1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo "Người làm chứng cho việc lập di chúc " ppt

3 397 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 3
Dung lượng 64,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều 324 Bộ dân luật Bắc Kỳ quy định: "Chúc thư làm thành chứng thư có viên chức thị thực thì phải do chính người lập chúc thư viết ra hoặc đọc cho người khác viết hộ, tại trước mắt lí t

Trang 1

nghiên cứu - trao đổi

tạp chí luật học - 21

Người làm chứng cho việc lập di chúc

Kiều Thanh *

i chúc là hành vi đơn phương của cá

nhân nhằm chuyển tài sản của mình

cho người khác sau khi mình chết

theo sự định đoạt của chính mình Để bảo

đảm tính xác thực của di chúc, trong một

số trường hợp, luật thừa kế quy định việc

lập di chúc phải có người làm chứng

Trước năm 1945, các Bộ dân luật Bắc

Kỳ 1931, Bộ dân luật Trung Kỳ 1936 đều

quy định khá chặt chẽ về chúc thư có

người làm chứng Điều 324 Bộ dân luật

Bắc Kỳ quy định: "Chúc thư làm thành

chứng thư có viên chức thị thực thì phải

do chính người lập chúc thư viết ra hoặc

đọc cho người khác viết hộ, tại trước mắt

lí trưởng nơi trú quán mình và ít ra phải

có hai người làm chứng đ- thành niên

Các người chứng ấy phải chọn ngoài

những người được nhận của tặng dữ hoặc

ăn thừa kế"

Điều 316 Bộ dân luật Trung Kỳ quy

định: "Chúc thư có công chứng thị thực

thời phải tự người lập chúc thư viết ra

hay đọc ra để người khác viết hộ cho, tại

trước mặt lí trưởng nơi trú quán người

chúc thư ấy, nếu ở xa không về trú quán

được thì chúc thư ấy sẽ làm tại trước mặt

lí trưởng nơi hiện ở của người lập chúc

thư ấy Khi lí trưởng thị thực chúc thư ấy

thì phải có hai người làm chứng đ- thành

niên dự vào, hai người làm chứng ấy phải

chọn những người không phải người được

hưởng nhận tài sản hay được thừa kế"

Tiếp theo, các bộ dân luật trên đều

quy định cụ thể thủ tục lập và thị thực

chúc thư Chúc thư phải đề ngày, tháng,

năm, phải biên cả tên, họ, tuổi và chỗ ở

của người làm chứng Chúc thư đO làm

xong phải do lí trưởng đọc to cho mọi người cùng nghe và phải do lí trưởng, người lập chúc thư, người tá tả (người viết

hộ chúc thư) và người làm chứng cùng kí tên (Điều 325 Bộ dân luật Bắc kỳ, Điều

317 Bộ dân luật Trung Kỳ)

Bộ dân luật Sài Gòn 1972, tại các

Điều 376, 377, 378, 379 quy định khá chặt chẽ về các trường hợp lập chúc thư phải có người làm chứng

Bộ luật dân sự của nước cộng hòa xO hội chủ nghĩa Việt Nam 1995 (BLDS) quy định về người làm chứng cho việc lập

di chúc được thể hiện tại các Điều 654,

657, 659, 661

Trước hết là trường hợp di chúc được lập theo hình thức miệng Di chúc miệng (hay chúc ngôn) là việc cá nhân lập di chúc bằng lời nói Tính chất lập di chúc bằng lời nói đO làm cho giá trị chứng cứ của di chúc không rõ ràng nên BLDS chỉ cho phép cá nhân di chúc miệng khi ở vào hoàn cảnh không thể lập được di chúc bằng văn bản (trong thực tế di chúc miệng thường xảy ra với người ở vào tình trạng nguy hiểm đến tính mạng như bị cảm đột ngột, bất ngờ bị tai nạn khó qua khỏi ) trong lúc hấp hối đO dặn dò, trăng trối lại cho con cháu về việc chia tài sản Hơn nữa, tính chất lập di chúc bằng lời nói còn làm cho di chúc luôn ở vào tình trạng dễ xảy ra tranh chấp bởi mỗi người thừa kế theo di chúc miệng đều có thể dễ dàng dẫn chứng sai lệch ý chí của người lập di chúc nhằm làm lợi cho mình Vì lẽ

đó BLDS quy định điều kiện nghiêm ngặt

để công nhận hiệu lực của di chúc miệng,

D

* Giảng viên Khoa tư pháp Trường Đại học luật Hà Nội

Trang 2

nghiên cứu - trao đổi

22 - tạp chí luật học

trong đó có điều kiện về người làm

chứng Theo khoản 1 Điều 654 BLDS thì

chỉ trong trường hợp người bị đe dọa tính

mạng do bệnh tật hoặc các nguyên nhân

khác mà không thể lập di chúc bằng văn

bản mới có thể di chúc miệng Di chúc

miệng được coi là hợp pháp nếu người lập

di chúc thể hiện ý chí cuối cùng của mình

trước mặt ít nhất hai người làm chứng và

ngay sau đó những người làm chứng ghi

chép lại, cùng kí tên hoặc điểm chỉ

Theo nội dung của điều luật thì di

chúc miệng bắt buộc có người làm chứng

và người làm chứng không chỉ đơn giản

là những người cùng nghe, chứng kiến và

công nhận các quyết định của người di

chúc miệng là có thực mà còn có trách

nhiệm ngay sau đó cùng nhau ghi chép

lại các quyết định của người di chúc

miệng vào văn bản, cùng kí tên hoặc

điểm chỉ vào văn bản ghi chép đó Công

việc này được hoàn tất cũng có nghĩa là

chuyển hóa di chúc miệng như sự giả

định của di chúc bằng văn bản và di chúc

bằng văn bản giả định này là cơ sở pháp lí

để chia thừa kế theo di chúc miệng

Ngoài di chúc miệng, di chúc văn bản

trong một số trường hợp cũng cần thiết

phải có sự hiện diện của người làm chứng

mới đảm bảo tính xác thực Điều 659

BLDS quy định hình thức di chúc bằng

văn bản có người làm chứng được áp

dụng trong trường hợp người lập di chúc

không thể tự mình viết bản di chúc Ví

dụ: Do người đó không biết chữ hoặc bị

mù cả hai mắt nên không thể tự viết di

chúc được thì có thể nhờ người khác viết

nhưng phải có ít nhất là hai người làm

chứng Người lập di chúc phải kí hoặc

điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt người

làm chứng, người làm chứng xác nhận

chữ kí, điểm chỉ của người lập di chúc và

kí vào bản di chúc

Trong trường hợp này, xuất phát từ

hoàn cảnh người lập di chúc không thể tự

mình viết bản di chúc nên phải nhờ người khác viết giúp mình - sự kiện người khác viết hộ di chúc là lí do dẫn đến quy định của điều luật phải có ít nhất là hai người làm chứng với tư cách là người cùng có mặt chứng kiến việc viết hộ thể hiện

đúng quyết định của người lập di chúc trên văn bản di chúc Tuy vậy, điều luật cần có quy định chặt chẽ hơn nhằm phân biệt người viết hộ di chúc với người làm chứng, đảm bảo trong mọi trường hợp di chúc được viết hộ phải có ít nhất từ hai người làm chứng trở lên Theo chúng tôi, cần quy định thêm người viết hộ di chúc cũng phải kí tên vào bản di chúc Điều này vừa ràng buộc trách nhiệm của người viết hộ di chúc vừa đảm bảo tính chính xác, chặt chẽ của điều luật

Về thủ tục lập di chúc tại cơ quan công chứng nhà nước hoặc ủy ban nhân dân xO, phường, thị trấn khi người lập di chúc yêu cầu cơ quan công chứng chứng nhận hoặc ủy ban nhân dân xO, phường, thị trấn chứng thực bản di chúc, để đảm bảo tính khách quan, trung thực trong trường hợp người lập di chúc không đọc

được hoặc không nghe được bản di chúc, không kí hoặc không điểm chỉ được, khoản 2 Điều 661 BLDS quy định khi đó:

"phải nhờ người làm chứng và người này phải kí xác nhận trước mặt công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của ủy ban nhân dân x-, phường, thị trấn Công chứng viên, người có thẩm quyền chứng thực của ủy ban nhân dân x-, phường, thị trấn chứng nhận bản di chúc trước mặt người lập di chúc và người làm chứng"

Tóm lại, người làm chứng cho việc lập

di chúc được luật quy định trong những trường hợp nhất định nhằm bảo đảm tính xác thực của di chúc, bảo đảm cho di chúc được lập ra thể hiện đúng ý nguyện

đích thực và cuối cùng của người để lại di sản Ai cũng có thể làm chứng cho việc

Trang 3

nghiên cứu - trao đổi

tạp chí luật học - 23

lập di chúc trừ những người sau đây

(Điều 657 BLDS):

1 Người thừa kế theo di chúc hoặc

theo pháp luật của người lập di chúc;

2 Người có quyền, nghĩa vụ tài sản

liên quan tới nội dung di chúc;

3 Người chưa đủ 18 tuổi, người

không có năng lực hành vi dân sự

Việc quy định những người này

không được làm chứng cho việc lập di

chúc bảo đảm để di chúc được lập ra theo

đúng ý chí của người để lại di sản, không

bị tác động bởi người có thể được lợi

thông qua việc lập di chúc hoặc do người

chưa thành niên (là người chưa đủ năng

lực hành vi dân sự tham gia quan hệ pháp

luật dân sự, quan hệ pháp luật tố tụng dân

sự) làm chứng Tuy vậy, trong trường hợp

người chưa đủ 18 tuổi, người không có

năng lực hành vi dân sự không được làm

chứng cho việc lập di chúc, điều luật quy

định chưa chặt chẽ, thiếu thống nhất với

các điều luật trước đó của BLDS Theo

quy định tại các điều 19, 20, 21, 22, 23

BLDS thì người chưa thành niên là người

chưa đủ 18 tuổi được phân biệt hai mức

độ năng lực hành vi dân sự: Năng lực

hành vi dân sự chưa đầy đủ áp dụng đối

với những người từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ

18 tuổi; không có năng lực hành vi dân sự

áp dụng đối với người chưa đủ 6 tuổi

Như vậy, quy định tại Điều 657 BLDS

"Người chưa đủ 18 tuổi" đO bao hàm

trong đó cả người không có năng lực

hành vi dân sự Trong trường hợp này

điều luật cần phải thay đổi quy định từ

"người không có năng lực hành vi dân sự"

thành "người mất năng lực hành vi dân

sự" là người do bị bệnh tâm thần hoặc

mắc các bệnh khác mà không thể nhận

thức, làm chủ được hành vi của mình

(Điều 24 BLDS) mới bảo đảm tính thống

nhất và chính xác của điều luật./

đặc trưng pháp lí

(tiếp trang 20) khẳng định: “Mọi cam kết, thỏa thuận hợp pháp có hiệu lực bắt buộc thực hiện đối với các bên” Đây chính là một trong những đặc trưng pháp lí của pháp luật dân sự nói chung và của hợp đồng dân sự nói riêng

Tính chất pháp lí đặc trưng của hợp

đồng dân sự còn thể hiện trong việc giải quyết tranh chấp của tòa án và cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác Mức độ trách nhiệm có thể được xác định theo thực tế vi phạm do pháp luật quy định hoặc theo sự thỏa thuận của các bên trong hợp đồng Trong quá trình thực hiện quyền và nghĩa vụ đO được xác lập theo hợp đồng mà xảy ra tranh chấp thì việc giải quyết tranh chấp đó được thực hiện theo nguyên tắc sau:

- Nếu trong hợp đồng, các bên đO có những cam kết, thỏa thuận cụ thể về những nội dung cơ bản (hay còn gọi là

điều khoản căn bản) thì sự ghi nhận cụ thể đó trong hợp đồng là căn cứ pháp lí

để tòa án và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng khi giải quyết tranh chấp;

- Nếu trong hợp đồng các bên không có thỏa thuận cụ thể về nội dung cơ bản đó thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ áp dụng quy định tương ứng trong BLDS để giải quyết tranh chấp Trong trường hợp các bên không có thỏa thuận và BDS cũng chưa có quy định

cụ thể về vấn đề đó thì tòa án và cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ áp dụng tập quán hoặc những quy định tương tự của pháp luật để giải quyết tranh chấp theo quy định tại Điều 14 BLDS./

(1) Xem: Giáo trình luật dân sự Việt Nam, Tập 2, trường Đại học luật Hà Nội Nxb CAND, H.1997, tr.92 - 93

Ngày đăng: 31/03/2014, 09:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w