1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo " Bàn về chế độ trợ cấp thôi việc" potx

4 640 4
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 7,75 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khoản I Điều 42 Bộ luật lao động BLLĐ quy định: "Kj¿ chấm dứ hợp đông lao động đối với người lao động đã làm việc thường xuyên trong các: doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức từ một năm trở l

Trang 1

| NGHIÊN CỨU - TRRO ĐỔI

BẦN VỀ CHẾ ĐỘ TRỢ CẤP THÔI VIỆC

/[ Tạp chí luật học - số 4/1996,

chúng tôi đã đưa ra "Mấy ý kiến về

chế độ hợp đồng lao động" Trong số này,

chúng tôi muốn bàn về chế độ trợ cấp

thôi việc, bởi đây là chế độ gắn bó chặt

chế với chế độ hợp đồng lao động Trợ

cấp thôi việc cũng là một trong những nội

dung quan trọng của pháp luật lao động,

đặc biệt là đối với những nước chưa có

bảo hiểm thất nghiệp như Việt Nam

Khoản I Điều 42 Bộ luật lao động

(BLLĐ) quy định: "Kj¿ chấm dứ hợp

đông lao động đối với người lao động đã

làm việc thường xuyên trong các: doanh

nghiệp, cơ quan, tổ chức từ một năm trở

lên, người sử dụng lao động có trách

nhiệm trợ cđp thôi việc, cứ mỗi năm làm

việc là nửa tháng lương, cộng với phụ cap

lương, nếu có", trừ các đối tượng sau:

-Do doanh nghiệp thay đổi cơ cấu,

công nghệ nên người lao động bị mất VIỆC

làm (đã được trợ cấp mất việc làm theo

Điều 17 BLLĐ);

- "Người lao động vi phạm kỉ luật lao

động bị sa thải (trừ trường hợp tự ý bỏ

việc không có lí do);

- Bán thân người lao động chấm dứt

hợp đồng trái pháp luật (theo tinh thần

khoản 2 Điều 42 BLLĐ và khoản I Điều

10 Nghị định 198/CP) - |

Quyền trợ cấp thôi việc của người lao

động đã được ghi nhận trong pháp luật

của nhiều nước trên thế giới Bản chất của

trợ cấp thôi việc là tổng hợp các yếu tố:

Sự bù đấp cho tiền lương chưa tương

xứng với sức lao động mà người lao động

đã bỏ ra, do địa vị phụ thuộc của họ trong

quan hệ lao động, là phần thưởng cho sự

NGUYEN KIM PHUNG * tận tâm thực hiện đầy đủ hợp đồng của

người lao động khi các bên thanh lí hợp

đồng, là món quà tặng của bên này với

bên kia sau một thời gian dài cộng tác với nhau suôn sẻ, thiện chí và trách nhiệm

ngoài ra, còn được hiểu là một hình thức

chia lợi nhuận sau khi hai bên cùng đóng

góp (vốn, tổ chức quản lí, sức lao động)

để tạo ra giá trị mới hoặc được coi là một

chế độ có tính chất trợ cấp thất nghiệp Song, khi pháp luật nước ta quy định

nguồn kinh phí để trả trợ cấp thôi viéc

"đối với doanh nghiệp được hạch toán vào giá thành hoặc phí lưu thông" (điểm

a khoản 2 Điều 10 BLLĐ) thì chế độ này chủ yếu mang ý nghĩa bù đắp tiên lương hợp đồng của người lao động - tiền lượng trả chậm Với nước ta, đây là chế độ tương đối mới mẻ nên khi thực hiện những quy định trên còn gặp nhiều vướng mắc Xin có một số ý kiến góp phần giải quyết như sau:

Thứ nhất Thời gian "đã làm việc

thường xuyên trong doanh nghiệp từ một

nam trở lên" theo khoản 1 Điều 42 BLLĐ, chỉ là căn cứ để xác định đối ` tượng trợ cấp Vậy thời gian làm căn cứ

tính trợ cấp được xác định như thế nào?

Về vấn đề này, điểm a khoản 3 Điều I0

Nghị định 198/CP chỉ có một giải thích

chung, đó là căn cứ trên "Zổng /hời gian

làm việc theo các bản hợp đồng đã giao

kết, kể cả giao kết bằng miệng mà người

lao động thực tế làm việc cho nguoi su dụng lao động đó" Diém b, c Điều ¡0

-

ne Giảng viên Khoa pháp luật kinh tế

Trường Đại học luật Hà Nội

TẠP CHÍ LUẬT HỌC - 37

Trang 2

| NGHIÊN CỨU - TRRO ĐỔI |

Nghị định số 198/CP cũng chỉ quy định

thêm: Nếu trước đây, người lao động làm

việc trong khu vực nhà nước thì thời gian

này cũng được tính để hưởng trợ cấp, còn

thời gian trước đây người lao động làm

việc trong các doanh nghiệp thuộc các

thành phần kinh tế khác, nay vẫn làm việc

ở đó lại không được đề cập BLLĐ nước

ta mới có hiệu lực từ ngày 01/01/1995

nên với những quy định trên, người sử

dụng lao động ở các thành phần kinh tế

ngoài quốc doanh có cơ sở để không tính

thời gian làm việc trước ngày BLLĐ có

hiệu lực để trả trợ cấp thôi việc, vì: Đây là

một chế độ do Nhà nước quy định, không

phải do các bên thỏa thuận nên không

nằm trong phạm vi của Điều 196 BLLĐ

(về hiệu luc cla BLLD với những thỏa

thuận trước ngày Bộ luật có hiệu lực)

Mặt khác, pháp luật chưa quy định rõ

ràng trách nhiệm người sử dụng lao động

phải tính cả thời gian trước khi BLLĐ có

hiệu lực Hơn nữa, khoản 2 Điều 10 Nghị

định số 198/CP quy định: "Nguồn kinh

phí trả trợ cấp thôi việc đối với doanh

nghiệp được hạch toán vào giá thành"

Do đó, với thời gian đã quyết toán rồi,

sản phẩm đã bán hết thì không thể hạch

toán vào giá thàr.h được nữa, hay nói cách

khác là không có nguồn kinh phí theo

quy định của pháp luật để trả cho thời

gian làm việc trước ngày BLLĐ có hiệu

lực

Vì vậy, các cơ quan có thẩm quyền

cần có sự giải thích cụ thể hơn nữa về

"thời gian làm việc" để làm căn cứ tính

trợ cấp thôi việc và nguồn kinh phí chi

trả, nhất là thời gian làm việc trước ngày

BLLĐ có hiệu lực Điều đó không phải

chỉ cần thiết để đảm bảo lợi ích cho người

lao động khi chấm dứt hợp đồng mà còn

có ý nghĩa đối với nhiều quy định khác

như trả trợ cấp mất việc làm, tính thời

gian nghỉ phép theo thâm niên

38 - TẠP CHÍ LUẬT HỌC

Theo chúng tôi, thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc cho người lao động

là tổng thời gian làm việc trong mot

doanh nghiệp hay cho một người sử dụng lao động bao gồm cả thời gian trước khi BLLĐ có hiệu lực (nếu chưa hưởng chế

độ trợ cấp thôi việc, chế độ trợ cấp mất

sức lao động ) Quy định như vậy đảm

bảo cho sự bình đẳng về quyền lợi của

người lao động ở khu vực trong và ngoài nhà nước, tránh sự phân biệt đối xử trái

với chủ trương phát triển kinh tế nhiều

thành phân Còn về vấn đề kinh phí chi trả, vì phải tính đến lợi ích của người lao động nên có thể quy định như sau:

-Thời gian làm việc sau ngày BLLĐ

có hiệu lực do người sử dụng lao động trả, được hạch toán vào giá thành;

-Với thời gian làm việc trước ngày BLLĐ có hiệu lực thì:

+Nếu làm trong khu vực nhà nước thì

do Nhà nước chi trả theo điểm b,c Điều

10 Nghị định số 198/CP và khoản 2 Điều

24 Nghị định số 72/CP ngày 31/10/1995

về việc làm;

+Nếu làm trong khu vực ngoài quốc doanh thì đơn vị sử dụng lao động trả

Điều đó có cơ sở, bởi trước đây khoản 2

Điều 25 Pháp lệnh hợp đồng lao động

ngày 30/8/1990 đã quy định chế độ trợ

cấp thôi việc khi chấm dứt hợp đồng lao động Khoản I Điều 19 Nghị định số 165/CP hướng dẫn thi hành Pháp lệnh

cũng quy định: "Người lao động được trợ cấp thôi việc bằng 112 tháng lương và phụ `

cấp lương (nếu có) cho một năm làm việc” và nguồn chi trả được quy định “do người sử dụng lao động trả, lấy từ quỹ dự

phòng của đơn vị Quỹ này được trích lập

từ lợi nhuận đơn vị Bộ tài chính phối hợp

với Bộ lao động - thương bình - xá hội

hướng dẫn việc lập và sử dụng quỹ" Tuy sau đó không có thông tư của hai bộ nói trên hướng dẫn về lập quỹ dự phòng nhưng Thông tư số 04/TT - LĐTBXH đã

Trang 3

thôi việc một lần nói trên do don vi tu lo"

(Mục 6 Phần II)

+Riêng trong các doanh nghiệp có

vốn đầu tư nước ngoài thì trước đây chưa

có quy định về chế độ trợ cấp thôi VIỆC,

pháp luật mới chỉ đề cập đến như một nội

dung mà các bên có thể tự thỏa thuận

(Điều 20 Quy chế lao động ban hành kèm

theo Nghị định số 33/HĐBT ngày 16/6/

1990) Vì vậy, mặc dù quyển hưởng trợ

cấp thôi việc của người lao động vẫn phải

đảm bảo nhưng cũng không thể quy định

như một nghĩa vụ bắt buộc người sử dụng

lao động phải tính cả thời gian làm VIỆC

trước ngày BLLĐ có hiệu lực để trả trợ

cấp thôi việc Nguồn kinh phí chỉ trả trên

lấy từ quỹ trợ cấp thất nghiệp do các

doanh nghiệp này đóng cho cơ quan lao

động địa phương bằng 2% tổng quỹ lương

của doanh nghiệp theo quy định tại khoản

1 Điều 146 Quy chế lao động ban hành

kèm theo Nghị định số 233/HĐBT,

Tất nhiên, ở khu vực ngoài quốc

doanh và trong các doanh nghiệp có vốn

đầu tư nước ngoài, chế độ trợ cấp thôi

việc chỉ áp dụng với người lao động vẫn

làm việc ở đó cho đến sau khi BLLD có

hiệu lực Còn những trường hợp đã chấm

dứt hợp đồng lao động trước ngày BLLĐ

có hiệu lực sẽ không xét lại để hưởng trợ

cấp thôi việc theo BLLĐ

Thứ hai: Vấn đề xác định đối tượng

được hưởng trợ cấp thôi việc cũng chưa

hợp lí

Trong số những người được hưởng trợ

cấp thôi việc có cả những người vi phạm

kỉ luật lao động tới mức bi sa thai theo

quy định của pháp luật Đó là những

trường hợp "Người lao động tự ý bỏ việc

7 ngày trong một tháng hoặc 20 ngày

trong một năm mà không có lí do chính

đáng" (Khoản.I Điều 85 BLLĐ)

Theo chúng tôi, đây là quy định

không có cơ sở, bởi người lao động " ý

bỏ việc không có lí do" cũng là sự vi phạm hợp đồng, vi phạm pháp luật lao

động và sự vi phạm này nặng đến mức

pháp luật quy định áp dụng hình thức kỉ

luật lao động cao nhất là sa thải, Người

lao động có thể biết quy định này nhưng

họ vẫn vi phạm bỏ việc thì đối với họ, sự

áp dụng kỉ luật sa thải (chấm dứt hợp đồng lao động) không phải là bị động, có thể coi trường hợp này như là trường hợp

họ đơn phương chấm dứt hợp đồng lao

động nhưng không tuyên bố Xét trong

tương quan với quy định tại khoản 2 Điều

41 BLLĐ: "Người lao động đơn phương

chấm dứt hợp đông lao động trái pháp luật không được hưởng trợ cấp thôi việc" thì quy định trên là không bình đẳng Xét

trong phạm vi quan hệ lao động, chúng ta

thấy một điều vô lí rằng: Người lao động

cố ý vi phạm hợp đồng không phải bồi

thường thiệt hại cho bên bị vi phạm (thiệt

hại do ảnh hưởng tới kỉ luật lao động của

đơn vị, người sử dụng lao động phải chi

phí để tuyển lao động mới, có thể phải hướng dẫn công việc, chi phí nguyên vat liệu cho lao động mới làm thử việc, có thể không đảm bảo kế hoạch ) vẫn được trợ

cấp thôi việc; còn người sử dụng lao động

áp dụng luật lao động để xử lí người vi

phạm ‹(sa thải) phải chịu thiệt hại do người lao động vi phạm gây ra và lại còn phải trợ cấp thôi việc cho người vi phạm

đó

Vì vậy, theo chúng tôi, mỌI trường

hợp đã bị ki luật sa thai déu khong được

trợ cấp thôi việc

Mặt khác, quy định đối tượng không

được hưởng trợ cấp thôi việc bao gồm tất

cả trường hợp thôi việc được hưởng trợ cấp hưu trí hàng tháng và trợ cấp một lần -: theo Điều 145 BLLĐ cũng cần phải xem

Xét lai

Bản chất, mục đích, nguồn trả của

hai chế độ trợ cấp thôi việc và bảo hiểm

xã hội hoàn toàn khác nhau nên việc chế

TẠP CHÍ LUẬT HỌC - 39

Trang 4

độ này loại trừ chế độ kia là không có cơ

sở Đối với những lao động làm việc theo

chế độ hợp đồng không xác định thời hạn

cho đến khi về hưu sẽ bị thiệt thòi vì họ

cũng đóng góp như những người làm

nhiều hợp đồng có xác định thời hạn cộng

lại nhưng họ lại không bao giờ được

hưởng chế độ trợ cấp thôi việc

Do đó, cũng có người có số năm đóng

bảo hiểm cao, xin thôi việc trước khi đủ,

điều kiện nghỉ hưu để được hai khoản trợ

cấp (trợ cấp thôi việc và trợ cấp một lần).,

Đó là biểu hiện rõ nét của việc giải quyết

lợi ích không thỏa đáng Đa số còn lại có

thể chấp nhận thiệt thòi đó vì công việc

của họ không, bị gián đoạn và sau khi thôi

VIỆC, họ đã có nguồn sống là trợ cấp hưu

trí hàng tháng

Song khong thé trừ các trường hợp

thôi việc hưởng chế độ trợ cấp một lần áp

dụng cho ' ‘NgUol lao động không đủ điều

kiện hưởng chế độ hưu trí hàng tháng"

(khoản 3 Điều 145 BLLĐ) Với quy định

chung này, chúng ta có thể hiểu trợ cấp

hưu trí một lần là chế độ áp dụng cho mọi

trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động

mà người lao động không đủ tuổi đời và

số năm đóng bảo hiểm xã hội để hưởng

chế độ hưu trí hàng tháng Nếu lĩnh trợ

cấp một lần theo quy định này, họ sẽ

không được cộng thời gian đóng bảo

hiểm xã hội để sau này hưởng chế độ hưu

trí hàng, thang, nên thực tế chỉ có những

người có hoàn cảnh khó khăn mới lĩnh trợ

cấp một lần dùng ngay Theo quy định

trên, họ lại không được hưởng cả chế độ

trợ cấp thôi việc trong khi họ cũng có giai

đoạn: tìm việc (không có thu nhập) để

giao kết hợp đồng mới như những người

khác làm theo hợp đồng có xác định thời

hạn, đó là điều hết sưc vô lí Mặt khác,

căn cứ vào quy định này, người sử dụng

lao động có thể lí luận rằng: Khi chấm

dứt hợp đồng lao động, mọi người lao

động đều có quyền lĩnh trợ cấp một lần

40 - TẠP CHÍ LUẬT HỌC

Những người không lĩnh trợ cấp này vì chính họ muốn dành lại để hưởng chế độ

hưu trí hàng tháng, nên họ cũng không được hưởng trợ cấp thôi việc Tất nhiên, lí

luận này của người sử dụng lao động là không đúng tinh thần BLLĐ nhưng

không thể phủ nhận hoàn toàn căn cứ của

họ

Để tránh những suy diễn sai nguyên

tắc, đảm bảo bình đẳng và bảo vệ lợi ích

_ chính đáng cho người lao động, cần thay

đổi lại quy định về đối tượng trợ cấp thôi việc; chỉ trừ những trường hợp bị sa thải (do người lao động mắc lỗi nặng) và

trường hợp đã được trợ cấp mất việc làm (cao hơn và đã bao hàm cả trợ cấp thôi VIỆC ) Trong tình hình hiện nay, nếu muốn khuyến khích đầu tư, giải quyết việc làm mà giảm các nguồn chi phí có thể giảm được cho người sử dụng lao động thì cũng chỉ nên trừ thêm các đối tượng thôi việc về hưu, hưởng trợ cấp hưu trí hàng tháng, không nên trừ các đối tượng hưởng, trợ cấp một lần

Phương án này cũng có thể thay bằng cách giữ nguyên Điều 20 Nghị định số 198/CP nhưng thay khoản 3 Điều 145 BLLĐ bằng quy định: "Người lao động

đủ tuổi đời song không đủ thời gian đóng bảo hiểm để hưởng chế độ hưu trí hàng

tháng theo khoản Ì và khoản 2 điêu này thì được hưởng trợ cấp một lần" Sửa theo hướng này sẽ giảm được một cách hợp lí nguồn chi cho quỹ bảo hiểm xã hội, đảm bảo chế độ hưu trí đúng nghĩa là chế độ bảo hiểm bat buộc nhưng chỉ bảo đảm quyền lợi cho người lao động ở mức độ thấp: Người lao động về hưu, hưởng trợ cấp hưu trí hàng tháng hay một lần đều _ không được trợ cấp thôi việc

Ngoài ra, phương thức hạch toán nguồn tro cấp thôi việc vào giá thành cũng cần có hướng dẫn cụ thể của Bộ lao động và Bộ tài chính để đảm bảo nguồn chi 6n định cho chế độ này./.

Ngày đăng: 31/03/2014, 09:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w