1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo " Quyền và lực của Hội đồng nhân dân" doc

4 268 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 9,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Gần đây, Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành trung ương Đảng khóa VIII đã ra Nghị quyết số 03 ngày 18/6/1997 về “phát huy quyền làm chủ cửa nhân dân, tiếp tục vây dựng Nhà nước Cộng hòa x

Trang 1

QUYỀN VÀ LỰC CUA HOI DONG NHAN DAN

Qve và lực là hai khái niệm khác

nhau Quyền là “Điểu mà pháp luật

hoặc xã hội công nhận cho được lutỏng,

được làm, được đòi hỏởử*) Còn lực là

“vức, sức mạnh”) Như vậy quyền mới

chỉ là khả năng, là yếu tố khách quan,

phụ thuộc vào xã hội, luật pháp, phong

tục có cho phép hay không; không phụ

thuộc vào ý muốn chủ quan của đối

tượng “được luưởng, được làm, được đòi

hoi’ Con luc là yếu tố chủ quan, là thực:

tế, phụ thuộc vào đối tượng ditoc

hưởng, được làm, được đòi hỏi ” có hay

không có năng lực thực hiện Do đó, có

quyền mà không có lực thì quyền đó trên

thực tế không được thực hiện hoặc lực

không tương ứng với quyền thì quyền

trên thực tế bị hạn chế khi thực hiện

Quyền và lực tuy là hai khái niệm

khác nhau nhưng liên quan mật thiết với

nhau Vì vậy, trong nhiều trường hợp

quyền và lực được ghép lại thành một

cum tit “quyén lực” Điều 2 Hiến pháp

I992 cũng quy định: “Tất cả quyền lực

Nhà nước thuộc về nhân dân” hay tại

Điều 119 Hiến pháp 1992 cũng quy định:

“Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền

lực nhà nước ở địa phương”

Vậy quyền lực là gì? Theo định nghĩa

trong Từ điển Tiếng Việt do nhà xuất bản

Khoa học xã hội ấn hành năm 1994 thi

các từ quyền lực, quyền bính, quyền hành

đồng nghĩa với nhau, đó là sức mạnh mà

mol người phải tuân theo trong hành

động?) Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng

cộng sản Việt Nam lần thứ VI trên cơ sở

nhìn thẳng vào sự thật đã nhận định:

Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp

24 - TẠP CHÍ LUẬT HỌC

LUU TRUNG THÀNH * chưa thực chất và chưa thực quyền Vì

vậy, Đảng và Nhà nước ta cần phải làm cho các cơ quan đó có thực chất và thực

quyền Gần đây, Hội nghị lần thứ 3 Ban

chấp hành trung ương Đảng khóa VIII đã

ra Nghị quyết số 03 (ngày 18/6/1997) về

“phát huy quyền làm chủ cửa nhân dân, tiếp tục vây dựng Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong sạch, vững mạnh” trong đó đã xác định: “Xây dụng hội đồng nhân dân các cấp có thực quyền

để thực hiện đây đủ vai trò là cơ quan đại diện của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, thực hiện quyền làm chủ của nhân dân ở từng cap’?

Hội đồng nhân dân ở nước ta được thành lập từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay đã hơn 50 năm Ngay

từ Hiến pháp 1946 cua Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã quy định: “Hội đồng nhân dân quyết nghị về những vấn

đề thuộc địa phương mình Những nghị quyết ấy không được trái với chỉ thị của các cấp trên” (Điều 59) Còn ủy ban hành chính “0 hành các nghị quyết của Hội đồng nhân dán địa phương mình san khi được cấp trên chuẩn y” (Điều 59) Do

điều kiện kháng chiến, hội đồng nhân dân không họp định kì được, mặt khác do

năng lực của đại biểu bị hạn chế nên “!ê

lốt làm việc của hội đồng chưa quy định đúng mức và thực hiện đúng nưcc Ở những xá to hội đồng nhân dân phần vì kém năng lực, phản vì phải phụ trách các

* Giảng viên chính Khoa hành chính - nhà nước Trường Đại học luật Hà Nội.

Trang 2

công việc chuyên môn, phân vì số các hội

viên không đủ để trực tiế» gân gũi dân,

thu thập nguyện vọng của nhân dân nên

công việc phân nhiều do ủy bạn kháng

chiến hành chính quyết định, hội đồng

chưa thực sự kiểm soát, điều khiển uy ban

kháng chiến hành chính Vai trò hội đồng

nhân dạn nhiều nơi bị lụ mờ”),

Sau khi hòa bình được lập lại ở miền

Bắc, với chủ trương nâng cao tính tích

cực chủ động của nhân dân và của các cơ

quan chính quyền địa phương, nhất là các

cơ quan dân cử, hội đồng nhân dân các

cấp được bầu ở cả 3 cấp: Tỉnh, huyện, xã

và tương đương, được củng cố về mặt t

chức Luật tổ chức chính quyền Nhà nước

ở địa phương năm 1958 là cơ sở pháp lí

đầu tiên cho việc ốn định, đưa hội đồng

nhân dân các cấp từng bước đi vào hoạt

động có nền nếp để có hiệu quả và thực

chất hơn Tuy nhiên, trong bầu cử do

thiên về cơ cấu, thành phần, chưa chú

trọng đến năng lực thực hiện nhiệm của

của đại biểu; mặt khác, hội đồng nhân

dân có rất nhiều quyền nhưng tổ chức của

hội đồng nhân dân quá đơn giản, không

tương ứng với nhiệm vụ được giao Tất cả

các đại biểu hội đồng nhân dân đều hoạt

động kiêm nhiệm Hội đồng nhân dân

không có trụ sở, không có con dấu,

không có bộ phận thường trực, không có

kinh phí ổn định cũng như không có cắc

cơ quan chuyên môn giúp việc Vì vậy,

hoạt động của hội đồng nhân dân vẫn

mang tính hình thức, chưa giám sát được

hoạt động của ủy ban hành chính, chưa

quyết định được những vấn đề quan trọng

ở địa phương như kế hoạch, ngân sách,

các chủ trương biện pháp phát triển kinh

tế, văn hóa, xã hội ở địa phương một

cách thực chất Từ việc triệu tập kì họp,

dự kiến chương trình kì họp cho đến việc

chuẩn bị các điều kiện cơ sở vật chất, các

đề án, các dự án cho kì họp hội đồng

nhân dân đều giao cho ủy ban hành

X e

chính Trong kì họp hội đồng nhân dân,

vai trò chủ động thuộc về ủy ban hành chính còn các đại biểu hội đồng nhân dân đóng vai trò thụ động Tình hình trên kéo

Từ sau đại hội Đảng toàn quốc lần thứ

VI, trên cơ sở đổi mới tư duy, tổng kết

kinh nghiệm hoạt động của hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân cũng như

yêu cầu của công cuộc đổi mới, Quốc hội

khoa VIII tại kì họp thứ 5 đã thảo luận và

thông qua Luật tổ chức hội đồng nhân

dân và ủy ban nhân dân (

30/5/1989) Việc thông qua đao luật nói ——— -= yua Uday

trên đặt nền móng cơ bản,cho việc đổi mới tổ chức và hoạt động của hội đồng nhân dân, tạo điều kiện để hội đồng nhân

dân hoạt động có hiệu lực và hiệu quả hơn Theo luật này, hội đồng nhân dân cấp tỉnh và cấp huyện có thường trực hội đồng nhân dân gồm chủ tịch và phó chủ tịch hội đồng nhân dân Như vậy, từ nhiệm kì 1989 - 1994, hội đồng nhân dân .cấp tính và cấp huyện đã có cơ quan trường trực đảm bảo hoạt động thường xuyên của hội đồng nhân dân, thực hiện những công việc trước đây ủy ban nhân

dân cùng cấp phải đảm nhiệm như: Tổ chức việc chuẩn bị, triệu tập các kì họp

hội đồng nhân dân; điều hòa phối hợp hoạt động của các ban thuộc hội đồng nhân dân; giữ mối liên hệ với các đại

biểu và tổ đại biểu hội đồng nhân dan ( Điều 25 Luật tổ chức hội đồng nhân dan

và ủy ban nhân dân) Còn ở cấp xã, ban thư kí hội đồng nhân dân gồm trưởng

- ban, phó trưởng ban và các thành viên khác của ban cũng được thành lập để thực hiện một phần nhiệm vụ quyền hạn của

hội đồng nhân dân như tổ chức việc tiếp

dân, đôn đốc việc giải quyết các khiếu

nại tố cáo và kiến nghị gửi lên hội đồng nhân dân ( Điều 29 Luật tổ chức hội

đồng nhân dân và ủy ban nhân dân)

TẠP CHÍ LUẬT HỌC - 25

Trang 3

| NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI |

Đối với ủy ban nhân dân cấp tỉnh và

cấp huyện, ngoài thường trực hội đồng

nhân dân còn (hành lập các ban chuyên

môn nhất định (cấp tính ba ban, cấp

huyện ba ban) để giup hội đồng nhận dân

trong việc chuẩn bị các kì họp, thẩm tra

các báo cáo, giám sát ủy ban nhân dân

cùng cấp trong các lĩnh vực thuộc chuyên

môn của ban

Mặt khác, kinh phí hoạt động của hội

đồng nhân dân do hội đồng nhân dân

quyết định và ghi vào ngân sách địa

phương Hội đồng nhân dân có trụ sở, có

con dấu riêng

Như vậy, Luật tổ chức hội đồng nhân

đân và ủy ban nhân dân nam 1989 qua

thực tiễn thực hiện trong nhiệm kì 1989 -

I994 đã bước đầu đổi mới cơ bản về mặt

tổ chức, tạo điều kiện để hội đồng nhân

đân có thực lực và thực quyền hơn Tuy

nhiên, do chưa có kinh nghiệm nên

thường trực và các ban của hội đồng nhân

dan con lung ting khi thực hiện nhiệm

ụ, quyền hạn của mình; mặt khác, tuyệt

đại đa số các ủy viên làm việc theo chế

độ kiêm nhiệm vì vậy chưa đáp ứng được

sự mong mỏi của nhân dân

Trên cơ so tong kết hoạt động của hội

đồng nhân dân, đặc biệt nhiệm kì 1989 -

1994, để tiếp tục nâng cao hiệu lực và

hiệu qua hoạt động của hội đồng nhân

dấn, tháng 6/1994, Quốc hội khóa IX tại

kì họp thứ 5 đã thông qua Luật tổ chức

hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân

(sửa đổi) Theo luật sửa đổi này, thường

trực hội đồng nhân dân vẫn được thành

lập ở cấp tỉnh và cấp huyện (tuy nhiên

không có ủy viên thư kí trong thường trực

hội đồng nhân dân ) Còn ở cấp xã không

có ban thư kí như trước đây, thay vào đó

có chủ tịch, phó chủ tịch hội đồng nhân

dân Điều đặc biệt là Luật sửa đổi lần đầu

tiên đặt ra vấn đề “zưởng ban của hội

đông nhân dân cấp tỉnh có thể làm việc

chuyên trách” (Điều 38) Điều 30 Pháp

26 - TẠP CHÍ LUẬT HỌC

chuyên môn,

lệnh về quy chế hoạt động của hội đồng nhân dân các cấp (thông qua thats 6/1996) quy định: “Trưởng ban hội đồng nhân dân cấp tính có thể làm việc chuyên

trách, nếu trưởng ban làm VIỆC kiêm

nhiệm thì phó trưởng bạn làn việc chuyên trách Môi ban có ít nhất một chuyên viên giúp việc” Như vậy, để các ban thực sự là những bộ phận giúp việc cho hội đồng nhân dân trong các lĩnh vực

chuyên môn, Luật sửa đổi và Pháp lệnh

năm 1996 nói trên đã đặt ra vấn đề làm việc chuyên trách đối với trưởng hoặc phó ban và chế độ chuyên viên g1úp việc

ở cấp tỉnh Đó là xu hướng đúng Sự tăng

cường về “lực” này là nhằm làm cho các

ban thường xuyên có người nghiên cứu, theo dõi, giám sát đối với lính vực

giúp hội đồng nhân dân trong việc thẩm tra các dự án, đề án và trong: việc giám sát thực hiện các nghị quyết của hội đồng nhân dân một cách có

hiệu quả Luật tổ chức hội đồng nhân dân

và ủy ban nhân dân năm 1994 lần đầu

tiên quy định tại kì họp đầu tiên của mỗi khóa, hội đồng nhân dan bau ra “thie ki ki

họp của môi khóa hội đồng nhản dân theo sự giới thiện của chủ tọa kì họp” (Điều 34) Việc bầu ra thư kí kì họp trong

cả nhiệm kì 5 năm của hội đồng nhân dân

bảo đảm sự ồn định về mặt tổ chức, tạo

điều kiện để thư kí tích lũy kinh nghiệm

trong việc ghi chép biên bản kì họp, tổng hợp ý kiến của đại biểu, giúp thường trực

và các ban nắm vững tình hình hoạt động của hội đồng nhân dân hơn

Cùng với quá trình đổi mới về tổ chức

để lực dần dan tương ứng với quyền là sự đổi mới về tiêu chuẩn của đại biểu hội đồng nhân dân Bắt đầu từ Luật bầu cử đại biểu hội đồng nhân dân năm 1989, tiêu chuẩn đối với ¡ đại biểu hội đồng nhân

dân đòi hỏi cao hơn, đặc biệt về sự hiểu

biết, khả năng thực hiện nhiệm vụ của đại biểu: “Đợi biểu hội đồng nhân dân phải

Trang 4

NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI

là người trung thành với tổ quốc và chủ

nghĩa xã hội, có hiểu biết về quan li nha

nước, kinh tế, xá hội, hiểu biết và gương

mau chấp hành pháp luật, có năng lực

thực hiện nhiệm vụ của người đại biển

hội đồng nhân dân ” (Điều 3) Luật bầu

cử đại biểu hội đồng nhân dân sửa đổi

năm 1994 tiếp tục khẳng định lại những

tiêu chuẩn của đại biểu hội đồng nhân

dân trong đó vẫn đòi hỏi vé “trinh độ

hiểu biế† và năng lực thực hiện nhiệm vụ

đại biểu hội đồng nhân dân” (Điều 3)

Để hội đồng nhân dân có thực quyền

không thể không đòi hỏi từng đại biểu

phải có năng lực Có năng lực đại biểu

mới thực hiện được nhiệm vụ của mình

trong việc tham gia quyết định những vấn

dé quan trong cũng như trong việc giám

sát hoạt động của các cơ quan nhà nước,

tổ chức chính trị, xã hội, kinh tế ở địa

phương

Xuất phát từ bản chất giai cấp của

Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt

Nam, Quốc hội và hội đồng nhân dân có

vị trí xứng đáng trong bộ máy nhà nước

Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước

cao nhất còn hội đồng nhân dân là cơ

quan quyền lực nhà nước ở địa phương

Tuy nhiên, để các cơ quan nói trên có

thực quyền đòi hỏi phải có thời gian, có

điều kiện Với kinh nghiệm tích lũy được

trong quá trình xây dựng chính quyền

dân chủ nhân dân, với điều kiện kinh tế -

xã hội ngày càng phát triển, hội đồng

nhân dân ngày càng được củng cố về mặt

tổ chức cho phù hợp với nhiệm vụ, quyền

hạn được giao và phải từ công việc,

nhiệm vụ được giao để bố trí lực lượng,

tổ chức thực hiện công việc, nhiệm vụ đó

Việc: không ngừng đổi mới về mặt tổ

chức, việc đòi hỏi cao hơn sự hiểu biết và

năng lực thực hiện nhiệm vụ của đại biểu

là một xu hướng đúng Tuy nhiên, cần

phải tiếp tục đổi mới tổ chức hội đồng

nhân dân Thường trực hội đồng nhân dân

hiện nay chỉ có một người làm việc chuyên trách (chủ tịch hoặc phó chủ tịch hội đồng nhân dân) Do đó, luc sé “bat tòng tâm” khi thường trực hội đồng nhân dân muốn “đôn đốc, kiển tra uy ban nhân dân cùng cấp và các cơ quan nhà nước khác ở địa phương thực hiện các nghị quyết của hội đồng nhân dân; tiép

dân, đôn đốc kiểm tra và Xe vét tình

hình giải quyết các kiến nghị, khiếu nai,

tổ cáo của công dân ”%9)

Ở cấp xã, chủ tịch và phó chủ tịch hội đồng nhân dân đều làm việc theo chế độ

kiêm nhiệm Đó cũng là một bất hợp lí hiện nay vì xã là cấp cơ sở, nơi pháp luật

có được thực hiện hay không được thực hiện; nơi nhân dân có điều kiên nhất để

phản ánh tâm tư nguyện vọng của mình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo thông qua cơ quan đại diện là hội đồng nhân dan xã nhưng hội đồng nhân dân xã lại không có

đại biểu chuyên trách, không có người

trực Vì vậy, nhiệm vụ quyền hạn của chủ

tịch hội đồng nhân dân cấp xã được quy định tại Điều 37 Luật tổ chức hội đồng

nhân dân và ủy ban nhân dân năm 1994 khó thực hiện được Thực tế, hội đồng nhân dân cấp xã hiện nay hoạt động còn rất hình thức Vì vậy nên cân thiết phải

có số đại biểu hội đồng nhân dân nhất

định làm việc theo chế độ chuyên trách, đặc biệt đối với chủ tịch, phó chủ tịch,

các trưởng; phó ban của hội đồng nhân

(1) Xem: 7 điển tiếng Việt, Nxb KITXH - H

1994, tr.786

(2) Xem: Sdd, tr.576

(3) Xem: Sdd, tr.646

(4) Xem: Văn kiện Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp

hành trung ương Khóa VIH, Nxb Chính trị quốc gia, H;:1997,16 S41541

(5) Xem: Công báo nước Vict Nam dan chủ cộng hòa, Số 3 ngày 15/4/1951, tr 34-35

(6).Xem: Luật tổ chức hội đồng nhân dân và yy ban

nhân dân năm 1994, Điều 36,

TẠP CHÍ LUẬT HỌC - 27

Ngày đăng: 31/03/2014, 09:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w