1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu bộ ba bất khả thi ở việt nam giai đoạn 1996 2011 , luận văn thạc sĩ

68 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Bộ Ba Bất Khả Thi Ở Việt Nam Giai Đoạn 1996 - 2011
Tác giả Huỳnh Thị Mai Trúc
Người hướng dẫn PGS – TS Nguyễn Thị Liên Hoa
Trường học Trường Đại học Kinh tế TP.HCM
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2012
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 3,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU (12)
  • CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY (14)
    • 2.1 Mô hình bộ ba bất khả thi của Mundell – Fleming (1963) (14)
    • 2.2 Các nghiên cứu về bộ ba bất khả thi của nhóm tác giả Joshua Aizenman, (15)
    • 2.3 Một số nghiên cứu về bộ ba bất khả thi cho các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển (25)
      • 2.3.1 Sự thay đổi cấu trúc tài chính trong xu thế toàn cầu hóa (25)
      • 2.3.2 Quan hệ giữa dự trữ ngoại hối và bộ ba bất khả thi trong thời kỳ khủng hoảng (27)
      • 2.3.3 Sự lựa chọn bộ ba bất khả thi của các nước mới nổi và đang phát triển (29)
    • 3.2 Xây dựng các chỉ số (32)
      • 3.2.1 Chỉ số tiền tệ độc lập (MI) (32)
      • 3.2.2 Chỉ số ổn định tỷ giá hối đoái (ERS) (34)
      • 3.2.3 Chỉ số hội nhập tài chính (KAOPEN) (36)
  • CHƯƠNG 4: NỘI DUNG VÀ CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (38)
    • 4.1 Sự phát triển của các chỉ số bộ ba bất khả thi (38)
      • 4.1.1 Mẫu hình kim cương (38)
      • 4.1.2 Đồ thị biểu diễn sự phát triển các chỉ số bộ ba bất khả thi của Việt (40)
      • 4.1.3 Sự ảnh hưởng của các sự kiện kinh tế tài chính nổi bật đến sự thay đổi các chỉ số bộ ba bất khả thi của Việt Nam (41)
    • 4.2 Mối quan hệ tuyến tính của các chỉ số bộ ba bất khả thi (42)
    • 4.3 Hiệu quả của sự kết hợp các chính sách (44)
    • 4.4 Tác động của bộ ba bất khả thi và dự trữ ngoại hối đối với tăng trưởng (45)
      • 4.4.1 Ước lượng mô hình tổng quát (48)
      • 4.4.2 Ước lượng các chỉ số tổng hợp (49)
  • CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN ....................................................................................... 42 TÀI LIỆU THAM KHẢO (51)
  • PHỤ LỤC (56)

Nội dung

Việc nghiên cứu về bộ ba bất khả thi đã được nhiều học giả nghiên cứu, trong đó có thể nói đến lý thuyết cơ bản về bộ ba bất khả thi được Robert Mundell–Marcus Fleming phát triển từ nhữn

Trang 1

TP Hồ Chí Minh – Năm 2012

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn Quý Thầy Cô Trường Đại Học Kinh Tế TP Hồ Chí Minh đã trang bị cho tôi kiến thức, phương pháp học tập, nghiên cứu trong suốt quá trình học chương trình cao học

Tôi xin chân thành cảm ơn PGS TS Nguyễn Thị Liên Hoa đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình làm luận văn

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè

và đồng nghiệp đã động viên và hỗ trợ tôi hoàn thành chương trình học và luận văn này

Trang 4

hướng dẫn Các số liệu thống kê là trung thực, nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn này chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào cho tới thời điểm hiện nay

Trang 5

2.3.1 Sự thay đổi cấu trúc tài chính trong xu thế toàn cầu hóa 16 2.3.2 Quan hệ giữa dự trữ ngoại hối và bộ ba bất khả thi trong thời kỳ khủng

hoảng 18 2.3.3 Sự lựa chọn bộ ba bất khả thi của các nước mới nổi và đang phát

triển 20

Trang 6

3.2.1 Chỉ số tiền tệ độc lập (MI) 23

3.2.2 Chỉ số ổn định tỷ giá hối đoái (ERS) 25

3.2.3 Chỉ số hội nhập tài chính (KAOPEN) 27

CHƯƠNG 4: NỘI DUNG VÀ CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 29

4.1 Sự phát triển của các chỉ số bộ ba bất khả thi 29

4.1.1 Mẫu hình kim cương 29

4.1.2 Đồ thị biểu diễn sự phát triển các chỉ số bộ ba bất khả thi của Việt Nam theo thời gian 31

4.1.3 Sự ảnh hưởng của các sự kiện kinh tế tài chính nổi bật đến sự thay đổi các chỉ số bộ ba bất khả thi của Việt Nam 32

4.2 Mối quan hệ tuyến tính của các chỉ số bộ ba bất khả thi 33

4.3 Hiệu quả của sự kết hợp các chính sách 35

4.4 Tác động của bộ ba bất khả thi và dự trữ ngoại hối đối với tăng trưởng GDP của Việt Nam 36

4.4.1 Ước lượng mô hình tổng quát 39

4.4.2 Ước lượng các chỉ số tổng hợp 40

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN 42 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

EMG : Các quốc gia thị trường mới nổi

ERS : Ổn định tỷ giá hối đoái

FDI : Đầu tư trực tiếp nước ngoài

FPI : Đầu tư gián tiếp nước ngoài

GDP : Tổng thu nhập quốc dân

IDC : Các nước công nghiệp hóa

IR : Dự trữ ngoại hối

IMF : Quỹ tiền tệ quốc tế

KAOPEN : Hội nhập tài chính

LDC : Các nước đang phát triển

Trang 8

Bảng 3.1 Chỉ số độc lập tiền tệ (MI) của Việt Nam

Bảng 3.2 Chỉ số ổn định tỷ giá hối đoái (ERS) của Việt Nam

Bảng 3.3 Chỉ số hội nhập tài chính (KAOPEN) của Việt Nam

Bảng 4.1 Kiểm định sự ảnh hưởng của các sự kiện kinh tế tài chính nổi bật đến sự

thay đổi các chỉ số bộ ba bất khả thi của Việt Nam

Bảng 4.2 Dự trữ ngoại hối và GDP của Việt Nam từ 1996 đến 2011

Bảng 4.3 Tỷ lệ Dự trữ ngoại hối/GDP của Việt Nam từ 1996 đến 2011

Bảng 4.4 Bộ ba bất khả thi, dự trữ ngoại hối và tăng trưởng GDP

Bảng 4.5 Tác động của các định hướng chính sách đối với GDP

Trang 9

Hình 2.2 Cấu hình bộ ba bất khả thi và dự trữ quốc tế theo thời gian

Hình 2.3 Khuynh hướng chính sách của các nước công nghiệp hóa (IDC) và các

nước đang phát triển (LDC) Hình 2.4 Dự trữ ngoại hối/GDP, giai đoạn 1980 - 2006

Hình 3.1 Đồ thị biểu diễn mức độ độc lập tiền tệ của Việt Nam

Hình 3.2 Đồ thị biểu diễn mức độ ổn định tỷ giá của Việt Nam

Hình 3.3 Đồ thị biểu diễn mức độ hội nhập tài chính (KAOPEN) của Việt Nam Hình 4.1 Bộ ba bất khả thi và dự trữ ngoại hối của Việt Nam giai đoạn 1996-2011 Hình 4.2 Sự phát triển các chỉ số bộ ba bất khả thi của Việt Nam giai đoạn 1996-2011 Hình 4.3 Hiệu quả kết hợp chính sách: (a MI + b ERS), (a MI + c KAOPEN), (b

ERS + c KAOPEN) và (a MI + b ERS + c KAOPEN) Hình 4.4 Hiệu quả từng chính sách của a MI, b ERS và c KAOPEN

Hình 4.5 Dự trữ ngoại hối và GDP của Việt Nam từ 1996 đến 2011

Hình 4.6 Tỷ lệ dự trữ ngoại hối/GDP của Việt Nam từ 1996 đến 2011

Trang 10

TÓM TẮT

Những tiền đề cơ bản của bộ ba bất khả thi trong chính sách quốc tế là phải có

sự cân bằng giữa ba thành phần: độc lập tiền tệ, ổn định tỷ giá và hội nhập tài chính và

sự thay đổi của một thành phần có liên quan đến sự thay đổi tổng trọng của hai thành phần còn lại Việc nghiên cứu về bộ ba bất khả thi đã được nhiều học giả nghiên cứu, trong đó có thể nói đến lý thuyết cơ bản về bộ ba bất khả thi được Robert Mundell–Marcus Fleming phát triển từ những năm 1960; sau đó trong các nghiên cứu của nhóm tác giả Aizenman, Chinn và Ito (2008, 2010) đã đưa ra các công thức cho việc tính các chỉ số của bộ ba bất khả thi, đo lường mức độ đạt được của mỗi mục tiêu; xu hướng phát triển bộ ba bất khả thi ở nhóm các quốc gia, sự lựa chọn chính sách tác động như thế nào đến chính sách kinh tế vĩ mô chẳng hạn như sự biến động sản lượng, lạm phát

và tỷ lệ lạm phát trung hạn của các nền kinh tế trên thế giới

Nếu các nghiên cứu trước đây về bộ ba bất khả thi chỉ bao gồm ba thành phần như trên thì các nghiên cứu gần đây lại cho thấy mối tương quan giữa các thành phần

bộ ba bất khả thi và dự trữ ngoại hối Dự trữ ngoại hối vừa là hậu quả của việc điều chỉnh bộ ba bất khả thi cho phù hợp với cấu trúc mới của hệ thống tài chính quốc tế vừa là mục tiêu của các nền kinh tế mới nổi

Các nghiên cứu gần đây về bộ ba bất khả thi ở các nền kinh tế mới nổi cho thấy các nền kinh tế mới nổi từng bước mở cửa tài chính nhưng không quên kiểm soát vốn, linh hoạt thay vì cố định tỷ giá và sử dụng công cụ chính sách tiền tệ bơm thắt nhịp nhàng để nâng cao tỷ lệ dự trữ của mình

Công cuộc hội nhập tài chính là một chặng đường rất dài đòi hỏi sự ổn định và nhanh nhạy trong việc điều hành chính sách Một trong những lý thuyết cơ bản trong việc điều hành chính sách kinh tế chính là mô hình bộ ba bất khả thi, sự cân bằng của các yếu tố trong bộ ba bất khả thi tạo đà phát triển tốt nhất cho nền kinh tế của một quốc gia Các phân tích dựa trên chính sách này đang là cơ sở nền tảng trong việc điều

Trang 11

hành chính sách ở các quốc gia đang phát triển như Việt Nam Vì vậy, việc áp dụng lý thuyết này một cách hiệu quả có vai trò rất quan trọng trong việc giúp đất nước mau chóng thoát ra khỏi tình trạng khủng hoảng, sớm ổn định lại nền kinh tế Đó chính là lý

do mà người viết lựa chọn đề tài này

Việc điều hành bộ ba bất khả thi không thể dừng ở một mức riêng lẻ mà cần phải gắn nó với sự phát triển kinh tế của đất nước Có như vậy thì việc nghiên cứu lý thuyết này mới có thể mang lại hiệu quả trong thực tiễn Trong khuôn khổ luận văn này, người viết không chỉ tập trung phân tích mối tương quan giữa các yếu tố trong bộ

ba mà còn mở rộng việc xem xét mối tương quan giữa bộ ba bất khả thi và dự trữ ngoại hối và ảnh hưởng của các yếu tố đó đến sự phát triển kinh tế của Việt Nam trong thời đại toàn cầu hóa như thế nào

Trang 12

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU

Đã có nhiều nghiên cứu của các tác giả nổi tiếng trên thế giới về bộ ba bất khả thi và tác động của bộ ba bất khả thi đến nền kinh tế vĩ mô của các nước nên lý thuyết

bộ ba bất khả thi rất được các nhà làm chính sách quan tâm Vì vậy các nhiều nhà kinh

tế đã và đang nghiên cứu về vấn đề này, các nghiên cứu này được áp dụng cho các nước phát triển, các nước đang phát triển, đặc biệt là tại các nước có nền kinh tế mới nổi

Ở Việt Nam, sau hơn 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới, có thể thấy, đất nước chúng ta đã và đang thay da đổi thịt từng ngày Quyết sách về gia nhập thị trường tài chính toàn cầu vào cuối những năm 80 thế kỷ trước đang đem lại cho đất nước ta nhiều

cơ hội phát triển Tuy nhiên, bên cạnh những lợi thế đó, cũng có rất nhiều khó khăn và thách thức đang đặt ra trước mắt như vấn đề khủng hoảng kinh tế, ổn định tỷ giá,…

Mục tiêu nghiên cứu

Xem xét sự lựa chọn bộ ba bất khả thi ở các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển để thấy được tầm quan trọng của việc tích trữ ngoại hối – như là biến số thứ tư của bộ ba bất khả thi nhằm tìm ra giải pháp cân bằng qua lại giữa các yếu tố của bộ ba bất khả thi

Đo lường các chỉ số bộ ba bất khả thi và tác động của các chính sách bộ ba bất khả thi cùng dự trữ ngoại hối đến nền kinh tế Việt Nam, cụ thể là kiểm tra mối quan hệ tuyến tính giữa 3 chỉ số và kiểm định tác động của các chỉ số bộ ba bất khả thi cùng với

dự trữ ngoại hối đối với tỷ lệ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam

Đối tượng nghiên cứu

Để đạt mục tiêu nghiên cứu thì tác giả hướng đến các đối tượng nghiên cứu cụ thể như sau:

Chỉ số mức độ độc lập tiền tệ (MI);

Chỉ số ổn định tỷ giá hối đoái (ERS);

Trang 13

Chỉ số độ mở cửa tài chính (KAOPEN);

Mức độ dự trữ ngoại hối (IR)

Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam (GDP)

Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu: chủ yếu nghiên cứu các chỉ số của bộ ba bất khả thi, dự trữ ngoại hối và tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam giai đoạn 1996 - 2011

Phương pháp nghiên cứu

Trong luận văn này tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

Tính toán các chỉ số của bộ ba bất khả thi theo ở Việt Nam từ năm 1996 – 2011 dựa theo phương pháp tính toán của các tác giả Aizenman, Chinn và Hiro Ito

Sử dụng các mô hình hồi quy của các tác giả trên để thực hiện kiểm định mối tương quan tuyến tính giữa các chỉ số bộ ba bất khả thi, kiểm định tác động của các chỉ số bộ ba bất khả thi và dự trữ ngoại hối đối với GDP của Việt Nam Các dữ liệu được lấy từ nguồn “International Financial Statistics” năm 2011 của IMF cho các dữ liệu về lãi suất và tỷ giá Riêng các chỉ số về GDP, dòng vốn đầu tư và dự trữ ngoại hối, tác giả lấy từ nguồn “World Development Indicators” của World Bank

Dựa vào nguồn dữ liệu thu thập được, tác giả tính toán các chỉ số bộ ba bất khả thi bằng phần mềm Excel, sử dụng phần mềm Megastat Excel 2007 để phân tích

dữ liệu

Kết cấu của luận văn: Luận văn bao gồm 5 chương chính:

Chương 1: Giới thiệu

Chương 2: Tổng quan các kết quả nghiên cứu trước đây

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 4: Nội dung và kết quả nghiên cứu

Chương 5: Kết luận

Trang 14

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

TRƯỚC ĐÂY

Mô hình bộ ba bất khả thi của Mundell – Fleming (1963) chỉ ra rằng một đất nước chỉ có thể đạt cùng lúc hai trong ba mục tiêu: chính sách tiền tệ độc lập, chế độ tỷ giá hối đoái ổn định và tự do tài chính Bộ ba bất khả thi – được minh họa trong hình 2.1; mỗi cạnh của tam giác – đại điện cho chính sách tiền tệ độc lập, chế độ tỷ giá hối đoái ổn định và tự do tài chính – mô tả mong muốn mục tiêu tiềm năng, đối diện với mỗi cạnh (hay mỗi mục tiêu) là các công cụ chính sách tại các đỉnh Mục tiêu hội nhập tài chính đối ngược với đỉnh kiểm soát vốn, mục tiêu ổn định tỷ giá đối ngược với đỉnh

tỷ giá thả nổi hoàn toàn và mục tiêu chính sách tiền tệ độc lập thì đối ngược đỉnh liên minh tiền tệ (chính sách tiền tệ phụ thuộc) Việc đạt được cả ba mục tiêu là hoàn toàn không khả thi

Hình 2.1: Tam giác bất khả thi

Trang 15

2.2 Các nghiên cứu về bộ ba bất khả thi của nhóm tác giả Joshua Aizenman,

Menzie D Chinn, Hiro Ito (2008,2010)

Trên cơ sở kế thừa lý thuyết bộ ba bất khả thi, nhiều nhà kinh tế học đã và đang tiếp tục phát triển lý thuyết này để phát hiện ra các nhân tố có quan hệ mật thiết đến việc lựa chọn mẫu hình của bộ ba bất khả thi Nổi bật trong xu hướng đó là chuỗi nghiên cứu của nhóm tác giả Joshua Aizenman, Menzie D Chinn, Hiro Ito đã đưa ra các mặt tích cực của bộ ba bất khả thi, phác thảo những thang đo mới để đo lường mức

độ của độc lập tiền tệ, ổn định tỷ giá và hội nhập tài chính; đồng thời nhóm tác giả đã xem xét việc lựa chọn mẫu hình bộ ba bất khả thi trong mối tương quan với dự trữ ngoại hối (DTNH) (như là một tỷ lệ so với GDP) Aizenman, Chinn, và Ito (2008) đã chứng minh rằng những cuộc khủng hoảng lớn trong bốn thập niên vừa qua - sự sụp đổ của hệ thống Bretton Woods, cuộc khủng hoảng nợ của Mexico năm 1982, cuộc khủng hoảng Châu Á năm 1997-1998 và cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 – nguyên nhân là do sự đổ vỡ của cấu trúc tài chính

Các tác giả đã nhìn lại sự phát triển của cơ cấu chính sách liên quan đến bộ ba bất khả thi và nắm giữ DTNH Vì vậy, trong suốt thập niên qua, các quốc gia đang phát triển đặc biệt là các nền kinh tế mới nổi đã có xu hướng gia tăng mạnh mẽ DTNH cùng với xu hướng hội tụ về mức trung bình của bộ ba bất khả thi Đồng thời cũng đã thử nghiệm mối quan hệ tuyến tính của các chỉ số bộ ba bất khả thi và đưa ra kết quả là tổng trọng của 3 yếu tố chính sách bộ ba bất khả thi là không đổi, sự tăng lên của một yếu tố là sự đánh đổi với sự giảm hiệu quả của hai yếu tố kia

Nếu như lý thuyết nguyên thủy của bộ ba bất khả thi chưa có công cụ đo lường các chỉ số bộ ba bất khả thi thì trong bài nghiên cứu “Giả thuyết “Bộ ba bất khả thi” trong thời đại khủng hoảng toàn cầu: Sự đo lường và kiểm định” của nhóm tác giả Joshua Aizenman, Menzie D Chinn, Hiro Ito (2008) đã khắc phục sự thiếu sót này bằng cách đưa ra các cách tính các yếu tố của bộ ba bất khả thi Theo đó các chỉ số bộ

ba bất khả thi được đo lường như sau:

Trang 16

Chỉ số độc lập tiền tệ (MI): được đo lường bằng sự tương quan hàng năm của

lãi suất hàng tháng giữa một nước với nước cơ sở được đo lường bằng công thức:

) 1 ( 1

) 1 ( ) (

1 corr i i , j i

MI

Trong đó i là nước nghiên cứu, j là nước cơ sở, lãi suất sử dụng là lãi suất trên thị trường tiền tệ Chỉ số MI có giá trị từ 0 tới 1, chỉ số này càng cao có nghĩa chính sách tiền tệ càng độc lập

Chỉ số ổn định tỷ giá (ERS): được tính toán dựa trên độ lệch chuẩn hàng năm

của tỷ giá hàng tháng giữa nước nghiên cứu và nước cơ sở, được đo lường như sau:

))_(log(

(01

.0

01.0

rate exch stdev

ERS

Chỉ số ERS cũng biến thiên trong khoảng từ 0 đến 1, chỉ số này càng cao cho thấy sự ổn định tỷ giá hối đoái và ngược lại

Chỉ số hội nhập tài chính (KAOPEN): Chinn và Ito (2008) đưa ra đề xuất sử

dụng độ mở tài khoản vốn KAOPEN để đo lường mức độ hội nhập tài chính dựa trên thông tin báo cáo hàng năm về cơ chế tỷ giá và những hạn chế ngoại hối do Quỹ tiền tệ quốc tế IMF (AREAER) phát hành KAOPEN là thành phần được chuẩn hóa quan trọng đầu tiên trong các biến cho thấy sự tồn tại của cơ chế đa tỷ giá, những hạn chế các giao dịch tài khoản vãng lai và tài khoản vốn và yêu cầu của việc bỏ nguồn thu xuất khẩu Một quốc gia với chính sách đa tỷ giá cũng đồng nghĩa với việc đang thực

hiện những chính sách kiểm soát vốn

KAOPEN được đề xuất dựa trên độ mở tài khoản vốn trên pháp lý vì các thước

đo độ mở tài khoản vốn trên pháp lý được dẫn dắt bởi động cơ xác định mục đích các chính sách của các quốc gia KAOPEN cũng biến thiên trong khoảng 0 và 1 Chỉ số này càng cao cho thấy quốc gia mở cửa hơn với các giao dịch vốn xuyên quốc gia

Trang 17

Để tóm tắt xu hướng của các nước, nhóm tác giả xây dựng một “sơ đồ hình thoi” hay còn gọi là mẫu hình kim cương, ở đó ngoài ba yếu tố của bộ ba bất khả thi là chính sách tiền tệ độc lập, tỷ giá hối đoái ổn định và hội nhập tài chính thì tác giả đã thêm vào yếu tố thước đo của quỹ dự trữ ngoại hối (IR/GDP); các thước đo này được biến thiên giữa 0 và 1 Xu hướng lựa chọn bộ ba bất khả thi của các quốc gia từ năm

1971 – 2006 được thể hiện trong hình 2.2, cho thấy xu hướng của các nước như sau:

Các nước công nghiệp hóa (IDC) với xu hướng hội nhập tài chính và ổn định tỷ giá tương ứng với sự sụt giảm nhiều trong chính sách độc lập tiền tệ Riêng nhóm nước không sử dụng đồng Euro mặc dù cũng có cùng mức độ hội nhập tài chính, nhưng lại có một cơ chế tỷ giá tương đối linh hoạt hơn, đồng thời sự tự chủ về tiền tệ cũng nhiều hơn

Các nền kinh tế mới nổi (EMG) không ngừng hội nhập tài chính, linh hoạt hơn trong tỷ giá hối đoái và sụt giảm sự độc lập tiền tệ Các nước đang phát triển nhưng không phải thị trường mới nổi (Non-EMG) cũng dần mở cửa tài chính,

cố gắng để đạt được mức độ nhất định của sự ổn định tỷ giá trong khi vẫn duy trì mức độ độc lập tiền tệ

Ngoài ra nhóm các nước mới nổi thì dễ dàng trong việc tăng dự trữ ngoại hối, đây là khoản đệm an toàn cho sự đánh đổi trong bộ ba bất khả thi; các quốc gia phát triển không phải thị trường mới nổi tăng dự trữ ngoại hối vừa phải hơn và các nước công nghiệp giữ tỷ lệ dự trữ thấp nhất Chính vì điều này mà các nền kinh tế mới nổi đạt được sự kết hợp tương đối cân bằng giữa ba mục tiêu vĩ mô trong những năm 2000 mà không có một nhóm nước nào đạt được

Trang 18

Hình 2.2: Cấu hình bộ ba bất khả thi và dự trữ quốc tế theo thời gian

Nguồn: Aizenman, Chinn và Ito (2008) Nhóm tác giả đã tiến hành kiểm tra mối quan hệ giữa các sự kiện kinh tế tài chính nổi bật với sự thay đổi trong cấu trúc bộ ba bất khả thi (hay còn gọi là điểm gãy cấu trúc) Sự kiện tài chính được xem xét như sự sụp đổ của hệ thống Bretton Woods năm 1973, khủng hoảng nợ ở Mexico năm 1982, và khủng hoảng Châu Á 1997-1998 (tham khảo phần phụ lục 1a), làn sóng toàn cầu hóa 1990 và sự kiện Trung Quốc gia nhập WTO năm 2001 (tham khảo phần phụ lục 1b) Nhóm tác giả xem các năm 1973,

1982, 1990, 1997-1998 và năm 2001 trùng với thời gian diễn ra sự phá vỡ cấu trúc bộ

ba bất khả thi và tiến hành kiểm định bằng nhau giữa giá trị trung bình của các nhóm mẫu con là các thời kỳ có chứa năm diễn ra sự phá vỡ đó

Trang 19

Kết quả cho các biến khác nhau và cho các mẫu được thể hiện trong phụ lục 2

đã cho thấy rằng tất cả các năm ứng với các sự kiện trên đều gây ra sự thay đổi trong mẫu hình bộ ba bất khả thi, dù vậy sự thay đổi không giống nhau với từng nhóm nước;

từ kết quả này cho thấy đối với các nước mới nổi (EMG), việc phá vỡ cấu trúc của chính sách tiền tệ độc lập và tỷ giá hối đoái ổn định được nhận thấy đã xảy ra tương ứng vào năm 2001 và 1982 Trong khi sự sụp làn sóng toàn cầu hóa năm 1990 là sự kiện quan trọng nhất đối với các nước Non-EMG liên quan đến chính sách tự do hóa tài chính quốc gia đó, cuộc khủng hoảng Châu Á là sự kiện quan trọng nhất của các nước EMG Những nhà làm chính sách phải lựa chọn ưu tiên trong 3 chính sách này để đưa ra sự kết hợp tốt nhất hai trong ba chính sách của bộ ba bất khả thi Các quốc gia đứng trước sự đánh đổi trong việc lựa chọn ba chính sách này và tùy từng giai đoạn mà mức độ ưu tiên lựa chọn chính sách sẽ khác nhau

Việc kiểm định về tính khả thi của một mô hình bộ ba bất khả thi được các tác giả thực hiện bằng hàm hồi quy đơn giản nhất với giả định rằng tổng tỷ trọng của ba biến là một hằng số như sau:

1 = a j MI i,t + b j ERS i,t + c j KAOPEN i,t + ε t

Trong đó ngoài các thành phần ε t là sai số do dự trữ ngoại hối Nếu mức độ phù hợp của mô hình hồi quy cao thì nó sẽ cho thấy một mối tương quan tuyến tính là hoàn hảo đủ để giải thích cho sự đánh đổi về mặt tỷ trọng cho các chỉ số Và nếu là tương quan tuyến tính thì các giá trị ước lượng sẽ dao động quanh giá trị 1, ngược lại nếu không tồn tại quan hệ đánh đổi thì hoặc lý thuyết bộ ba bất khả thi sai, hoặc là quan hệ phi tuyến

Các quốc gia khác nhau sẽ lựa chọn con đường phát triển khác nhau, do đó hệ

số của các biến sẽ được chấp nhận nếu chúng khác nhau cho từng nhóm quốc gia Kết quả chạy hồi quy cho thấy rằng ba mục tiêu chính sách là có tương quan tuyến tính với nhau vì mức độ phù hợp của mô hình hồi quy là rất cao với hệ số điều chỉnh được tìm

Trang 20

thấy là trên 94% (tham khảo phần phụ lục 3), do đó các quốc gia sẽ phải đối mặt với việc đánh đổi trong lựa chọn các mục tiêu chính sách Trải qua các thời kỳ khác nhau, các hệ số ước tính sẽ khác nhau, chứng tỏ các quốc gia sẽ có sự thay đổi lựa chọn cấu trúc bộ ba bất khả thi theo thời gian

Từ kết quả tính toán được nhóm tác giả đã vẽ đường tổng hợp khuynh hướng chính sách cho nhóm nước công nghiệp hóa (IDC) và các nước đang phát triển (LDC) theo hình 2.3 như sau:

a Hiệu quả kết hợp chính sách: (a MI + b ERS), (a MI + c KAOPEN), (b ERS + c

KAOPEN) và (a MI + b ERS + c KAOPEN)

b Hiệu quả từng chính sách của a MI, b ERS và c KAOPEN

Hình 2.3: Khuynh hướng chính sách của các nước công nghiệp hóa (IDC) và các

nước đang phát triển (LDC)

Nguồn: Aizenman, Chinn và Ito (2008)

Trang 21

Hình 2.3a cho thấy xu hướng của các nước IDC có xu hướng kết hợp hai chính sách là ổn định tỷ giá và hội nhập tài chính từ những năm 1990, tuy nhiên xu hướng kết hợp giữa ổn định tỷ giá và hội nhập tài chính là xu hướng từ những năm 2000, mặc khác các nước LDC thì xu hướng kết hợp chính sách độc lập tiền tệ và ổn định tỷ giá hoàn toàn chiếm ưu thế

Hình 2.3b cho thấy sự đóng góp của mỗi thành phần aMI, bERS và cKAOPEN vào định hướng chính sách của hai nhóm quốc gia IDC và LDC: các nước LDC có xu hướng cố gắng để đạt được mức độ nhất định của sự ổn định tỷ giá và hội nhập tài chính trong khi vẫn duy trì mức độ độc lập tiền tệ ở mức cao, để thực hiện được điều này các nước phải có lượng dự trữ ngoại hối đủ lớn để can thiệp vào thị trường tiền tệ; trong khi đó các nước IDC có xu hướng tự do hóa tài chính và sự ổn định tỷ giá tương ứng với sự sụt giảm trong chính sách độc lập tiền tệ và hững thay đổi tỷ trọng tương đối của ba mục tiêu chính sách không đòi hỏi các nước IDC phải tích lũy dự trữ ngoại hối như các nước LDC

Năm 2009, trong bài nghiên cứu “Cấu trúc tài chính mới nổi toàn cầu: theo dõi

và đo lường cấu hình bộ ba bất khả thi” của nhóm tác giả Aizenman, Chinn, và Ito đã giải quyết các khía cạnh của quy tắc bộ ba bất khả thi, bằng phương pháp kinh tế lượng

để xem nhiều lựa chọn liên quan đến chính sách bộ ba bất khả thi tác động như thế nào đến mục tiêu chính sách, cụ thể là ổn định trong tăng trưởng sản lượng, lạm phát và mức lạm phát trung hạn

Mô hình cơ bản mà các tác giả ước lượng:

yit = α0 + α1TLMit + α2TRit + α3(TLMit x TRit) + Xitβ + Ztγ + Diδ + εit

Trong đó: yit đo lường hiệu quả vĩ mô (biến động sản lượng, biến động của lạm phát hoặc tỷ lệ lạm phát trung hạn) của quốc gia tại thời điểm t

Trang 22

TLMit là vectơ của 2 trong 3 nhân tố bất kỳ của bộ ba bất khả thi là MI, ERS, KAOPEN

TRit là độ lớn của dự trữ ngoại hối (trừ vàng) trên GDP

(TLMit x TRit) là biến tương tác giữa bộ ba bất khả thi và dự trữ ngoại hối

Xit là vectơ các biến kiểm soát kinh tế vĩ mô bao gồm: thu nhập tương đối của một quốc gia so với Mỹ; thu nhập bình quân đầu người; độ mở cửa thương mại (TOT); trung bình tỷ lệ đầu tư trên GDP; tốc độ tăng dân số; biến động trong tăng trưởng cung tiền M2; lượng tín dụng cá nhân (%/GDP) để đo lường mức độ phát triển về tài chính

Zt là vectơ của những cú sốc toàn cầu: thay đổi trong tỷ giá thực của Mỹ; sự giảm sản lượng toàn cầu; những cú sốc trong giá dầu

Di là tập hợp các biến giả đặc trưng như biến giả cho các quốc gia nhập khẩu dầu mỏ hoặc cho các khu vực Các biến giải thích không có ý nghĩa thống kê sẽ bị loại

ra khi thực hiện ước lượng

Thành phần ε là các sai số cùng phân phối và độc lập

Bằng cách phân tích hồi quy nhóm tác giả đã ước lượng mô hình tổng quát và ước lượng các chỉ số tổng hợp (sự kết hợp của hai trong 3 chính sách) các chỉ số bộ ba bất khả thi tác động như thế nào đến các yếu tố hiệu quả vĩ mô (biến động sản lượng, biến động của lạm phát hoặc tỷ lệ lạm phát trung hạn) của 3 nhóm nước là các quốc gia đang phát triển, các quốc gia xuất khẩu hàng hóa đang phát triển và các quốc gia thị trường mới nổi, nhóm tác giả cũng có tính đến sự tương tác của các chỉ số với dự trữ ngoại hối (tham khảo phụ lục 4 – 12)

Bảng 2.1: Tổng hợp các tác động của cấu hình bộ ba bất khả thi

MI và KAOPEN

ERS và KAOPEN

Trang 23

giảm, nhưng nếu

tỷ lệ IR >

27% thì sẽ biến động tăng

giảm, nhưng với

tỷ lệ IR >

26% có thể sẽ biến động tăng

Các quốc gia

mới nổi (EMG) giảm

Tăng, nhưng nếu

tỷ lệ IR >

21-24% có thể giảm mức độ biến động

giảm nếu kết hợp với

tỷ lệ IR cao

Mức độ tác động của các yếu tố bộ ba bất khả thi đến biến động của lạm phát

Nhóm các quốc

MI và ERS

MI và KAOPEN

ERS và KAOPEN

MI và KAOPEN

ERS và KAOPEN

Các quốc gia Tăng giảm, nếu giảm giảm giảm, nếu

Trang 24

tỷ lệ IR > 67% thì sẽ biến động tăng Các quốc gia

mới nổi (EMG) giảm giảm giảm giảm

Nguồn: Aizenman, Chinn và Ito (2009)

Từ bảng 2.1 cho thấy tác động của việc kết hợp chính sách của bộ ba bất khả thi đối với hiệu quả vĩ mô của nền kinh tế như sau:

- Mức độ độc lập tiền tệ càng cao có thể càng làm giảm biến động sản lượng, trong khi tỷ giá càng ổn định lại làm gia tăng mức biến động, tuy nhiên vấn đề này có thể được giải quyết bằng cách tăng dự trữ ngoại hối;

- Độc lập tiền tệ đi kèm với một tỷ lệ lạm phát cao hơn trong khi ổn định tỷ giá và hội nhập tài chính sẽ có thể mang lại một tỷ lệ lạm phát thấp;

- Việc theo đuổi một chính sách tỷ giá ổn định cùng với một nền tài chính phát triển

ở mức trung bình có thể làm gia tăng biến động sản lượng;

- Hội nhập tài chính đi kèm một nền tài chính phát triển có thể làm giảm biến động sản lượng, ngược lại nếu một nền tài chính phát triển ở mức thấp lại có thể làm gia tăng biến động sản lượng;

- Trong số các chỉ số bộ ba bất khả thi thì độc lập tiền tệ tác động ngược chiều lên mức biến động sản lượng đầu ra mặc dù nó có ảnh hưởng cùng chiều lên mức độ lạm phát Hội nhập tài chính tác động ngược chiều lên mức biến động đầu ra trong

Trang 25

khi nó vẫn gây ra ảnh hưởng ngược chiều lên mức lạm phát Tỷ giá càng ổn định càng làm giảm mức lạm phát nhưng nếu đồng thời nắm giữ quá nhiều dự trữ ngoại hối (45% trên GDP) sẽ gây ra tác động cùng chiều làm tăng mức lạm phát

- Khi quan sát các nền kinh tế thị trường mới nổi, quốc gia với mức độ ổn định tỷ giá cao hơn thường có biến động về sản lượng lớn, mặc dù tác động này có thể được giảm thiểu bằng cách gia tăng tỷ lệ dự trữ ngoại hối trên GDP cao hơn ngưỡng khoảng 20% trên GDP thì có thể làm giảm tác động lên sản lượng Điều này giúp giải thích được sự gia tăng trong dự trữ ngoại hối ở các quốc gia thị trường mới nổi trong thời gian gần đây

- Nghiên cứu tìm thấy một số bằng chứng cho rằng nếu nền kinh tế theo đuổi sự ổn định về tỷ giá cao hơn và mở cửa tài chính trong khi dự trữ ngoại tệ lớn, nó có thể

sẽ trải qua sự gia tăng về mức độ lạm phát Phát hiện này cho thấy rằng nền kinh tế với mức độ vượt quá ngưỡng dự trữ ngoại hối phải đối mặt với một giới hạn trong việc vô hiệu hóa tỷ giá hối đoái

phát triển

2.3.1 Sự thay đổi cấu trúc tài chính trong xu thế toàn cầu hóa

Joshua Aizenman (2010) cho rằng toàn cầu hóa tài chính quy mô lớn tại hầu hết các quốc gia trong những năm 1990-2000 đã làm thay đổi bối cảnh của bộ ba bất khả thi Một hệ quả không mong muốn của toàn cầu hóa tài chính là sự bất ổn định tài chính ngày càng gia tăng liên quan đến điểm dừng đột ngột của các dòng vốn vào, các

Trang 26

sự gia tăng dự trữ đang nắm giữ đã diễn ra ở các nước đang phát triển, đặc biệt là ở Đông Á mới nổi

Hội nhập tài chính của các nước đang phát triển đã dẫn đến những thay đổi mạnh mẽ trong các nhu cầu về dự trữ quốc tế Trước khi hội nhập tài chính, nhu cầu dự trữ có vai trò như sự tự bảo hiểm chống lại các dòng chảy thương mại dễ bị tác động Tuy nhiên, hội nhập tài chính của các nước đang phát triển cũng cần phải tự bảo đảm chống lại dòng chảy tài chính không ổn định Bởi thị trường tài chính là biến động, rủi

ro gia tăng nhanh chóng khi đó phát sinh nhu cầu về ngoại tệ Do đó, động cơ tự bảo hiểm tài chính liên quan đến rủi ro ngày càng tăng đột ngột Các cuộc khủng hoảng Đông Á là một sự kiện đầu nguồn, các nước bị ảnh hưởng phản ứng bằng cách gia tăng lớn trong kho dự trữ

Mối liên hệ giữa dự trữ tích trữ và hội nhập tài chính cho biết thêm một chiều thứ tư của bộ ba bất khả thi Trong ngắn hạn, các quốc gia đã hy vọng rằng tích trữ và quản lý dự trữ ngoại hối có thể làm tăng sự ổn định tài chính và năng lực để thực hiện chính sách tiền tệ độc lập Sự phát triển này dường như quan trọng đối với các thị trường mới nổi – nơi mà chỉ hội nhập một phần so với hệ thống tài chính toàn cầu, và

là nơi chính sách vô hiệu hóa được sử dụng nhiều để quản lý lạm phát dưới tác động của tích trữ ngoại hối (Trung Quốc và Ấn Độ là ví dụ điển hình của xu hướng này) Ngược lại, hầu hết các nước công nghiệp giữ IR/GDP thấp phản ánh việc tiếp cận dễ dàng của các nước công nghiệp thông qua trao đổi song phương trong trường hợp có những nhu cầu khẩn cấp về ngoại tệ cũng đồng thời phản ánh khả năng vay bên ngoài bằng ngoại tệ của các nước này

Kinh nghiệm của các thị trường mới nổi cho thấy rằng mặc dù khả năng hội nhập tài chính hạn chế nhưng trong quá trình phát triển, các nước tích trữ dự trữ ngoại hối có thể nới lỏng một số hạn chế của bộ ba bất khả thi trong ngắn hạn Khả năng này

có thể được minh họa bằng sự tương phản xu hướng bộ ba bất khả thi giữa Mỹ Latinh

Trang 27

và thị trường mới nổi Châu Á Nền kinh tế mới nổi Mỹ Latinh tự do hóa thị trường tài chính của họ nhanh chóng từ những năm 1990, sau khi một số mất việc làm trong những năm 1980, trong khi giảm mức độ độc lập tiền tệ và duy trì ổn định tỷ giá hối đoái ở mức độ thấp hơn trong những năm gần đây Mặt khác, nền kinh tế mới nổi châu

Á, nổi bật bằng cách đạt được ổn định tỷ giá hối đoái và hội nhập tài chính cao trong khi thể hiện nhất quán sự độc lập tiền tệ lớn hơn Hai nhóm các nền kinh tế có nhiều phân biệt với nhau bằng mức độ cao của họ về dự trữ ngoại hối Cùng với việc không

từ bỏ ổn định tỷ giá hối đoái và độc lập tiền tệ, Trung Quốc đã tăng nắm giữ dự trữ ngoại hối trong khi sự cởi mở tài chính gia tăng một cách chậm chạp Bằng chứng này

là phù hợp với quan điểm rằng nỗ lực của các quốc gia để nới lỏng bộ ba bất khả thi trong ngắn hạn liên quan đến sự gia tăng dự trữ ngoại hối

2.3.2 Quan hệ giữa dự trữ ngoại hối và bộ ba bất khả thi trong thời kỳ khủng

hoảng

Theo quan sát của Joshua Aizenman, Menzie D Chinn, Hiro Ito trong vòng 2 thập kỷ gần đây, ngày càng nhiều các quốc gia đang phát triển đã chọn hệ thống tỷ giá hối đoái hỗn hợp (hybrid exchange rate regimes) – ví dụ như hệ thống tỷ giá hối đoái thả nổi có quản lý - bằng cách gia tăng dự trữ ngoại tệ Mặc dù có linh hoạt hơn trong việc điều hành tỷ giá hối đoái nhưng tỷ lệ IR/GDP vẫn tăng lên đáng kể, đặc biệt là từ sau khủng hoảng Đông Á 1997-1998

Có thể thấy rằng sự tích lũy dự trữ ngoại hối đã diễn ra không đồng đều: trong khi chỉ số IR/GDP của các quốc gia công nghiệp hóa là tương đối ổn định ở khoảng 4%, thì chỉ số này của các quốc gia đang phát triển tăng từ mức 5% năm 1980 cho đến 27% vào năm 2006 Ngày nay, khoảng 2/3 lượng dự trữ ngoại tệ của thế giới được nắm giữ bởi các quốc gia đang phát triển Nhưng hầu hết các khoảng dự trữ ngoại tệ này là

ở Châu Á, nơi mà từ năm 1980 cho tới năm 2006 tỷ lệ IR/GDP đã tăng từ mức 5% cho tới 37% (tỷ lệ này là 32% đối với các nước Châu Á ngoại trừ Trung Quốc) Nhưng sự

Trang 28

thay đổi đáng kể nhất đã diễn ra tại Trung Quốc: chỉ số IR/GDP của Trung Quốc đã tăng từ mức 1% năm 1980 tới khoảng 41% năm 2006 (và đến gần 50% vào năm 2008)

Tỷ lệ dự trữ ngoại hối tăng đáng kể từ sau cuộc khủng hoảng Châu Á 1997 – 1998 nhưng lại có sự giảm lại vào năm 2000 Tuy nhiên, vào đầu những năm 2000 có một sự thay đổi cấu trúc đó là sự gia tăng mạnh mẽ dự trữ ngoại hối của Trung Quốc Dự trữ ngoại hối được thể hiện trong hình 2.4 dưới đây

Hình 2.4: Dự trữ ngoại hối/GDP, giai đoạn 1980 - 2006

Nguồn: Aizenman, Chinn và Ito (2010) Như vậy, việc toàn cầu hóa của thị trường tài chính là điều hiển nhiên trong bối cảnh hội nhập tài chính ngày càng gia tăng của tất cả các nhóm nước trên thế giới Trong khi mô hình nguyên bản của học thuyết bộ ba bất khả thi không đề cập đến vai trò của dự trữ ngoại tệ, thì những xu hướng gần đây cho thấy rằng các nguồn dự trữ ngoại tệ có thể liên quan chặt chẽ đến việc thay đổi mô hình của học thuyết bộ ba bất

Trang 29

khả thi đối với các nước đang phát triển Các nghiên cứu ban đầu tập trung vào vai trò của dự trữ ngoại tệ như là một công cụ trung gian trong việc điều hành cơ chế tỷ giá hối đoái thả nổi có quản lý Bên cạnh những hữu ích thì mô hình trên có một số hạn chế trong việc giải thích cho sự gia tăng gần đây trong DTNH – mô hình này cho rằng việc linh hoạt hơn trong điều hành chính sách tỷ giá trong các thập kỷ gần đây có thể làm giảm lượng dự trữ ngoại tệ của một quốc gia, trái ngược với những xu hướng đã được báo cáo trên đây

2.3.3 Sự lựa chọn bộ ba bất khả thi của các nước mới nổi và đang phát triển

Trong bài nghiên cứu “Châu Á đương đầu với bộ ba bất khả thi” của nhóm tác giả IIa Patnaik and Ajay Shah (2010) chỉ ra rằng chính sách tiền tệ phản chu kỳ là một trong những chiến lược mà các nhà điều hành tiền tệ thực hiện mục tiêu ổn định tỷ giá, kiềm chế lạm phát và gia tăng sản lượng Ngày nay, hầu hết Châu Á được đặc trưng bởi sự phát triển hội nhập tài khoản vốn (TKV) đáng kể trên chế độ tỷ giá cứng nhắc Trong phạm vi các dòng vốn là chu kỳ, giao dịch tiền tệ của các NHNN sẽ biến đổi dòng vốn mang tích chất chu kỳ vào chính sách tiền tệ chu kỳ Joshua Aizenman (2010) cho thấy rằng các nước EMG di chuyển về phía chế độ tỷ giá tương đối linh hoạt hơn, hội nhập tài chính cao hơn và độc lập tiền tệ thấp hơn, các quốc gia đang phát triển không thuộc EMG EMG đã có kinh nghiệm hội tụ về mức trung bình của cả

ba chỉ số vào năm 2000 Ngược lại, mức trung bình của các quốc gia không thuộc EMG chưa có xu hướng hội tụ như vậy

Có thể thấy rằng chế độ trung gian của bộ ba bất khả thi là phù hợp với các quốc gia đang phát triển và EMG, như vậy vấn đề mấu chốt của cơ chế trung gian nằm ở việc kiểm soát vốn Kiểm soát vốn cho phép Chính phủ vừa tiến hành triển khai chính sách tỷ giá vừa điều hành chính sách tiền tệ với tư cách là những công cụ riêng biệt vậy thì mức độ kiểm soát vốn và cơ chế tỷ giá ở các nền kinh tế Châu Á đã diễn ra như thế nào

Trang 30

Mức độ kiểm soát vốn

Patnaik & Shah (2010) đã chỉ ra rằng chênh lệch giữa giá trị thật và giá trị báo cáo từ hoạt động xuất, nhập khẩu của các dòng tài chính xuyên biên giới sẽ xảy ra khi giao dịch TKV lớn và nó hoạt động như một cơ chế để phá vỡ kiểm soát vốn Đồng thời, tác giả đã khám phá rằng hội nhập TKV trên thực tế phát sinh một khi các tập đoàn đa quốc gia đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Do đó, tổng các dòng vốn trên TKV như là một thước đo của nền kinh tế toàn cầu hóa

Chế độ tỷ giá hối đoái

Ila Patnaik and Ajay Shah (2010) kiểm tra chế độ tỷ giá của 11 nền kinh tế Châu

Á bằng một mô hình hồi quy tuyến tính dựa theo tỷ giá trao đổi chéo Kết quả hồi quy cho thấy rất ít thay đổi đáng kể trong chế độ tỷ giá hối đoái thực

Nhìn chung, các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển đã có sự tiến bộ hơn về chế độ tỷ giá tuy nhiên không có nền kinh tế Châu Á nào có thả nổi tỷ giá ngay cả Hàn Quốc nơi mà có chế độ tỷ giá linh hoạt nhất Châu Á Sau các cuộc khủng hoảng tài chính, các quốc gia trở nên linh hoạt hơn so với tỷ giá hối đoái Như vậy, các nghiên cứu cho thấy rằng Châu Á tránh né tự do hóa TKV về mặt lý thuyết nhưng trên thực tế quá trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới vẫn tiếp tục, đồng thời duy trì tỷ giá hối đoái cứng nhắc nhưng đã có sự chuyển động theo hướng linh hoạt Điều đó cho thấy các nền kinh tế Châu Á đặc biệt là các nền kinh tế mới nổi có khuynh hướng ổn định tỷ giá khi nắm giữ khối lượng lớn DTNH trong khi đồng thời theo đuổi nền tài chính tự

do Có thể nói các nước EMG đã thành công với việc áp dụng chế độ trung gian của bộ

ba bất khả thi

Trang 31

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Phương pháp nghiên cứu:

Tác giả chủ yếu sử dụng phương pháp theo nhóm tác giả Aizenman, Chinn, Ito (2008, 2010) để xây dựng chỉ số cho mỗi mục tiêu chính sách bộ ba bất khả thi

Tác giả quan sát các chỉ số giai đoạn 1996-2011 của Việt Nam, được tính theo năm và chia là ba giai đoạn cụ thể là 1996 – 2000, 2001 – 2006 và 2007 – 2011

Để tính toán các mục tiêu của chính sách bộ ba bất khả thi MI, ERS và KAOPEN, đối với 2 chỉ số đầu tiên, tác giả sử dụng phương pháp của Aizenman, Chinn, Ito (2008) để đo lường Tuy nhiên, đối với chỉ số KAOPEN, để đơn giản hóa tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu của Hutchinson, Sengputa và Singh (2010)

Về tần số của dữ liệu, tác giả sử dụng dữ liệu theo năm, bắt đầu từ năm 1996 đến năm 2011 Các dữ liệu được lấy từ nguồn “International Financial Statistics” năm

2011 của IMF cho các dữ liệu về lãi suất và tỷ giá Riêng các chỉ số về GDP, dòng vốn đầu tư và dự trữ ngoại hối, tác giả lấy từ nguồn “World Development Indicators” của World Bank

Sau khi tính toán các chỉ số, tác giả tác giả sử dụng hàm hồi quy để kiểm tra mối quan hệ tuyến tính của sự đánh đổi giữa các chỉ số của bộ ba bất khả thi, kiểm tra xem

có hay không tổng trọng số của ba biến chính sách là một hằng số Để xem xét vấn đề này, tác giả kiểm định tính phù hợp của mô hình hồi quy sau:

1 = a * MI + b *ERS + c * KAOPEN + εt Yếu tố dự trữ ngoại hối có ảnh hưởng đến hiệu quả chính sách bộ ba bất khả thi đối với nền kinh tế vĩ mô nên tiếp theo tác giả kiểm định tác động của cấu hình chính sách bộ ba bất khả thi và dự trữ ngoại hối đối với các kết quả chính sách: tăng trưởng kinh tế (GDP) (ở đây tác giả tính toán GDP trên đầu người, còn nhóm tác giả

Trang 32

Aizenman, Chinn, Ito thì tính biến động sản lượng đầu ra) Mô hình tổng quát được xây dựng như sau:

Y = α0 + α1 * TLM + α2 * TR + α3 * (TLM * TR) Trong đó: Yđo lường hiệu quả vĩ mô

TLM là vectơ của 2 trong 3 nhân tố bất kỳ của bộ ba bất khả thi là MI, ERS, KAOPEN

TR là độ lớn của dự trữ ngoại hối (trừ vàng) trên GDP

(TLMx TRt) là biến tương tác giữa bộ ba bất khả thi và dự trữ ngoại hối

3.2 Xây dựng các chỉ số

3.2.1 Chỉ số tiền tệ độc lập (MI)

Chỉ số này được tính dựa trên mối tương quan giữa lãi suất nước được nghiên cứu (Việt Nam) và nước cơ sở (Mỹ) Theo Ainzenman, Chinn, Ito (2008), lãi suất được

sử dụng là lãi suất trên thị trường tiền tệ hàng tháng (money market rate)

Trong đó: ii là lãi suất của Việt Nam, còn ij là lãi suất của Mỹ Ở đây tác giả lấy lãi suất thị trường tiền tệ (money market rate) của Việt Nam và Mỹ từ nguồn

“International Financial Statistics” năm 2011 của IMF

Theo công thức trên thì MI có giá trị nằm trong khoảng từ 0 đến 1 MI càng lớn thì mức độ độc lập vào tiền tệ càng cao

Tác giả sử dụng phương pháp tính toán của nhóm tác giả Aizenman, Chinn, Ito cho kết quả tính toán như sau:

Trang 33

Bảng 3.1: Chỉ số độc lập tiền tệ (MI) của Việt Nam

MI 0,5 0,5 0,655 0,766 0,616 0,461 0,265 0,414

MI 0,414 0,458 0,458 0,538 0,551 0,551 0,458 0,568

Nguồn: tính toán của tác giả

Hình 3.1: Đồ thị biểu diễn mức độ độc lập tiền tệ của Việt Nam

Nguồn: Tính toán của tác giả Qua hình 3.1 cho thấy giai đoạn từ năm 2000 trở về trước mức độ độc lập tiền tệ của Việt Nam khá cao vì trong giai đoạn này lãi suất Việt Nam và lãi suất của Mỹ tương quan âm với nhau, cụ thể là lãi suất Việt Nam có xu hướng giảm trong khi lãi suất của Mỹ lại tăng Từ sau năm 2000 mức độ độc lập tiền tệ của Việt Nam trong giai đoạn giảm khá mạnh, nguyên nhân là do tương quan lãi suất giữa Việt Nam và Mỹ biến động cùng chiều, thể hiện chính sách tiền tệ của Việt Nam gần như phụ thuộc vì nhiều lý do như: Việt Nam đang hội nhập kinh tế quốc tế, chuẩn bị tiền đề cho việc gia

Trang 34

nhập WTO như chính thức là thành viên tổ chức APEC năm 1998, ký kết hiệp định sonh phương với Mỹ năm 2000, chính thức gia nhập WTO năm 2007,…

Năm 2007 chỉ số mức độ độc lập tiền tệ của Việt Nam là 0,538, năm 2008, 2009

là 0,551; trong giai đoạn từ năm 2007 đến nay nhìn chung chỉ số MI của Việt Nam đạt mức khá, cho thấy mức độ độc lập tiền tệ của Việt Nam ở mức trung bình so với Mỹ

3.2.2 Chỉ số ổn định tỷ giá hối đoái (ERS)

Công thức của chỉ số này như sau:

Trong đó, chỉ số biểu thị cho tỷ lệ trượt giá giữa đồng tiền nước nghiên cứu (VND) và đồng tiền nước cơ sở (USD) Số liệu

tác giả cũng lấy từ nguồn số liệu “International Financial Statistics” năm 2011 của IMF

Chỉ số ERS cũng nằm từ 0 đến 1, và mức độ càng lớn thì biểu thị sự ổn định về

tỷ giá hối đoái và ngược lại

Bảng 3.2: Chỉ số ổn định tỷ giá hối đoái (ERS) của Việt Nam

Ngày đăng: 26/02/2023, 06:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm