và phong phú, nó tác động đến mọi mặt của đời sống x$ hội Vì vậy, việc ứng

xử của chủ thể trong những quan hệ đó vô cùng phức tạp và đa dạng Quy phạm pháp luật nội dung tạo ra khả năng cho phép chủ thể tham gia quan

hệ pháp luật đó được hưởng quyền mà luật quy định Điều 9 Bộ luật dân sự

N

* Ban tổ chức cán bộ Chính phủ

Trang 2

38 - tạp chí luật học

quy định: “Trong quan hệ dân sự, các bên

phải thiện chí, trung thực, không chỉ quan

tâm, chăm lo đến quyền, lợi ích hợp pháp

của mình mà còn phải tôn trọng, quan tâm

đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng,

quyền, lợi ích hợp pháp của người khác,

giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau thực hiện

quyền, nghĩa vụ dân sự, không bên nào

được lừa dối bên nào; nếu một bên cho rằng

bên kia không trung thực thì phải có chứng

cứ” Như vậy, trong quan hệ dân sự đòi hỏi

của pháp luật là các bên khi tham gia quan

hệ phải đảm bảo sự thiện chí, trung thực

chăm lo đến lợi ích của mình nhưng đồng

thời phải chăm lo đến quyền và lợi ích của

người khác Đó là một trong những nguyên

tắc mà luật dân sự quy định, là sự đòi hỏi

của pháp luật đối với các chủ thể khi tham

gia quan hệ pháp luật dân sự

Các quy phạm pháp luật dân sự còn tạo

ra cho các chủ thể khả năng tự định đoạt

Khi chủ thể tham gia vào các quan hệ dân

sự thì bản thân chủ thể bằng hành vi của

mình, tự quyết định mọi vấn đề về nội dung

trong quan hệ pháp luật mà mình đ$ tham

gia Trong luật dân sự, các quy phạm pháp

luật tùy nghi tạo ra cho các chủ thể khả

năng tự lựa chọn, thỏa thuận và chỉ trong

trường hợp không có thỏa thuận thì nghĩa vụ

dân sự được xác định bởi quy định của pháp

luật Ví dụ: Điều 426 Bộ luật dân sự quy

định về địa điểm giao tài sản như sau: “Các

bên thỏa thuận về địa điểm giao tài sản;

nếu không có thỏa thuận thì áp dụng quy

định tại Điều 289 của Bộ luật này”

Quyền tự định đoạt các chủ thể trong

quan hệ pháp luật dân sự có liên quan chặt

chẽ với quy phạm pháp luật bảo đảm quyền

tự do lựa chọn mà chủ thể tham gia quan hệ

được sử dụng trong cách ứng xử của mình

Ví dụ: Khoản 1 Điều 312 BLDS quy định:

“Trong trường hợp người có nghĩa vụ không

thực hiện một công việc phải làm thì người

có quyền có thể tự mình làm hoặc giao người khác làm công việc đó và yêu cầu người có nghĩa vụ thanh toán mọi chi phí và bồi thường thiệt hại” Như vậy, theo quy định trên bản thân chủ thể quan hệ pháp luật dân sự trong trường hợp này được tùy ý lựa chọn cách ứng xử của mình, họ có thể “tự mình làm” hay cũng có thể “giao cho người khác làm công việc đó” và có quyền yêu cầu người có nghĩa vụ thanh toán mọi chi phí và bồi thường thiệt hại

Quyền tự định đoạt của chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự cũng còn bị chi phối bởi quy phạm pháp luật mang tính mệnh lệnh Quy phạm pháp luật mệnh lệnh là quy phạm pháp luật buộc các chủ thể trong quan hệ phải thực hiện cách ứng xử nhất định hoặc cấm không được thực hiện cách ứng xử nhất định Quy phạm này chi phối quyền tự định đoạt của các chủ thể trong các quan hệ pháp luật nội dung

Ví dụ: Khoản 3 Điều 287 Bộ luật dân

sự quy định “chỉ có những tài sản có thể đem giao dịch được và những công việc có thể thực hiện được mà pháp luật không cấm, không trái đạo đức x+ hội mới là đối tượng của nghĩa vụ dân sự” Hoặc Điều 522 Bộ luật dân sự quy

định về đối tượng của hợp đồng dịch vụ phải là công việc có thể thực hiện được, không bị pháp luật cấm, không trái đạo

đức x$ hội

Quyền tự định đoạt của đương sự trong quan hệ dân sự gắn bó chặt chẽ với quy phạm pháp luật tùy nghi và quy phạm pháp luật mang tính mệnh lệnh Như vậy, quy phạm pháp luật nội dung

đ$ mở ra khả năng nhất định để chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật Khi tham gia vào quan hệ pháp luật đó, chủ

Trang 3

tạp chí luật học - 39

thể có những quyền và phải gánh chịu nghĩa

vụ nhất định theo quy định của pháp luật

Quyền và nghĩa vụ của các chủ thể đều liên

quan đến quyền tự định đoạt của họ

Điều 264 Bộ luật dân sự quy định quyền

đòi lại tài sản, trong đó quy định chủ sở

hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền

yêu cầu người chiếm hữu, người sử dụng tài

sản, người được lợi về tài sản không có căn

cứ pháp luật đối với tài sản thuộc quyền sở

hữu hoặc thuộc quyền chiếm hữu hợp pháp

của mình phải trả lại tài sản đó Điều 265

Bộ luật dân sự cũng quy định về quyền yêu

cầu ngăn chặn hoặc chấm dứt hành vi cản

trở trái pháp luật đối với việc thực hiện

quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp

Bộ luật dân sự cũng quy định về quyền yêu

cầu bồi thường thiệt hại, theo đó chủ sở hữu,

người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu

cầu người có hành vi xâm phạm quyền sở

hữu, quyền chiếm hữu của mình bồi thường

thiệt hại

Đối với quan hệ về hôn nhân và gia đình

thì quy phạm pháp luật của ngành luật này

chủ yếu là những quy phạm pháp luật mang

tính chất hướng dẫn, khuyến khích Quan hệ

pháp luật hôn nhân và gia đình mang yếu tố

đặc thù là quan hệ tình cảm Đây cũng

chính là cơ sở làm phát sinh những mối

quan hệ tiếp theo và trong trường hợp nhất

định các quy phạm pháp luật hôn nhân và

gia đình cũng bao gồm cả các quy phạm

pháp luật mang tính mệnh lệnh, các quy

phạm cấm hoặc buộc các chủ thể trong

quan hệ phải tuân theo

Quy phạm pháp luật hôn nhân và gia

đình cũng tạo ra khả năng để chủ thể trong

quan hệ thực hiện quyền tự định đoạt của

mình Như trên đ$ phân tích, quy phạm

pháp luật hôn nhân và gia đình chủ yếu là

những quy phạm mang tính hướng dẫn

Trong quan hệ hôn nhân và gia đình (mà cơ

sở để thiết lập nên quan hệ đó là yếu tố tình

cảm, gắn liền với tình cảm), quyền tự định

đoạt của chủ thể về tài sản vẫn có thể

được thực hiện khi hôn nhân đang tồn tại Điều 18 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 quy định: “Khi hôn nhân

đang tồn tại, nếu một bên yêu cầu và

có lí do chính đáng thì có thể chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định

ở Điều 42 của luật này” Quyền tự định

đoạt của các chủ thể trong quan hệ hôn nhân và gia đình còn được thể hiện ở các quy phạm pháp luật trong chế định

li hôn, theo đó thì người vợ hoặc người chồng hoặc cả hai vợ chồng đều có quyền yêu cầu xin li hôn

Quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự luôn gắn liền với quyền tự định đoạt của chủ thể trong quan hệ pháp luật nội dung Có thể nói rằng các quy định của pháp luật nội dung là cơ sở pháp lí để quy định quyền tự định đoạt của đương sự trong

tố tụng dân sự Tuy nhiên, quyền tự

định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự còn phụ thuộc bởi những quy

định của pháp luật về năng lực pháp luật và năng lực hành vi của chủ thể và

về thẩm quyền xét xử của tòa án

Để bảo vệ quyền của mình trên cơ

sở quy định của pháp luật, chủ thể có quyền và nghĩa vụ khi tham gia quan

hệ đồng thời cũng có quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước pháp luật Tòa án nhân dân, theo quy định của pháp luật là cơ quan xét

xử, có nhiệm vụ bảo đảm cho các

đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật Trong đó việc bảo đảm quyền tự định

đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự

là nhiệm vụ quan trọng./

(1) Khái niệm luật nội dung trong bài viết này bao gồm luật dân sự, luật hôn nhân và gia đình

Ngày đăng: 31/03/2014, 09:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w