Trong trường hợp không có sẵn các vi rút không gây bệnh phù hợp, vi rút làm vắc xin sẽ là phân tuýp chứa HA của một vi rút cúm có khả năng gây bệnh cao, nơi mà gien HA bị cải biến để loạ
Trang 1CảNH
BáO Và
ĐốI phó
với dịch
Tổ Chức Y Tế
Thế Giới
Sản xuất các lô thử nghiệm vắc xin cúm bất hoạt từ các phân tuýp có nguồn gốc từ vi rút cúm gia cầm
Đánh giá tạm thời rủi ro về an toàn sinh học
Bộ phận giám sát và đối phó với bệnh truyền nhiễm
Trang 2Ch−¬ng tr×nh chèng cóm toµn cÇu cña WHO
S¶n xuÊt c¸c l« thö nghiÖm v¾c xin cóm bÊt ho¹t tõ c¸c ph©n tuýp cã nguån gèc tõ vi rót cóm gia cÇm
§¸nh gi¸ t¹m thêi rñi ro vÒ an toµn sinh häc
Tæ chøc Y tÕ ThÕ giíi
Trang 3Tổ chức Y tế Thế giới 2003
Cách định danh và trình bày của tài liệu này không mang bất cứ ngụ ý nào của Tổ chức Y tế Thế giới về thực trạng pháp lý của quốc gia, lãnh thổ, khu vực hay chính quyền, cũng như các đường biên giới Những đường phân khu trên bản đồ chỉ là tương đối và có thể không hoàn toàn chính xác
Việc sử dụng tên của một số công ty và các sản phẩm của một số nhà sản xuất không ngụ ý rằng Tổ chức Y tế Thế giới đề nghị hay xác nhận sự ưu việt của các công ty hay sản phẩm này so với những công ty và sản phẩm không được nhắc đến Ngoại trừ trường hợp bỏ quên hoặc sai sót, tên của các sản phẩm độc quyền được biểu thị bằng các chữ cái đầu viết hoa
Tổ chức Y tế Thế giới không đảm bảo rằng thông tin trong tài liệu này là hoàn đầy đủ và chính xác, do đó, sẽ không chịu bất cứ trách nhiệm nào cho những hậu quả gây ra bởi việc
sử dụng tài liệu này
Trang 4Mục Lục
1 Giới thiệu 2
2 Phạm vi của đánh giá rủi ro 2
3 Phân lập vi rút 3
4 Thử nghiệm khả năng gây bệnh 3
5 Sản xuất vắc xin 3
6 Xác định các nguy cơ .3
6.1 Nguy cơ với vi rút nhận .3
6.2 Nguy cơ phát sinh từ sản phẩm gien cấy .4
6.3 1.3 Nguy cơ phát sinh do thay đổi đặc tính sinh bệnh hiện có 4
6.4 Những nguy cơ gây nên bởi sự chuyển thành các vi sinh vật cùng họ 7
6.5 Khả năng gây hại cho sức khoẻ con người .7
7 ấn định về cấp độ bảo vệ tạm thời 7
8 Tính chất của công việc và cân nhắc các biện pháp quản lý nhằm bảo vệ sức khoẻ con người .8
9 Các nguy cơ đối với môi trường và các biện pháp khống chế thêm khi cần thiết 8
10 Tài liệu tham khảo 10
Phụ lục 1: Thử nghiệm sự suy giảm của các chủng vắc xin trên động vật có vú 12
Thử vi rút 12
Trang thiết bị thí nghiệm 12
Chồn sương 12
Chuột 13
Phụ lục 2: Các đối tác tham gia .15
Trang 51 Giới thiệu
Các vi rút cúm gia cầm1 có tính năng gây bệnh cao đã gây ra các ca nhiễm bệnh H5N1 trên người ở Hồng Công năm 1997 và 2003, và H7N7 ở Hà Lan Nói chung, tiếp xúc thường xuyên với các vi rút cúm từ các loài động vật lông vũ hoang dã và gia cầm có khả năng gây nên nguy cơ đại dịch Cùng với các biện pháp thú y và phương thức hoạt động ở trang trại, thế giới đang nỗ lực tìm kiếm những biện pháp dự phòng cấp bách cho cúm đại dịch Những biện pháp này bao gồm việc phát triển nhanh những chủng vắc xin an toàn có khả năng nuôi cấy trong trứng gà hoặc trong tế bào các động vật có vú ngay khi có cảnh báo về đại dịch, và sản xuất ra các loại vắc xin đáp ứng những nhu cầu dịch tễ
Hệ gien của một vi rút cúm có 8 phân đoạn Mặc dù có thể dùng một vi rút chim tuýp hoang không có khả năng gây bệnh, các phân tuýp phát triển nhanh dường như vẫn là cơ sở để phát triển vắc xin cho các đại dịch Khi một phân tuýp được sử dụng, nó có khả năng chứa các prôtêin HA (haemagglutini) và NA (neurraminidase) từ các vi rút mới ở người hoặc chim/gia cầm, và 6 prôtêin còn lại từ vi rút cúm ở người, chẳng hạn A/PR/8/34(H1N1) 2 Nếu đã có sẵn một vi rút không gây bệnh phù hợp, các phân tuýp được tạo ra bằng cách thông thường Trong trường hợp không có sẵn các vi rút không gây bệnh phù hợp, vi rút làm vắc xin sẽ là phân tuýp chứa HA của một vi rút cúm có khả năng gây bệnh cao, nơi mà gien HA bị cải biến để loại bỏ các axít amin đa bazơ ở chuỗi liên kết peptit HA Sự cải biến của HA sẽ loại
bỏ những yếu tố gây bệnh cao
Các phân tuýp sẽ được sản xuất bởi di truyền nghịch bằng công nghệ 8 plasmit hoặc 12 plasmit
Hệ 8 plasmit:
8 plasmit mà mỗi một plasmit mã hoá một trong những gien của vi rút cúm, sẽ hoạt động dưới sự điều khiển của hệ Pol I- Pol II
Hệ 12 plasmit:
8 plasmit mà mỗi một plasmit mã hoá mộtt trong những gien của vi rút cúm sẽ hoạt động dưới sự điều khiển của hệ pol I 4 plasmit sẽ biểu thị các prôtêin PB1, PB2, PA và NP
2 Phạm vi của đánh giá rủi ro
Tài liệu này được do trung tâm hợp tác về nghiên cứu và tra cứu cúm của tổ chức y tế thế giới phát triển, các trung tâm cúm quốc gia và các đối tác khác (danh sách các đối tác xin xem ở phụ lục 2) Văn bản phác thảo đã được gửi đến các hội viên cúm trên toàn thế giới
1 Còn gọi là cúm gà hoặc cúm chim
2
A/PR/8/34 (H1N1)
Danh pháp quốc tế quy định nguyên tắc đặt tên một phân tuýp: tuýp vi rút _ địa phương phân lập được vi rút_
số thứ tự theo dõi_ năm phân lập vi rút _ và công thức kháng nguyên H và N Ngoài ra còn có thể gặp chú thích trong phân tuýp về vi rút ở các loài, như ở chim, lợn ngựa
(Chú thích là của người dịch)
Trang 6bao gồm hơn 1600 chuyên gia về cúm và các đồng nghiệp khác ở các viện hàn lâm, các tổ chức cấp phép quốc gia, các hãng sản xuất dược phẩm, và các viện nghiên cứu quan tâm đến giám sát và phòng chống cúm để cùng thảo luận Chúng tôi đã thu được những nhận xét cụ thể từ hơn 40 cá nhân, tổ chức và các công ty dược phẩm Những nhận xét, đánh giá này đều
được biên tập và thống nhất thành văn bản cuối cùng này
Sự tạo thành các phân tuýp có nguồn gốc từ các vi rút cúm chim có khả năng gây bệnh cao
được tiến hành dưới các điều kiện BSL3+ hoặc 4 Sau khi được kiểm tra là không gây bệnh, các phân tuýp sẽ sẵn sàng để các nhà sản xuất vắc xin có thể sản xuất hàng loạt các vắc xin thí điểm dành cho thí nghiệm và nghiên cứu Đánh giá rủi ro tức thời này nhằm hướng dẫn các nhà sản xuất vắc xin về các biện pháp an toàn sinh học, tuy nhiên, mỗi nhà sản xuất nên
tự chuẩn bị đánh giá rủi ro riêng trên cơ sở cân nhắc về công việc thường ngày, các biện pháp khống chế an toàn sinh học, và các biện pháp quản lý môi trường của địa phương Các
ví dụ được sử dụng trong đánh giá rủi ro này là cho một dự án phát triển vắc xin H5N1, tuy nhiên, chúng có thể được áp dụng cho sản xuất vắc xin từ bất kỳ vi rút mang bệnh nào Khi
có thêm thông tin, sự đánh giá rủi ro sẽ được cập nhật, và trong trường hợp sản xuất vắc xin với quy mô lớn thì đánh giá rủi ro cũng sẽ được xem xét lại cho phù hợp
3 Phân lập vi rút
Vi rút sẽ được phân lập từ truyền plasmit dòng tế bào Vero (dòng này đã được chuẩn y để sản xuất vắc xin cho người) Các vi rút phân tuýp sẽ chứa 6 prôtêin nội gien của vi rút PR8, prôtêin NA và đoạn prôtêin HA đã được cải biến của vi rút gia cầm Vi rút này sau đó sẽ
được nuôi cấy trong trứng gà hoặc trong các tế bào của động vật có vú
4 Thử nghiệm khả năng gây bệnh
Khả năng gây bệnh của vi rút sẽ được kiểm tra trên gà và chồn sương (phụ lục 1) Chuột cũng có thể được sử dụng, tuỳ thuộc vào khả năng gây bệnh của vi rút cúm chim cho chuột
5 Sản xuất vắc xin
Mỗi công ty sẽ mô tả ngắn gọn quá trình sản xuất của mình
6 Xác định các nguy cơ
6.1 Nguy cơ với vi rút nhận
Vi rút cúm nhận sẽ là chủng PR8 từ người Đây là vi rút đã qua cấy chuyển nhiều lần trên chuột, chồn sương và trứng gà Kết quả cấy chuyển này là làm cho vi rút hoàn toàn không có khả năng nhân lên và hoàn toàn bị suy yếu ở người
Lý do chọn PR8 là nó có khả năng phát triển nhanh, cả trong tế bào của động vật có vú và phôi gà Từ cuối những năm 1960, vi rút PR8 đã được sử dụng để sản xuất các phân tuýp phát triển nhanh trong tổ hợp với chủng vắc xin cúm A thịnh hành Hơn nữa, sử dụng những phân tuýp này làm các chủng vắc xin đã tăng sản lượng vắc xin lên nhiều lần Những phân tuýp này được sản xuất do tổ hợp của các vi rút PR8 có trong trứng gà và chủng vắc xin và một hệ thống chọn lọc dựa vào việc sử dụng kháng thể chống PR8 và sự phát triển khi pha loãng cao
Trang 7Chưa có rủi ro nào cho sức khoẻ con người gây ra bởi vi rút PR8 được công bố
6.2 Nguy cơ phát sinh từ sản phẩm gien cấy
Các sản phẩm gien cấy sẽ là HA được cải biến và NA của một vi rút H5N1 HA sẽ được cải biến sao cho các a xít amin đa bazơ ở chuỗi liên kết peptit HA chỉ còn là a xít amin đơn bazơ Bản thân những prôtêin cúm này một mình không lây nhiễm hoặc gây hại
6.3 1.3 Nguy cơ phát sinh do thay đổi đặc tính sinh bệnh hiện có
Prôtêin dạng gai HA có tính đặc hiệu với điểm tiếp nhận (receptor) a xít sialic trên các phân
tử bề mặt của tế bào Sự có mặt của HA trong vi rút cúm A ở người có ái tính gắn với các
điểm tiếp nhận chứa các gốc a xít sialic α-2, 6 (Rogers và D’Souza 1999)3, trong khi vi rút cúm gia cầm tạo ái tính gắn với a xít sialic qua các liên kết α-2, 3 Các tế bào khí quản của người chứa chủ yếu các gốc có liên kết α-2, 6 (Nelson và các tác giả khác 1993), do đó, khi
vi rút PR8 có được HA gia cầm sẽ giảm tối thiểu khả năng gắn với các tế bào biểu mô của
hệ hô hấp có thể
Mặc dù tính đặc hiệu receptor α 2,3 của các vi rút cúm chim sẽ giảm khả năng gắn với các
tế bào biểu mô hô hấp của người, điều này không có nghĩa là phòng hoàn toàn nhiễm ở người Năm 1991, Beare và Webster đã thành công gây nhiễm một số các vi rút cúm chim khác nhau cho các tình nguyện viên, dù vi rút nhân lên không đáng kể Beare và Webster nhận thấy rằng để nhân lên trên cơ thể người có thể xảy ra, thì cần một lượng cực lớn các vi rút cúm chim (từ 106.8 đến 109.2 liều gây nhiễm trứng gà), và vì thế khả năng bị nhiễm cúm chim từ người qua người là rất khó
Vào năm 1997, sự nhiễm vi rút cúm chim H5N1 ở người đã xảy ra ở Hồng Công, và sao chép trong các trường hợp này đã thành công hơn, nhưng nguyên nhân có lẽ là do tính độc của vi rút ở Hồng Công con người tiếp xúc với một lượng lớn vi rút H5N1 trong phân chứa
vi rút , đó cũng có thể là một lý do để có sự truyền vi rút từ chim sang người Tuy nhiên trong các nghiên cứu thực nghiệm, sự truyền bệnh từ người qua người của vi rút H5N1 năm
1997 là cực kỳ hãn hữu Đây cũng là trường hợp xảy ra với truyền bệnh của vi rút cúm chim H9N2 cho người năm 1999 với mức độ ít hơn Vì thế có thể kết luận rằng sự tồn tại của H5HA trên bề mặt của vi rút phân tuýp H5N1xPR8 chỉ tạo nên một mối liên kết vô cùng yếu đối với các tế bào của người, do đó khả năng nhiễm bệnh với người là rất thấp
Để xảy ra nhiễm bệnh, prôtêin HA của vi rút cúm phải được phân cắt thành HA1, HA2 bởi các men prôtêaza của tế bào chủ Tính gây bệnh của các vi rút cúm A H5 và H7 cho gia cầm
được quyết định chủ yếu bởi sự có mặt của các a xít amin đa bazơ tại liên kết peptit HA HA của các vi rút có khả năng gây bệnh cao có thể được phân cắt một cách có hiệu quả bởi sự có mặt của vô số các prôtêaza kiểu furin mà các prôtêaza này có mặt trong hầu hết các bộ phận cơ thể của người hoặc chim Tuy nhiên, HA của các vi rút không gây bệnh chứa một gốc bazơ tại chuỗi liên kết peptit chỉ bị phân cắt bởi các prôtêaza dạng tripsin Những prôtêaza dạng này chỉ tồn tại trong một số loại tế bào như lớp tế bào biểu mô của bộ máy hô hấp ở
3
Tác giả (Rogers và D’Souza) và năm xuất bản của tài liệu (1999) Trích dẫn khác đều theo nguyên tắc này Các thông tin bổ sung như tên tài liệu, nơi xuất bản , xin xem trong phần tham khảo
Trang 8người và ruột chim Chính vì thế, khả năng phân cắt của HA sẽ quyết định tính đặc hiệu mô
và là nhân tố quyết định khả năng gây bệnh
Các bằng chứng trực tiếp thu được cho thấy cả sự phân cắt HA và đặc đặc hiệu receptor của
HA đều có ảnh hưởng đến tính hướng mô đối với một vi rút cúm chim H7N1 (A/Fowl Plague/Rostock/34) ở phôi gà (Feldman và các tác giả khác 2000) Các bằng chứng tương tự
có được từ sự nhiễm vi rút H5N1 năm 1997 cho thấy nguy cơ nhiễm bệnh cao ở gà, chuột và chồn sương có liên quan trực tiếp đến sự lưu giữ các a xít amin đa bazơ Các nghiên cứu tiến hành ở trung tâm hợp tác Tôkyô của tổ chức y tế thế giới (M Tashiro, dữ liệu không xuất bản) chỉ ra rằng sự loại bỏ các a xít amin đa bazơ đã thay đổi nhiễm H5N1, từ trạng thái nhiễm trùng toàn thân gây tử vong sang trạng thái không có biểu hiện bệnh khu trú trên cơ thể gà, chuột và chồn sương Hatta và một số tác giả khác (2001) bằng di truyền nghịch vừa chỉ ra rằng khả năng phân tách lớn của H5N1 HA (do sự có mặt của các a xít amin đa bazơ)
là một tiêu chí cốt yếu gây nhiễm cho chuột dẫn đến tử vong
Trong khi không thể tiến hành thí nghiệm để kiểm tra khả năng gây bệnh của vi rút cúm trên người, Gao và CS (1999) đã nghiên cứu về vi rút H5N1 vừa cung cấp những bằng chứng về
sự tương đồng giữa khả năng gây bệnh trên chuột và trên người Suy đa chức năng chuột khi
bị nhiễm cúm người H5N1 đưa ra những nhận định về tính ía mô bất thường, nhưng không
có bằng chứng nào về sao chép vi rút ngoài phổi đựơc tìm thấy (To và các tác giả khác 2001) Những bằng chứng hiện có cho rằng độc lực của vi rút H5N1 năm 1997 với người là
có liên hệ mật thiết với sự có mặt của các a xít amin đa bazơ Vì những lý do này, sự loại bỏ các a xít amin đa bazơ từ vi rút H5N1 năm 2003 là cần thiết để giảm khả năng gây hại cho người Quá trình này cũng đồng thời làm tăng tính an toàn của phân tuýp cho các loài lông
vũ Thông tin thêm sẽ được thể hiện qua đánh giá rủi ro đối với môi trường ở phần sau Việc chọn chủng PR8 để tạo phân tuýp cũng dựa trên tính suy yếu của nó đối với cơ thể người Những thông tin được công bố chỉ ra rằng phân tuýp PR8 với kiểu di truyền 6:2 (6 phân đoạn từ PR8, HA và NA lấy ra từ vi rút cúm người tuýp hoang dã) sẽ không gây độc cho người (Florent 1980; Beare và Hall 1971; Beare và các tác giả khác 1975;Oxford và các tác giả khác 1978) Florent và các tác giả khác (1977) cùng với các nghiên cứu ở trung tâm hợp tác Tôkyô của tổ chức y tế thế giới chỉ ra rằng khi các phân tuýp chứa càng nhiều các gien PR8 thì nó càng yếu Trong đề án này, phân tuýp có nguồn gốc từ vi rút H5N1 năm
2003 chứa 6 trong 8 gien của vi rút PR8, đây là thành quả lớn nhất đạt được trong các mục tiêu khoa học đặt ra Vì thế, một phân tuýp mang 6 nội gien của vi rút PR8 với NA và HA đã cải biến của vi rút H5N1 được dự đoán là sẽ yếu với người
Tất cả những bằng chứng nói trên về sự nhân lên của vi rút trên người đều dựa vào các phân tuýp chứa HA có nguồn gốc từ vi rút cúm người, mà có ưu thế gắn với các receptor rất phổ biến trên tế bào biểu mô hô hấp ở người (gốc a xít sialic α-2, 6) Những phân tuýp tạo ra trong đề án này chứa H5 HA gia cầm có ưu thế gắn với các gốc α-2, 3 Do đó, việc gắn của các phân tuýp H5N1 với các tế bào của người và nhân lên trên các tế bào này là rất ít có cơ hội xảy ra
Mặc dù trong dịch cúm ở Hồng Công năm 1997, vi rút cúm H5N1, loại vi rút có ái lực với a xít sialic α-2,3 có thể nhân lên trên người, nhưng khả năng gây bệnh của vi rút cúm không chỉ phụ thuộc vào một mình HA mà vì nó là một thể đột biến Vi rút H5N1 (1997) có các gien bất thường PB2 và NS1 có ảnh hưởng đến khả năng gây bệnh của vi rút Những biến
đổi trên gien PB2 của vi rút H5N1 1997 là nguyên nhân làm chúng suy yếu trên chuột
Trang 9(Hatta và các tác giả khác 2001) và biến đổi trên protêin NS1 đã tạo điều kiện cho các vi rút này kháng lại các tác động của interferon và các cytokine khác được sản xuất bởi hệ miễn dịch tự nhiên của cơ thể Biến đổi trên NS1 tạo ra một kiểu hình có độc tố cao cho phép sự sao chép tiến hành không kiểm tra được trên vivo
Trong trường hợp này, ngay cả khi vi rút có ái lực yếu với các receptor của nó, nó cũng có thể nhân lên (dù không lây truyền) Ngược lại, các vi rút có các tổ hợp nội gien prôtêin PR8 rất nhạy cảm với hệ miễn dịch tự nhiên, nên phòng cho con người khong bị bệnh cúm gia cầm Điều này có thể giải thích được là tại sao trong rất nhiều dịch cúm chim xảy ra trước năm 1997, không có dấu hiệu gì của sự truyền bệnh từ chim sang người được công bố Điều này cũng giải thích tại sao trong rất nhiều năm tiếp xúc với một lượng lớn vi rút cúm chim trong phòng thí nghiệm (1 trong những vi rút là A/FPV/Dobsbon mang 1 gien mà có thể giúp nó nhân lên trong tế bào động vật có vú), không có công nhân nào bị nhiễm bệnh bởi các vi rút này
Các phân tuýp H5N1xPR8 tạo ra trong đề án này không chứa các tổ hợp gien gây bệnh cho gà, chuột và chồn sương
Các phân tuýp có nguồn gốc từ PR8 được sử dùng thường xuyên để sản xuất các vắc xin bất hoạt trong 30 năm qua Công việc này liên quan đến sản xuất hàng vài ngàn lít dịch trứng nhiễm khuẩn, mà các dịch này có khả năng tạo thành các bọt khí nhỏ của các vi rút phân tuýp trong các nhà máy sản xuất Đa số các phân tuýp được tạo ra từ các chủng vi rút người tuýp hoang dại mà chưa có sự luân chuyển rộng lớn Do đó, mặc dầu đội ngũ công nhân nhạy cảm với các vi rút tuýp dại, đã không có trường hợp cụ thể nào bị bệnh có liên quan
đến việc tiếp xúc với các phân tuýp Điều này cũng góp phần khẳng định thêm về sự suy yếu của phân tuýp PR8 trên người Tuy vậy, không giống những trường hợp sản xuất vắc xin thông thường, các công nhân tham gia vào sản xuất các lô vắc xin thử nghiệm cho các đại dịch, là những người mà chưa có miễn dịch đối với vi rút cúm gia cầm trước đó, do vậy họ
có thể nhạy cảm với vi rút này dù khả năng ấy là rất thấp
Sự ổn định di truyền của vi rút phân tuýp là yếu tố quan trọng vì các vi rút chim H5 và H7 không gây bệnh, tuýp hoang dã là nguồn của các vi rút có tính gây bệnh cao Các nghiên cứu về phân tuýp H5N3 không gây bệnh giữa A/Ngỗng/Hồng Công/437/99 và PR8 cho thấy không có độc tố của vi rút sau 10 lần cấy chuyển trên trứng gà
Các vi rút phân tuýp H5N1 sẽ được kiểm tra và phát hiện những yếu tố không có khả năng gây bệnh trong các thử nghiệm gây bệnh qua đường tĩnh mạch của gà (chỉ số IVP 1.2 hoặc ít hơn) (OIE 2001) và trên chồn sương (sự nhân lên của vi rút và các triệu chứng lâm sàng phù hợp với những triệu chứng gây ra bởi vi rút mẹ được làm yếu độc tính như (PR8) và có thể phân biệt với nhiễm vi rút cúm gia cầmH5N1) (phụ lục 1) Các thử nghiệm an toàn trên chuột cũng có thể được tiến hành Sau đó thì vi rút phân tuýp cũng có thể sẽ được cung cấp cho các nhà sản xuất vắc xin
Chồn sương được sử dụng rộng rãi như là một chỉ số tốt về độc tính của vi rút cúm đối với người Thường thì các vi rút cúm ở người gây hôn mê, sổ mũi và đôi khi gây sốt; và sự nhân lên của vi rút thường giới hạn trong hệ hô hấp PR8 đã được kiểm nghiệm trên chồn sương
và hầu như rất nhẹ hoặc không gây các triệu chứng lâm sàng, hơn nữa, sự sao chép vi rút chỉ xảy ra ở đường hô hấp trên Tuy nhiên vi rút H5N1 được phát hiện năm 1997 ở Hồng Công
Trang 10đã nhân lên trên toàn bộ cơ thể người, với biểu hiện lâm sàng như sốt, sụt cân và đôi khi dẫn
đến tử vong (Zitzow và các tác giả khác 2002) Vì vậy chồn sương là mô hình tốt nhất hiện
có để dự đoán khả năng gây bệnh cao cho người hoặc suy giảm khả năng gây bênh cho người
6.4 Những nguy cơ gây nên bởi sự chuyển thành các vi sinh vật cùng họ
Các vi rút cúm dễ dàng hoán vị gien bởi quá trình phân tuýp hoá Vì thế có thể đặt ra giả thuyết về việc taọ thành những phân tuýp thứ cấp từ các phân tuýp H5N1xPR8 vừa được sinh ra và những vi rút cúm người hoặc động vật đang xuất hiện tự nhiên Mặc dù phân tuýp H5N1xPR8 vẫn được coi là không lây truyền và suy yếu đi đối với người, phân tuýp thứ phát với vi rút cúm người vẫn có khả năng gây nên nguy cơ gây dịch
Nói chung sản xuất các phân tuýp trong phòng thí nghiệm là rất khó khăn về mặt kỹ thuật,
và chỉ có một vài phòng thí nghiệm trên thế giới đạt được thành công với kỹ thuật này Hơn nữa, kinh nghiệm từ việc sản xuất không thành công vắc xin phân tuýp H5N1 năm 1997 (các
vi rút gia cầm và lợn ở Anh; các vi rút gia cầm và PR8 ở úc và Mỹ) cho thấy việc tạo ra phân tuýp giữa các vi rút người và vi rút gia cầm là cực kỳ khó khăn Khi cân nhắc những khó khăn này cùng với những điều kiện thí nghiệm để có thể gây nhiễm H5N1xPR8 cho người và tạo ra phân tuýp thứ cấp, nguy cơ về việc tạo thành phân tuýp thứ cấp rất ít có khả năng xảy ra
Cũng nên chú ý thêm rằng, các nông dân ở các trang trại nuôi gà và lợn đang hàng ngày tiếp xúc với các vi rút cúm động vật nhưng có rất ít các ca bị nhiễm bệnh của người gây ra bởi một phân tuýp giữa vi rút cúm người và vi rút cúm chim Nguy cơ của các phân tuýp thứ cấp này đối với các loài động vật cũng sẽ được đề cập đến trong phần đánh giá rủi ro với môi trường
6.5 Khả năng gây hại cho sức khoẻ con người
Do tính đặc hiệu receptor của vi rút cúm gia cầm, sự giảm độc tính của PR8 và loại bỏ các a xít amin đa bazơ ở chuỗi liên kết peptit, phân tuýp H5N1xPR8 được dự đoán là không có khả năng gây bệnh cho người cũng như không gây hại cho sức khoẻ con người Như đã trình bày ở trên, dù hàng rào tế bào đích vẫn hoạt động đế ngăn trở sự nhiễm bệnh, thì nguy cơ của phân tuýp thứ cấp được tạo ra với các vi rút thông thường ở người vẫn có thể xảy ra, và những phân tuýp này cũng có khả năng nhân lên trên cơ thể người Trong trường hợp xấu nhất, các phân tuýp này trở nên thích nghi tốt để gây nhiễm ở người; và gây dịch trên toàn cầu
Tuy nhiên, khả năng xảy ra của sự cố này là rất hãn hữu
7 ấn định về cấp độ bảo vệ tạm thời
Vi rút gốc PR8 là một chất có độc tính sinh học nhóm 2, và prôtêin HA của vi rút H5N1 sẽ
được xử lý để vi rút được phân lập sẽ không gây bệnh virus
Để giảm thiểu nguy cơ gây hại cho sức khoẻ con người, cấp độ bảo vệ tạm thời sẽ là an toàn sinh học cấp 2+ (BSL2+: BSL2 và các điều kiện khống chế khác tại chỗ)