Đối với trường hợp một bên đương sự ở nước chưa có quan hệ ngoại giao với nước ta, bị đơn sống lưu vong ở nước ngoài không ai quản lí thì được giải quyết theo cách nếu đương sự có thân n
Trang 1tạp chí luật học - 13
giải quyết việc li hôn
mà vợ, chồng thường trú ở nước ngoài
Nguyễn Thị Liên Hương *
o những nguyên nhân mang tính x
hội, hiện nay, loại việc xin li hôn mà
một bên đang thường trú ở nước
ngoài thuộc thẩm quyền giải quyết của
tòa án nhân dân cấp tỉnh ngày càng
nhiều Song thực tiễn xét xử cho thấy để
giải quyết loại việc này theo thủ tục tố
tụng trong các văn bản hướng dẫn là
không đơn giản Trong khuôn khổ bài
viết này, chúng tôi muốn đề cập những
vướng mắc trong việc giải quyết li hôn
giữa vợ chồng đều là công dân Việt Nam
mà một bên thường trú ở nước ngoài
Để giải quyết loại việc này, chúng ta
đang căn cứ vào các văn bản hướng dẫn
như: Thông tư liên ngành số 06/TT-LN
ngày 30/12/1986, Công văn số 10/NCPL
ngày 16/12/1991, Công văn số 29/NCPL
ngày 06/4/1992, Công văn số 517/NCPL
ngày 09/10/1993 của Tòa án nhân dân tối
cao
Theo Thông tư liên ngành số
06/TT-LN cũng như các công văn hướng dẫn của
Tòa án nhân dân tối cao, cách giải quyết
việc xin li hôn nói trên có thể phân làm
hai loại:
1 Trường hợp một bên đương sự ở
nước ngoài có quan hệ ngoại giao với
nước ta thì khi điều tra, xét xử, tòa án
phải ủy thác cho cơ quan ngoại giao hoặc
lnh sự nước ta ở nước đó lấy lời khai và
tống đạt cho họ những giấy tờ cần thiết
(theo quy định của Pháp lệnh lnh sự
công bố ngày 24/11/1990)
2 Đối với trường hợp một bên đương
sự ở nước chưa có quan hệ ngoại giao với
nước ta, bị đơn sống lưu vong ở nước
ngoài không ai quản lí thì được giải quyết
theo cách nếu đương sự có thân nhân ở
trong nước thì tòa án yêu cầu họ báo cho
đương sự ở nước ngoài gửi về tòa án những lời khai hoặc tài liệu cần thiết; nguyên đơn ở trong nước có thể tự mình hoặc nhờ luật sư liên hệ với bị đơn ở nước ngoài để yêu cầu bị đơn ở nước ngoài gửi
về lời khai, tài liệu; tòa án căn cứ vào những lời khai, tài liệu đó để xét xử nếu
đương sự ở trong nước công nhận lời khai, tài liệu đó đúng là của vợ hay chồng mình ở nước ngoài
Với trường hợp thứ nhất, nếu không thực hiện được việc ủy thác tư pháp thì áp dụng trường hợp thứ hai
Qua thực tiễn xét xử, để giải quyết loại việc kiện này, quá trình điều tra, xét
xử hầu hết được áp dụng theo trường hợp thứ hai Nghĩa là sau khi thụ lí đơn, ghi lời khai của nguyên đơn, tòa án hướng dẫn cho nguyên đơn hoặc người nhà của
bị đơn (nếu có) phải có nghĩa vụ báo cho
bị đơn ở nước ngoài gửi về tòa án lời khai hoặc các tài liệu cần thiết làm căn cứ cho việc xét xử Để vụ kiện sớm được giải quyết theo yêu cầu của nguyên đơn, nguyên đơn thường nhận trách nhiệm liên
hệ với bị đơn và thuyết phục bị đơn có ý kiến gửi về tòa án để tòa án thụ lí vụ án Còn thân nhân bị đơn thường không nhận trách nhiệm này, nếu có thì cũng rất ít, do
đó đ cản trở nhiều trong việc tòa án thu thập chứng cứ
Đối với trường hợp bị đơn không có thiện chí, rõ ràng vụ kiện không thể giải quyết và nguyên đơn ở trong tình trạng bị
"treo", quyền lợi hợp pháp của người ở trong nước chưa thực sự được pháp luật
D
D
* Tòa dân sự Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng
Trang 214 - tạp chí luật học
bảo vệ
Vấn đề đặt ra là lời khai, tài liệu bị
đơn gửi về như thế nào để được coi là hợp
pháp? Có ý kiến cho rằng lời khai đó phải
được chính quyền địa phương ở nước
ngoài xác thực, phải có dấu công chứng
nhưng thủ tục hành chính ở nước ngoài
không thể khẳng định là giống Việt Nam
Đối với trường hợp nguyên đơn trong
nước liên lạc với bị đơn ở nước ngoài,
theo chúng tôi, tài liệu bị đơn gửi về qua
nguyên đơn trong nước và được nguyên
đơn công nhận theo hướng dẫn nói trên
không thể được đảm bảo về giá trị pháp
lí Vì nguyên đơn có thể làm giả tài liệu
rồi lại có quyền công nhận tài liệu đó
Từ những phân tích trên, thiết nghĩ
cần có hướng dẫn cụ thể để tránh việc áp
dụng tùy tiện
Hiện nay, loại án này được tòa án các
cấp thụ lí khá nhiều nhưng sau khi tiến
hành điều tra theo hướng dẫn nói trên vẫn
không mang lại kết quả trong khi đ hết
thời hạn xét xử theo thủ tục tố tụng, tòa
án phải căn cứ vào khoản 1 Điều 45 Pháp
lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự
để ra quyết định tạm đình chỉ, xóa sổ thụ
lí Nếu kéo dài tình trạng này thì quyền
lợi của đương sự ở trong nước không
được bảo vệ Đây là thực trạng x hội xảy
ra nhiều do việc di tản năm 1975 để lại,
tình trạng xuất cảnh bất hợp pháp hay
một bên vợ, chồng đi hợp tác lao động ở
nước ngoài không về
Mặc dù Công văn số 517/NCPL có
mở ra hướng " nguyên đơn ở trong nước
đ bị bỏ lửng nhiều năm, bị đơn ở nước
ngoài nhưng có đầy đủ căn cứ chứng
minh họ vẫn gọi điện về cho thân nhân
trong nước và thân nhân của họ không
chịu cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn
cho tòa án thì coi như bị đơn cố tình giấu
địa chỉ, từ chối khai báo Nếu đ yêu cầu
đến lần thứ hai mà vẫn không thực hiện
được thì tòa án có thể đưa vụ kiện ra xét xử" Nhưng tòa án khó có khả năng thực hiện theo hướng trên vì khó có thể chứng minh được bị đơn và thân nhân vẫn có liên lạc thậm chí thân nhân đ gửi yêu cầu của tòa án cho bị đơn nhưng bị đơn vẫn không trả lời
Công văn số 517/NCPL có đặt ra việc tòa án giải thích cho nguyên đơn biết họ
có quyền khởi kiện yêu cầu tòa án huyện, quận nơi họ thường trú xác định bị đơn mất tích hay chết theo thủ tục quy định Chúng tôi cho rằng cách giải quyết như vậy là vi phạm thủ tục tố tụng, bởi trong hầu hết các vụ xin li hôn, bị đơn ở nước ngoài có địa chỉ rõ ràng nhưng họ cố tình không khai báo, việc họ có địa chỉ rõ ràng ở nước ngoài không thể chứng minh
họ đ chết hay mất tích và loại việc này thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương
Vấn đề đặt ra là việc nguyên đơn ở nước ngoài xin li hôn với bị đơn ở trong nước thì tòa án có nên thụ lí giải quyết hay không? và nếu giải quyết thì hiệu lực bản án như thế nào?
Đây là trường hợp đ xảy ra trong thực tế và có nhiều tranh luận về thủ tục
và đường lối giải quyết Vấn đề này đ
được tác giả Thái Công Khanh trao đổi trên Tạp chí tòa án nhân dân số 1/1998 Chúng tôi hoàn toàn đồng ý với quan
điểm nếu nguyên đơn là công dân Việt Nam thường trú ở nước ngoài về Việt Nam tạm trú thì chúng ta tiến hành giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự thường
lệ Với những trường hợp này, nguyên
đơn chỉ cần xuất trình hộ chiếu Việt Nam tạm trú, đơn xin li hôn, giấy chứng nhận
đăng kí kết hôn là tòa án phải có trách nhiệm thụ lí giải quyết Còn vấn đề chứng nhận xin li hôn, giấy tờ tùy thân như tác
Trang 3tạp chí luật học - 15
giả đặt ra là không cần thiết
Đối với trường hợp nguyên đơn là
công dân Việt Nam thường trú ở nước
ngoài gửi đơn về tòa án trong nước xin li
hôn, chúng tôi thống nhất quan điểm
trong Báo cáo tổng kết công tác của Tòa
án nhân dân tối cao là không thụ lí giải
quyết
Đối với trường hợp nguyên đơn tạm
thời về nước, theo hướng dẫn của Tòa án
nhân dân tối cao thì tòa án trong nước
phải thụ lí giải quyết Trong loại việc này,
việc giải quyết quan hệ hôn nhân không
quá khó nhưng việc giải quyết vấn đề tài
sản, quan hệ cấp dưỡng, nuôi con, trợ cấp
khó khăn cho một bên dù đ được quy
định rõ ràng song vẫn có quan điểm cho
rằng bản án không có tính khả thi Họ
tạm thời về nước để giải quyết vấn đề li
hôn sau đó trở ra nước ngoài thì làm sao
có điều kiện thi hành án Với bản án có
hiệu lực thi hành thì trách nhiệm thi hành
thuộc cơ quan thi hành án nhưng làm sao
có thể thi hành với người đang thường trú
ở nước ngoài Cơ quan thi hành án có thể
buộc họ phải thi hành bản án mà chính
bản thân họ yêu cầu giải quyết rồi mới
cho họ trở lại nước ngoài không?
Rõ ràng thực tiễn xét xử đ đặt ra
hàng loạt vấn đề mà pháp luật chưa quy
định đòi hỏi nhà làm luật, Tòa án nhân
dân tối cao phải có hướng dẫn kịp thời
mới giúp tòa án các cấp giải quyết tốt loại
việc kiện nói trên Có như vậy quyền lợi
của công dân, nhất là của nguyên đơn ở
trong nước bị "bỏ lửng" nhiều năm mới
được pháp luật bảo vệ Chúng tôi xin có
một số ý kiến đề xuất sau:
1 Đối với trường hợp nguyên đơn ở
trong nước xin li hôn với bị đơn ở nước
ngoài, tòa án phải thụ lí giải quyết Tòa
án có trách nhiệm gửi lời khai của
nguyên đơn cho bị đơn ở nước ngoài và
yêu cầu họ phải có ý kiến gửi về Cơ quan
bưu điện có trách nhiệm gửi bằng hình
thức bảo đảm Nếu bị đơn đ nhận được
(tức công văn gửi đi đ được bưu điện nước ngoài báo về là đ gửi cho người nhận) mà vẫn không hồi âm trở lại thì coi như bị đơn cố tình từ chối khai báo và tòa
án đựa vụ kiện ra xét xử (áp dụng hình thức trên hai lần mọi phí tổn nguyên đơn phải chịu)
Nếu nguyên đơn hoặc người nhà bị
đơn tự liên lạc được với bị đơn thì ý kiến
bị đơn gửi về bằng văn bản phải có dấu xác nhận nơi bị đơn cư trú hoặc phải được
họ hàng bị đơn (trong phạm vi ba đời) xác nhận đúng là chữ kí, chữ viết của bị
đơn mới có giá trị pháp lí
Trường hợp bằng những biện pháp nói trên mà vẫn không liên hệ được với bị
đơn thì giải quyết theo hướng bị đơn mất tích hay đ chết theo quy định của Bộ luật dân sự Thẩm quyền giải quyết vẫn thuộc tòa án cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương vì đ có căn cứ chứng minh bị
đơn rời khỏi lnh thổ Việt Nam
2 Trường hợp nguyên đơn ở nước ngoài tạm thời về Việt Nam xin li hôn với
bị đơn trong nước thì tòa án phải thụ lí giải quyết
Đối với trường hợp này, khi giải quyết quan hệ hôn nhân, con cái, tài sản, cấp dưỡng nuôi con thì căn cứ vào Luật hôn nhân và gia đình và thủ tục tố tụng dân sự của Việt Nam, trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con và trách nhiệm về tài sản (nếu có) của nguyên đơn phải được hội đồng xét xử cho thi hành ngay
Phòng thi hành án và nguyên đơn phải
có trách nhiệm thi hành nghiêm chỉnh bản án Nguyên đơn phải hoàn thành nghĩa vụ của mình mới được xuất cảnh Nếu họ cố tình không thi hành thì phòng thi hành án có quyền yêu cầu Cục xuất nhập cảnh không cho nguyên đơn xuất cảnh./