Đó là các nhà tài trợ đã hỗ trợ kinh phí và nhân lực; các tổ chức phi chính phủ của Việt Nam và quốc tế và các viện nghiên cứu đã tiến hành khảo sát thực địa và tham gia chuẩn bị các Đán
Trang 2Các Báo cáo Tổng hợp này do nhóm nhân viên của Cơ quan Đại diện Thường trú Ngân hàng Phát triển Châu Á chuẩn bị, bao gồm Ramesh Adhikari (trưởng nhóm), Nguyễn Mỹ Bình, Nguyễn Phương Ngọc, Dương Thị Tuyết Lan, Tom Greenwood (chuyên gia tư vấn chịu trách nhiệm việc tổng hợp báo cáo), và Julian Carey (chuyên gia tư vấn chịu trách nhiệm hiệu đính báo cáo)
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn các cơ quan và cá nhân thực hiện các Đánh giá nghèo có sự tham gia của Cộng đồng Các đánh giá này là cơ sở để chúng tôi chuẩn bị các báo cáo tổng hợp này Đó là các nhà tài trợ đã hỗ trợ kinh phí và nhân lực; các tổ chức phi chính phủ của Việt Nam và quốc tế và các viện nghiên cứu đã tiến hành khảo sát thực địa và tham gia chuẩn bị các Đánh giá nghèo theo vùng; Bộ Nội vụ và Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã hợp tác và hỗ trợ trong suốt các cuộc khảo sát; và các cơ quan chính quyền địa phương của các tỉnh, huyện,
xã và thôn bản đã giúp đỡ các cuộc khảo sát ở địa phương của họ, và cán bộ và người dân ở 43 xã được khảo sát trong 12 tỉnh thành đã cung cấp những thông tin quý báu
Trang 4Tháng 5 năm 2002, Chính phủ Việt Nam đã hoàn thành Chiến lược Toàn diện về Tăng trưởng và giảm nghèo (CPRGS) và bắt đầu quá trình triển khai thực hiện CPRGS ở cấp địa phương Thông qua các chiến dịch thông tin và hàng loạt các hội thảo vùng, cán bộ của các bộ ngành chủ chốt đã giải thích cho đại diện của các chính quyền địa phương về các phương pháp sao cho các quy trình lập kế hoạch của địa phương có thể được thực hiện theo định hướng vì người nghèo hơn, có sự tham gia nhiều hơn của cộng đồng, dựa trên số liệu thực tế hơn, chú trọng vào kết quả hơn, cân đối tốt hơn trong các quyết định phân bổ nguồn lực
và được giám sát tốt hơn
Năm 2003 Nhóm hành động chống đói nghèo đã hỗ trợ thực hiện cho các đánh giá nghèo có sự tham gia của cộng đồng (PPAs) ở 12 tỉnh của Việt Nam Những đánh giá nghèo này đã sử dụng khung nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu chung để tìm hiểu những vấn đề nghèo đói mà các số liệu định lượng đã không
mô tả được hết Mục đích của việc làm này là đưa ra một nghiên cứu có thể sử dụng cùng với số liệu của Điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam để cung cấp thông tin cho Ban thư ký CPRGS về tiến độ thực hiện CPRGS cho tới nay Đánh giá nghèo cũng được thiết kế để cung cấp thông tin cho các nghiên cứu mới về nghèo đói ở các vùng (RPA) và trên toàn quốc và các nghiên cứu này cũng đã được công bố riêng Các PPA sẽ được sử dụng như những công cụ xây dựng năng lực cho các quy trình lập kế hoạch với định hướng vì người nghèo ở các cấp chính quyền địa phương
Tám nhà tài trợ (ADB, AusAID, DFID, GTZ, JICA, SCUK, UNDP và Ngân hàng Thế giới) đã đóng góp nguồn lực tài chính và nhân lực để hỗ trợ cho các Đánh giá nghèo có sự tham gia của cộng đồng, là cơ sở cho việc xây dựng các Đánh giá nghèo theo vùng bổ sung và các báo cáo tổng hợp này Các nhà tài trợ đã làm việc với các tổ chức phi chính phủ Việt Nam, các viện nghiên cứu trong nước và các tổ chức phi chính phủ quốc tế để chuẩn bị các báo cáo PPA và RPA
Khuôn khổ nghiên cứu của PPA bao gồm những lĩnh vực nghiên cứu như sau: (i) Nhận thức về nghèo đói và xu hướng nghèo, nguyên nhân dẫn tới nghèo
và khả năng dễ bị tổn thương;
(ii) Tiến bộ trong công tác tăng cường dân chủ ở cấp cơ sở, đặc biệt là mức
độ các hộ nghèo có thể tham gia một cách có ý nghĩa vào các quy trình xây dựng kế hoạch và lập ngân sách;
(iii) Những thách thức trong việc cung cấp các dịch vụ cơ bản, tập trung vào sự tương tác của các hộ gia đình nghèo với các nhà cung cấp dịch vụ và các
hộ nghèo có thể được tăng cường quyền lực như thế nào để có thể yêu cầu quyền lợi được cung cấp các dịch vụ cơ bản một cách hiệu quả hơn; (iv) Các cơ chế trợ cấp xã hội hiện nay (liên quan tới công tác xác định đối tượng ưu tiên ở trên) và cách thức cải thiện các cơ chế này;
(v) Tình hình cải cách hành chính công ở các cấp chính quyền địa phương;
Trang 5(vii) Thông tin về môi trường đối với người nghèo và sự thay đổi của tình hình này
Các báo cáo tổng hợp Hiện trạng về sự tham gia và trao quyền trong việc ra quyết định ở cấp địa phương ở Việt Nam, Cải cách Hành chính Công và việc Cung ứng dịch vụ hành chính ở cấp địa phương, và Môi trường và Nghèo đói
Các báo cào này tổng hợp những kết quả chính của các báo cáo PPA và RPA trong từng lĩnh vực
Mong rằng những báo cáo tổng hợp này sẽ cung cấp những cơ sở khái niệm và phân tích xúc tích nhưng chuyên sâu để hỗ trợ cho những nỗ lực của chính phủ trong việc chuẩn bị kế hoạch phát triển sắp tới của các tỉnh theo quy trình lập kế hoạch vì người nghèo ở tất cả các cấp của chính phủ và tăng cường hơn nữa dân chủ cơ sở; trong việc xây dựng năng lực để cải thiện việc cung cấp dịch vụ công ở các cấp địa phương; và trong việc bảo vệ môi trường cũng như quyền lợi của người nghèo
Trang 6The Synthesis Reports presented in this volume were prepared by a team of Asian Development Bank, Viet Nam Resident Mission staff, comprising Ramesh Adhikari (leader), Nguyen My Binh, Nguyen Phuong Ngoc, Duong Thi Tuyet Lan, Tom Greenwood (consultant for synthesis), and Julian Carey (Consultant for editing)
Thanks are due to contributors to the participatory poverty assessments underlying the preparation of these synthesis reports They are the donors, who provided financial and human resource support; the local and international non-governmental organizations (NGOs) and research institutes who conducted field survey and contributed to the preparation of the provincial and regional poverty assessments; the Ministry of Home Affairs and the Ministry of Planning and Investment who extended their kind cooperation and support throughout the surveys; and the authorities of the provinces, districts, communes and villages who facilitated the surveys in their localities, and local officials and people in forty three surveyed communes in twelve cities/provinces who provided invaluable information
Trang 8In May 2002, the Government of Vietnam finalized its Comprehensive Poverty Reduction and Growth Strategy (CPRGS) and embarked on a process to make the CPRGS a reality at local levels of Government Through information campaigns and a series of regional workshops, officials from key national ministries have been explaining to representatives from local authorities how local level planning processes could be made more pro-poor, more participatory and evidence-based, more outcome-focused, better aligned to resource allocation decisions and better monitored
During 2003, the Poverty Task Force supported Participatory Poverty Assessments (PPAs) in twelve provinces in Vietnam These PPAs used a common research framework and methodology to investigate issues around poverty that were not well captured by the available quantitative date The intention was to produce research which could be used, together with data from the Vietnam Household Living Standards Survey, to inform the CPRGS secretariat on progress to date in implementing the CPRGS The PPAs were also designed to provide information for new regional and national studies of poverty and these have now been published separately as Regional Poverty assessments (RPAs) The PPAs are also being used as an instrument in building capacity in pro-poor planning processes at sub-national levels of Government, and an inputs to respective regional development strategies
Eight donors (ADB, AusAID, DFID, GTZ, JICA, SCUK, UNDP and the World Bank) contributed financial and human resources to support the PPAs and the complementary RPAs underlying the preparation of these synthesis reports They have worked with teams from national and local government organizations, with local research institutes and with international NGOs to produce the PPAs and RPAs
PPA research framework covered the following seven areas of investigation: (i) Perceptions of and trends in poverty, poverty dynamics and vulnerability; (ii) Progress in strengthening democracy at the grassroots level, especially
the degree to which poor households can participate in a meaningful way
in planning and budgeting processes;
(iii) Challenges in the delivery of basic services, focusing on how poor
households interact with service providers and how poor households can
be empowered to claim their rights to basic services more effectively; (iv) The current mechanisms for delivery of social assistance (linked to the
targeting work above) and how they might be improved;
(v) How the reform of the public administration is taking place at local levels
of Government;
(vi) The challenges of migration and the link between household mobility,
poverty and access to services; and,
(vii) Information about the environment of the poor and how it is changing
Trang 9of Public Administrative Services at Local Levels, and Environment and the Poverty supplement the PPAs and RPAs They synthesize the main findings in
the respective areas
It is expected that these synthesis reports will provide a concise yet profound conceptual and analytical basis for government's efforts in informing the preparation of the next provincial plans towards the development of pro-poor planning processes at all levels of the government and further promoting grassroots democracy; in building capacity to improve public service delivery at local levels; and in protecting environment as well as the interests of the poor people
Trang 10CCHC Cải cách hành chính
CPC Commune People’s Committee
CPRGS Comprehensive Poverty Reduction and Growth Strategy
NGO Non-government Organization
PAR Public Administration Reform
PPA Participatory Poverty Assessment
RPA Regional Poverty Assessment
Trang 12A Hiện trạng về sự tham gia và trao quyền trong việc ra quyết định ở cấp
địa phương ở Việt Nam………
1 1 Giới thiệu……… 1
2 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc triển khai Nghị định 29 ở cấp xã - phường………
1 3 Tiếp tục tồn tại cơ chế quản lý từ trên xuống……… 2
4 Cán bộ cấp xã và cấp thôn……… 2
5 Năng lực thực hiện các quyền của người dân……… 4
6 Cho phép cán bộ địa phương khai thác nguồn lực nhiều hơn từ các hộ nghèo………
6 7 Giám sát vi c th c hi n dân ch c s và các ch s g i ý……… 7
8 Tăng c ng thông tin đ nâng cao năng l c cho ng i dân………… 8
9 Tác động của Nghị định 29 với đồng bào dân tộc thiểu số, phụ nữ và người nghèo………
8 10 Giáo dục người dân và rèn luyện kỹ năng bổ xung cho cán bộ……… 9
B Cải cách hành chính công và việc cung ứng dịch vụ hành chính ở cấp địa phương………
10 1 Giới thiệu……… 10
2 Có tiến triển, nhưng chưa được như mong muốn……… 10
3 Nh n xét c a cán b c p qu n huy n và ph ng xã v CCHC… 12
4 Cán b đánh giá nh th nào v tác đ ng c a CCHC đ n ng i nghèo? 13
5 CCHC và mối quan tâm của các cộng đồng nghèo……… 14
6 Vấn đề công bằng……… 16
7 Làm thế nào để cải thiện việc cung ứng dịch vụ hành chính công? 16
C Môi trường và nghèo đói……… 19
1 Giới thiệu……… 19
2 Người dân định nghĩa môi trường như thế nào……… 20
3 Nguồn tài nguyên đang giảm và ô nhiễm môi trường đang tăng………… 20
3.1 Thiếu nước và nước bị nhiễm bẩn ……… 20
3.2 Chất thải công nghiệp và vệ sinh kém……… 21
3.3 Nuôi tôm……… 22
3.4 Đánh bắt cá quá mức ……… 22
3.5 Phá rừng……… 23
4 Vấn đề bình đẳng: càng ít nguồn tài nguyên chung có nghĩa người nghèo càng nghèo hơn………
23 5 Ph n ng c a cán b đ a ph ng đ i v i các m i lo ng i v môi tr ng…… 25
6 Các biện pháp khuyến khích, thách thức và khuyến nghị để nâng cao việc bảo vệ môi trường………
26
Trang 13A Current Patterns of Participation and Empowerment in Local Decision
Making in Viet Nam………
29 1 Introduction……… 29
2 Factors influencing the implementation of Decree 29 at commune level…… 29
3 Persistence of a top-down government structure ……… 30
4 Village and commune officials……… 30
5 The ability of villagers to exercise their rights……… 32
6 Enabling local officials to seek greater input from poor households… … 34
7 Monitoring grassroots democracy and suggested indicators……… 35
8 Improving information flow to empower the poor……… 36
9 The impact of Decree 29 on ethnic minorities, women and the poor……… 37
10 Educating people and re-skillingofficials……… 38
B Public Administration Reform and the Delivery of Public Administrative Services at Local Levels………
39 1 Introduction……… 39
2 Good progress, but more desired……… 39
3 Responses among district and commune officials to the PAR……… 41
4 How officials see PAR as impacting on the poor……… 42
5 PAR and the concerns of poor communities.……… 43
6 Equity issues ……… 44
7 How the delivery of public administrative services could be improved? 45
C Environment and Poverty……… 48
1 Introduction……… 48
2 How people define their environment……… 48
3 Declining local resource availability and increasing pollution……… 49
3.1 Water shortages and contamination……… 49
3.2 Industrial waste and poor sanitation……… 50
3.3 Shrimp farming……… 51
3.4 Over-fishing……… 52
3.5 Deforestation.……… 52
4 Equity issues: fewer common property resources mean the poor get poorer………
52 5 Responses of local officials to environmental concerns……… 54
6 Incentives, challenges and suggestions for improved environmental protection………
55
Trang 15A Hiện trạng về sự tham gia và trao quyền trong việc ra quyết định ở cấp địa phương
ở Việt Nam
1 Giới thiệu
Khái niệm về sự tham gia của nhân dân ở cấp cơ sở hay còn gọi là dân chủ cơ
sở xuất phát từ tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh - "dân biết, dân bàn, dân làm
và dân kiểm tra" Quy định về thực hiện dân chủ xã phường (Nghị định của
Chính phủ về dân chủ cơ sở) đã tạo ra khuôn khổ ban đầu cho việc thực hiện tham khảo ý kiến, huy động sự tham gia của dân để đảm bảo sự minh bạch về nhiều vấn đề liên quan đến đời sống nhân dân ở cấp xã phường Các nhà lãnh đạo Việt Nam xác định vai trò quan trọng to lớn của dân chủ cơ sở, và điều này
đã được nhấn mạnh trong Nghị quyết về "Cải cách và nâng cao chất lượng của
hệ thống chính trị ở cấp cơ sở" của Kỳ họp thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng tổ chức vào tháng giêng năm 2002
Chính phủ đã đưa ra và thực hiện nhiều quyết định về sự tham gia của cấp cơ
sở vào việc ra quyết định, luân chuyển thông tin và phân cấp Nghị định đầu tiên
về Dân chủ cơ sở (Nghị định 29) được ban hành năm 1998 Dựa trên cơ sở Nghị định 29, Chính phủ đã ban hành một nghị định mới (Nghị định 79) để nâng cao
sự tham gia của người dân vào quá trình ra quyết định ở cấp xã phường và cấp thôn ấp Nghị định này quy định các hoạt động ở cấp xã cần tham khảo ý kiến dân, nhiệm vụ của cán bộ xã phường và hướng dẫn các hình thức tiến hành tham khảo ý kiến Nghị định 79 cũng chỉ ra các nhiệm vụ của trưởng thôn trong việc tổ chức họp thôn, xây dựng hương ước, đảm bảo an ninh và công tác báo cáo lên cấp xã
Đánh giá nghèo có sự tham gia của cộng đồng (PPA) thực hiện trong tháng 7 và tháng 8 năm 2003 tại 12 tỉnh thành đã chỉ ra một số vấn đề và ý nghĩa được tóm tắt dưới đây
2 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc triển khai Nghị định
29 ở cấp xã - phường
Ở một số xã/phường, người dân địa phương khen ngợi chủ trương về dân chủ
cơ sở vì nó đã nâng cao cơ hội cho họ tham gia ý kiến và tạo ảnh hưởng đến việc ra các quyết định ảnh hưởng đến đời sống của họ Những cải thiện này bao gồm việc thừa nhận rõ hơn các quyền và nghĩa vụ công dân, tham gia nhiều hơn vào các hoạt động chung và các buổi họp của thôn làng, quan hệ gần gũi hơn với cán bộ cấp xã và cấp thôn Người dân cũng thừa nhận cán bộ cơ sở làm việc tích cực hơn và có trách nhiệm hơn với người dân, được tiếp cận nhiều hơn đến các nguồn thông tin về chính sách của Nhà nước và những thông tin khác thông qua các cuộc họp thôn và phương tiện thông tin đại chúng Ở những nơi mà Quy chế dân chủ có ảnh hưởng tích cực, người dân cũng cho biết những tác động cụ thể như điều kiện cơ sở hạ tầng và vệ sinh môi trường được cải thiện và ít tệ nạn xã hội hơn
Tuy nhiên những biểu hiện tích cực này không phải là phổ biến Nếu đánh giá chung thì việc thực hiện các quy định về dân chủ cơ sở còn kém Người dân ở
Trang 16hầu hết các xã/phường được khảo sát cho rằng Nghị định về dân chủ cơ sở không tác động đáng kể đến cuộc sống của họ Hơn nữa, do hoạt động tuyên truyền làm chưa tốt nên hiểu biết của người dân về nội dung Nghị định còn rất hạn chế Nói chung, việc thực hiện Nghị định tốt hơn ở các vùng dân tộc Kinh vì
ít bị ảnh hưởng bởi rào cản về ngôn ngữ, trình độ học vấn và đói nghèo Việc triển khai thực hiện Nghị định tốt nhất ở TP HCM Ở nhiều xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đặc biệt là miền núi và vùng sâu vùng xa, Nghị định tác động không đáng kể Ở các xã nông thôn, phụ nữ và người nghèo ít tham gia ý kiến vì trình
độ giáo dục thấp, tự ti về địa vị và không có thời gian tham gia và các cuộc họp thôn
Nhiều yếu tố ảnh hưởng tiêu cực đến việc triển khai Nghị định 29 Các yếu tố này có thể nhóm thành: (i) tiếp tục tồn tại cơ chế quản lý từ trên xuống, từ trung ương xuống tỉnh, huyện, xã và cuối cùng là thôn; ii) khả năng và sự cam kết của cán bộ cấp xã và thôn trong việc khuyến khích sự tham gia đóng góp ý kiến của người dân và iii) khả năng và sự sẵn sàng thực hiện quyền dân chủ của người dân
3 Tiếp tục tồn tại cơ chế quản lý từ trên xuống
Mục đích của Nghị định 29 là nuôi dưỡng tinh thần dân chủ ở cấp cơ sở, từ dưới lên nhưng trật tự thứ bậc từ trên xuống vẫn tồn tại Trong nhiều trường hợp, thẩm quyền ra quyết định của chính quyền địa phương chỉ hạn chế ở mức thi hành các chính sách của chính quyền trung ương Các hoạt động của cấp xã đa
số do cấp huyện đưa ra Cấp xã có ít thẩm quyền trong phân bổ ngân sách và phụ thuộc vào cấp huyện về tài chính Cán bộ xã đã quen với việc chỉ nghe theo các chỉ đạo và mục tiêu cấp trên đề ra Họ không nghe ý kiến người dân mà họ đại diện, cũng giống như cấp trên không nghe ý kiến của cán bộ xã Ở một vài nơi, lãnh đạo xã cho rằng với cơ chế thứ bậc thẩm quyền hiện nay thì ý kiến người dân về các hoạt động ở địa phương là không có ý nghĩa
Một điểm đáng bàn là ở một số tỉnh, không rõ cơ quan nào chịu trách nhiệm triển khai Nghị định 29 Ở Đắk Lắk, việc phân công nhiệm vụ triển khai cho cơ quan nào không rõ ở cấp tỉnh, cấp huyện và xã được chỉ đạo là phải triển khai ở cấp của mình nhưng không có khuôn khổ rõ ràng về trách nhiệm và nghĩa vụ
4 Cán bộ cấp xã và cấp thôn
Một thực trạng phổ biến ở các địa phương khảo sát là năng lực hạn chế của cán
bộ Ủy ban nhân dân xã và trưởng thôn cả về nhận thức về dân chủ cơ sở được nêu trong Nghị định 29 và trong triển khai nghị định này Tồn tại này đặc biệt rõ ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số khi trưởng bản biết ít tiếng Việt
Nhiều cán bộ xã và thôn không hiểu đúng các nguyên tắc cơ bản của khẩu hiệu
về dân chủ cơ sở "dân biết, dân bàn, dân làm và dân kiểm tra" Họ thường hiểu khẩu hiệu này theo kiểu thứ bậc từ trên xuống như từ trước đến nay chứ không phải là một sáng kiến nhằm thúc đẩy sự tương tác, trao đổi thông tin hai chiều giữa chính quyền và người dân
Hiểu biết về chính sách của cán bộ còn thấp Nhiều người than phiền là thời gian nghiên cứu chính sách mới là không đủ (chỉ có nửa ngày ở cấp xã) Nhiều cán
bộ xã cho biết họ biết rất ít về ngân sách huyện và tỉnh Cán bộ huyện và tỉnh
Trang 17thường cho rằng cán bộ xã yếu và không có khả năng nắm bắt, lập kế hoạch và giám sát các dự án Do vậy các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng do cấp huyện lập
kế hoạch và phê duyệt mà không tham khảo ý kiến cấp xã mặc dù trách nhiệm
về các dự án này là của cấp xã
Trong quan hệ với cấp huyện và cấp tỉnh, cán bộ xã thôn phàn nàn về sự thiếu khuôn khổ pháp lý rõ ràng về xác định thẩm quyền và trách nhiệm cho từng cấp chính quyền địa phương Họ cũng phàn nàn về sự thiếu ngân sách cho các hoạt động ở cấp xã/phường, ngân sách thường không đủ trang trải các khoản tối thiểu Hơn nữa, một số người nói rằng thông tin về các khoản ngân sách từ huyện đặc biệt cho đầu tư cơ sở hạ tầng thường đưa ra muộn, gây khó khăn cho lập kế hoạch
Cả cán bộ cấp xã và cấp thôn đều cho biết có tình trạng quá tải công việc vì có quá nhiều chính sách của cả trung ương lẫn địa phương cần phải xem xét và thi hành Một số cán bộ cơ sở nghi ngờ Nghị định 29 mâu thuẫn với các quy định khác Họ cũng không rõ về vai trò và quyền hạn của mình, và vai trò và quyền hạn giám sát của của Hội đồng nhân dân
Mặc dù còn những tồn tại này, nhiều người dân, đặc biệt ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số, cho rằng những người đứng đầu thôn bản là những người quan trọng nhất trong thôn bản Với vai trò bán chính chức và nhiều chức năng, họ là những người trung gian giữa chính quyền và người dân Tuy nhiên, người dân cũng chỉ ra một nguyên nhân của những tồn tại là các biện pháp khuyến khích cho trưởng bản trưởng thôn làm việc còn kém và mức thù lao cho công việc của
họ rất thấp, chỉ có 90.000 đồng/tháng
Các yếu tố như kiến thức hạn chế và thiếu đào tạo, thù lao thấp, quá tải công việc thường là nguyên nhân làm cán bộ cơ sở không cung cấp thông tin và tham khảo ý kiến của người dân Nhiều cán bộ Uỷ ban nhân dân xã cho rằng việc lập
kế hoạch của xã và của thôn chỉ cần lấy ý kiến của dân khi cần nhân dân đóng góp nhân công hoặc tiền Mặc dù Nghị định 29 chỉ rõ trưởng thôn phải báo cáo công việc của họ với dân và tiến hành kiểm điểm trước dân 6 tháng một lần, nhưng ở một số địa phương được khảo sát, việc này chưa bao giờ được tiến hành
Về phần mình, cán bộ xã và thôn phàn nàn rằng người dân không quan tâm đến các kế hoạch và dự án không ảnh hưởng trực tiếp đến các hộ gia đình Tuy nhiên, nói chung, người dân có quan điểm phổ biến rằng họ được thông báo để biết chứ không được hỏi ý kiến Đa số người dân có trình độ thấp Đồng bào dân tộc thiểu số không thạo tiếng phổ thông nên thông tin từ các phương tiện thông tin đại chúng và loa truyền thanh không đến được với họ
Trang 18Hộp 1 - Tham dự của dân vào việc ra quyết định ở Đắc Lắk
5 Năng lực thực hiện các quyền của người dân
Đánh giá này cho thấy đa số người dân hiểu rất mơ hồ về nội dung Nghị định 29, người dân ở các vùng hẻo lánh thậm chí không biết đến Nghị định này Hầu hết người dân biết ít nhất một phần khẩu hiệu "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" nhưng nhiều người thú thật họ không hiểu ý nghĩa của nó lắm Người nào giải thích thì thường giải thích sai và cho rằng khẩu hiệu này có nghĩa là "biết", thảo luận, và thực hiện các chính sách hoặc dự án từ trên đưa xuống
Một vấn đề rõ ràng là Nghị định thường chỉ được giải thích cho nguời dân một lần, thường là trong cuộc họp của thôn, không có các hoạt động tiếp theo Ở những nơi Nghị quyết được in và phát cho dân, người dân cũng không hiểu vì ngôn ngữ không phù hợp
S thi u hi u bi t c a ng i dân v Ngh đ nh 29 c ng ph n ánh s thi u hi u bi t c a h
v h th ng chính tr nói chung Đây là m t h n ch c n tr ngu i dân nói lên nh ng quan tâm và nh ng đi u ch a hài lòng v cán b c s H u h t ng i dân nêu đ c các ch c danh nh Ch t ch U ban nhân dân, Bí th Đ ng u và Tr ng Công an xã
nh ng h không n m rõ vai trò và ch c năng c a các ch c danh này
Sự tồn tại của cơ chế thông tin một chiều giữa cán bộ và người dân cản trở ngưòi dân tiếp cận những thông tin cơ bản giúp họ thực hiện các quyền nêu trong Nghị định Họp với dân thường chỉ là để cán bộ thông báo cho dân các quyết định đã ra, không phải là cho dân thảo luận Nhiều người dân phàn nàn rằng các cuộc họp đuợc tổ chức ít – chỉ vài cuộc họp mỗi năm - và nhạt nhẽo Ở
Một nhóm phụ nữ ở buôn Buzara và một nhóm nam giới ở làng 7C cung cấp những thông tin sau:
Người dân tham gia vào:
- huy động sự đóng góp của dân về nhân công và tiền cho các dự án phát triển của địa phương;
- xác định mức độ ưu tiên cho các chương trình xóa đói giảm nghèo;
- xác định các hộ nghèo để cấp sổ hộ nghèo;
- bầu cán bộ thôn, và
- xây dựng hương ước
Người dân không có cơ hội tham gia vào:
- quản lý và giám sát các dự án xây dựng hoặc triển khai ở thôn;
- giám sát kế hoạch và ngân sách thôn;
- nhận thông tin về các kế hoạch và ngân sách của thôn;
- tạo ra các diễn đàn qua đó phụ nữ thôn tham gia ý kiến về các việc của làng xã;
- đại diện quyền của phụ nữ, quyền của người dân tộc thiểu số, đặc biệttrong hệ thống công quyền
Trang 19một số nơi, chỉ những người được mời mới được tham gia họp và những người này thường là các đối tượng về vấn đề gì cũng "gật"
Cả người dân và trưởng thôn đều chỉ ra tình trạng thiếu cơ sở vật chất cho việc thông tin tuyên truyền về Nghị định Hội trường thôn là nơi hội họp và thảo luận nhưng nhiều nơi không có vì thiếu kinh phí Các kênh tuyên truyền trong cộng đồng khác như thư báo nội bộ thường yếu và thiếu kinh phí
Người dân địa phương thường không quan tâm đến việc tham gia xây dựng các chính sách trừ khi phải đóng góp tiền hoặc nhân công, một phần vì họ nghĩ cán
bộ không lắng nghe ý kiến của họ Người dân thường thiếu tự tin và quen với việc cán bộ quyết định mọi việc cho họ
Hộp 2: Cách thức lập kế hoạch ở Quảng Ngãi
Ý kiến sau của một người dân ở xã Hải An ở tỉnh Quảng Trị cho thấy sự cứng nhắc của cán bộ và ảnh hưởng của việc thiếu cơ sở hội họp ở làng xã
"Chúng tôi thảo luận về xây dựng trụ sở Ủy ban nhân dân xã Người dân đề nghị xây dựng ở địa điểm cũ vì nó ở trung tâm và gần cả 4 thôn Nhưng cán bộ xã nói
Bước 1: Vào cuối năm, chủ tịch xã được mời lên huyện để giao nhận kế
hoạch ngân sách và các chỉ tiêu kế hoạch phát triển kinh tế xã hộicho năm tới
Bước 2: Chánh văn phòng UBND xã tiến hành tổng kết cuối năm và chuẩn bị
kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của xã dựa trên các chỉ tiêu pháttriển và ngân sách huyện đã duyệt cho xã
Bước 3: Kế hoạch này được trình bày trước cuộc họp mở rộng của xã với
sự tham gia của lãnh đạo Đảng ủy xã, UBND, HĐND và Mặt trận
Tổ quốc để thảo luận và thông qua Chánh văn phòng UBND sau
đó chịu trách nhiệm chỉnh sửa kế hoạch dựa trên các bổ sung vàgóp ý của các thành viên dự họp
Bước 4: Bản kế hoạch đã sửa đổi sau đó được đưa ra cuộc họp của HĐND
với sự có mặt của cán bộ kế hoạch của huyện, đại diện của các tổchức đoàn thể và các bộ phận liên quan ở xã HĐND chịu tráchnhiệm thu thập và xử lý các ý kiến đóng góp nếu có và sau đóthông qua bản kế hoạch bằng văn bản dưới dạng Nghị quyết củaHĐND và giao cho UBND chịu trách nhiệm triển khai thực hiện Bước 5: Với sự phối hợp của các ban ngành đoàn thể ở thôn (Mặt trận Tổ
quốc, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên, HộiPhụ nữ), trưởng thôn tổ chức họp thôn để thông báo cho dân biết
về kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của xã và chịu trách nhiệntriển khai thực hiện ở thôn mình Ở các cuộc họp thôn như thế này,người dân không được hỏi ý kiến mà chỉ được thông báo kế hoạch Thông thường văn phòng UBND chịu trách nhiệm sơ kết việc thực hiện kếhoạch sáu tháng đầu năm và tổng kết vào cuối năm đồng thời lập kế hoạchcho năm sau
Trang 20cấp trên chỉ đạo xây dựng trụ sở ở một địa điểm mới, nếu không sẽ không hỗ trợ Cuối cùng, trụ sở được xây dựng ở địa điểm mới như chỉ đạo của trên Và từ hồi xây trụ sở Ủy ban nhân dân xã, tôi chưa bao giờ đến đó vì tôi phải đi bộ 3 cây số"
Nghị định 29 xác định sự giám sát của người dân là một trong những yêu cầu chủ yếu của quá trình tham gia của cộng đồng vào việc ra quyết định Nghị định 29 quy định thông tin tài chính phải được công khai nhưng ngay cả khi được tiếp cận đến thông tin, người dân cũng thường không hiểu Người dân địa phương thường không được tham gia giám sát các dự án, đặc biệt là các dự án vốn của nhà nước Một điều đáng chú ý là cả cán bộ và người dân địa phương đều cho rằng người dân không đủ trình độ giám sát các dự án xây dựng phức tạp Tuy vậy, Nghị định
29 quy định nhân dân giám sát các dự án phát triển ở địa phương
Cuối cùng một số người dân phàn nàn về tình trạng tham nhũng ở các cấp chính quyền Các hành vi móc ngoặc như trong đấu thầu các dự án xây dựng vi phạm tất cả các nguyên tắc của Nghị định 29
6 Cho phép cán bộ địa phương huy động nguồn lực nhiều hơn từ các hộ nghèo
Có lẽ yếu tố rõ nhất ảnh hưởng đến khả năng của cán bộ cơ sở lấy ý kiến đóng góp nhiều hơn từ các hộ nghèo trong việc lập kế hoạch, dự toán và triển khai các
dự án phát triển cơ sở hạ tầng là hệ thống quản lý từ trên xuống Hệ thống này mâu thuẫn với các nguyên tắc của Quy chế dân chủ cơ sở Do vậy, phân cấp nên được triển khai đồng bộ ở tất cả các cấp chính quyền Nếu không phân cấp hơn nữa, việc lập kế hoạch ở cấp xã và thôn chỉ được thực hiện với các hoạt động có sự đóng góp của dân Tổng giá trị các hoạt động này nhỏ so với ngân sách xã, đó là chưa kể các khoản đầu tư tại xã do cấp cao hơn quyết định Chừng nào cán bộ cơ sở còn cho rằng vai trò của họ là triển khai các quyết định của cấp trên chứ không phải lắng nghe và đại diện cho lợi ích của người dân địa phương thì Nghị định 29 ít có khả năng tạo được tác động đáng kể ở cấp cơ sở Năng lực lấy ý kiến đóng góp của cộng đồng của cán bộ cơ sở cần được nâng cao Vì vậy, cán bộ cơ sở cần được đào tạo đầy đủ Điều này là cần thiết để giúp
họ hiểu biết đầy đủ hơn về các chủ trương chính sách và nhu cầu của người dân địa phương
Nhiều người dân cho rằng cán bộ cấp xã cần trở thành công chức Người dân cho rằng khi cán bộ nhận được một khoản thù lao thỏa đáng và nâng cao địa vị, cán bộ cơ sở sẽ tích cực huy động người dân tham gia vào việc ra quyết định hơn Chuyển biến này đã diễn ra thông qua những sửa đổi và bổ sung trong Pháp lệnh về Công chức và Viên chức
Một đề xuất nữa là nên có thêm một chức "phó trưởng thôn" Vì trưởng thôn thường cao tuổi, học vấn thấp và quá tải công việc, người giữ chức phó trưởng thôn có thể là người trẻ hơn, có học thức cao hơn và tích cực hơn Phó trưởng thôn có thể do dân bầu hoặc do chính quyền xã chỉ định Khi có người phó trưởng thôn, áp lực công việc của trưởng thôn sẽ giảm và như vậy sẽ có điều kiện huy động sự tham gia của người dân nhiều hơn
Trang 21Cần có hướng dẫn cụ thể cho việc thực hiện Nghị định 29 Cán bộ cơ sở và người dân cần được biết rõ ai chịu trách nhiệm triển khai Nghị định cả ở cấp cơ
sở và cấp cao hơn
Cuối cùng, cần tăng cường tính minh bạch trong lập kế hoạch, lập dự toán ngân sách và chi tiêu, và sự tham gia của cơ sở trong các dự án phát triển hạ tầng Điều này cần có sự nâng cao năng lực đáng kể và phân cấp từ cấp huyện xuống cấp xã Tuy nhiên, nâng cao năng lực và đào tạo lại cần được triển khai đến các cán bộ xã để đảm nhiệm các nhiệm vụ công việc mới
7 Giám sát vi c th c hi n dân ch c s và các ch s g i ý
Ở hầu hết các xã được khảo sát đều thiếu sự giám sát hiệu quả việc thực hiện Nghị định 29 Có lẽ chỉ số tốt nhất về sự tham gia của nguời dân là các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội, đặc biệt là mục tiêu hàng năm về giảm đói nghèo Người dân địa phương có thể dễ dàng hiểu được các chỉ số này như tỷ lệ hộ có điện, tỷ lệ trẻ em đến trường hay số hộ được vay vốn
Tuy nhiên, ở nhiều xã các chỉ số đơn giản này không được thường xuyên theo dõi Các số liệu này chỉ được báo cáo lên cấp trên mà không công khai cho cán
bộ và nhân dân địa phương Hệ thống giám sát do vậy phải được sửa lại theo hướng từ dưới lên và tăng số lượng chỉ số về thực hiện hoặc tác động (như nhóm 12 chỉ số về xã hội và giảm đói nghèo trong Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và Giảm nghèo) Về điều này thì việc sử dụng một phiếu báo cáo đơn giản có tác dụng tốt Nếu thực hiện, cán bộ xã cần được dành nhiều thời gian và ngân sách để thu thập các số liệu thích hợp
Một số hệ thống giám sát và chỉ số thống kê hiện có không đủ tin cậy Một số xã được khảo sát đã sử dụng các bảng hỏi khuyết danh đối với dân chúng về việc thực hiện Nghị định Tuy nhiên, chỉ có cán bộ và các hộ "có hiểu biết" điền các bảng hỏi này Các hộ nghèo thường không đủ trình độ học vấn và cán bộ xã không có thời gian để phỏng vấn từng hộ gia đình
Một số cán bộ cho rằng số trường hợp khiếu nại tố cáo của người dân là một chỉ
số thích hợp Tuy nhiên các hộ nghèo và trình độ học vấn thấp gặp khó khăn trong việc nộp đơn tố cáo khiếu nại và họ cũng không biết nộp ở đâu Hơn nữa,
số lượng khiếu nại tố cáo tăng có thể là kết quả của việc thực hiện dân chủ cơ
sở kém nhưng cũng có thể là kết quả của sự tích cực tham gia hơn của người dân vào quá trình ra quyết định và như vậy lại là kết quả tốt
Có sự khác biệt về các chuẩn mực đánh giá dự án giữa cán bộ và người dân Cán bộ thường tập trung vào các tiêu thức về thực hiện trong khi người dân quan tâm hơn đến tác động và kết quả Ví dụ, cán bộ có thể nhấn mạnh số cân thóc giống phân phối đến người dân trong xã, người nông dân lại dẫn ra các trường hợp thu hoạch kém do giống không tốt
Nhiều chỉ số định tính và định lượng được đưa ra để đánh giá sự tham gia của người dân vào các công việc của xã Các chỉ số định lượng bao gồm: số lượng các kế hoạch và dự án được lập kế hoạch từ dưới lên; tỷ lệ người dân tham gia các cuộc họp thôn; và tỷ lệ tham gia của các nhóm như người nghèo và phụ nữ Các chỉ số định lượng là số lượng các kế hoạch được sửa đổi sau khi có góp ý của dân, và số lượng cán bộ xã thôn có đủ kỹ năng huy động sự tham gia có hiệu quả của người dân
Trang 22Việc nâng cao năng lực của Hội đồng nhân dân là cơ quan có chức năng giám sát Uỷ ban nhân dân và đại diện cho người dân có thể nâng cao hiệu quả giám sát Hội đồng nhân dân được cho rằng ít có tiếp xúc với người dân, nhất là người nghèo và các nhóm yếu thế khác Năng lực của Hội đồng nhân dân cũng còn yếu và chịu nhiều ảnh hưởng của Uỷ ban nhân dân Người dân phàn nàn rằng họ ít được tham gia các cuộc họp Hội đồng nhân dân, mặc dù Hội đồng nhân dân có trách nhiệm báo cáo với dân
Lý tưởng là các cơ quan theo dõi và giám sát độc lập có thể đảm bảo theo dõi quá trình thực hiện Nghị định chặt chẽ hơn
8 Tăng c ng thông tin đ nâng cao năng l c cho ng i dân
Thiếu thông tin là nguyên nhân chính hạn chế khả năng của người dân địa phương trong việc gây ảnh hưởng đến quá trình ra quyết định Cách thức trình bày thông tin cũng quan trọng không kém Lời kể của một cán bộ ở tỉnh Ninh Thuận cho thấy việc phân phát các thông tin về Nghị định 29 mang tính giáo huấn như thế nào
"Gần đây, họ họp chúng tôi lại, phát các tài liệu in đẹp đẽ và bảo chúng tôi phát cho người dân địa phương và giữ lại một ít Tôi đã phát một số cho dân và còn giữ một số Họ không giải thích về nội dung tài liệu nên tôi hiểu cũng hạn chế Với dân thì càng khó, làm sao họ hiểu được Tài liệu dài quá"
Do vậy, thông tin cần được trình bày rõ ràng bằng ngôn ngữ đơn giản và dễ hiểu, dù là in ra tờ rơi, đưa lên bảng tin hoặc các phương tiện thông tin đại chúng Sự minh bạch hơn đặc biệt về ngân sách xã và việc sử dụng ngân sách
có thể cải thiện việc thông tin cho dân và làm họ tin tưởng cán bộ hơn
Họp thôn là một trong những hình thức chính để cung cấp thông tin và nhận phản hồi từ dân Tuy nhiên, nhiều người dân phàn nàn rằng các cuộc họp thôn còn quá ít và các cuộc họp này không hiệu quả Cán bộ phải được đào tạo để có
kỹ năng khuyến khích thảo luận nhóm và tham gia của cộng đồng Cần có kinh phí xây dựng hội trường xã cho các xã chưa có hội trường
Đến thăm từng hộ là một hình thức tiếp xúc thích hợp của cán bộ với dân, đặc biệt với các nhóm như phụ nữ và người nghèo là những người ngại nói trong các cuộc họp Thêm nữa, cán bộ xã và thôn có vai trò quan trọng trong khuyến khích dân tham gia ý kiến và tạo lòng tin cho họ
9 Tác động của Nghị định 29 với đồng bào dân tộc thiểu
số, phụ nữ và người nghèo
Đánh giá cho thấy có sự khác biệt lớn trong nhận thức về Nghị định 29 và khả năng thực hiện các quyền nêu trong Nghị định giữa các nhóm như người dân tộc thiểu số, phụ nữ và người nghèo so với nhóm đa số
Với người dân tộc thiểu số, các yếu tố như tình trạng đa ngôn ngữ, giao tiếp bằng tiếng phổ thông kém, địa hình khó khăn, cơ sở hạ tầng kém và năng lực hạn chế của cán bộ đã cản trở việc thực hiện Nghị định 29 Trong khi hầu hết người Kinh đều nêu được khẩu hiệu "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra", nhiều người dân tộc thiểu số không nêu được
Trang 23Ở các địa phương có người dân tộc thiểu số, cán bộ thôn thường không hiểu Nghị định và do vậy không thực hiện Nghị định được Điều này thường do họ chưa đủ thành thạo tiếng Việt và cũng do đa số cán bộ cơ sở người dân tộc mới chỉ học hết cấp một Tuy nhiên, nhiều cán bộ cấp huyện và tỉnh người Kinh ở các vùng dân tộc thiểu số ít được được đào tạo về các kỹ thuật tham khảo ý kiến dân
và không thạo tiếng dân tộc, từ đó hạn chế khả năng khuyến khích dân địa phương thảo luận và giám sát
Đánh giá cũng cho thấy phụ nữ dù người Kinh hay người dân tộc tham gia các hoạt động của cộng đồng một cách bị động hơn nam giới Vì vai trò truyền thống
về giới và thiếu thời gian do công việc nhà nhiều nên phụ nữ chỉ tham gia họp khi
có bàn những việc liên quan đến phụ nữ Phụ nữ đi họp thường im lặng nhiều hơn là tích cực tham gia Phụ nữ dân tộc nhiều người còn mù chữ tham gia ít nhất Hầu hết trong số họ không kể tên được cán bộ xã, chưa từng biết đến Nghị định về dân chủ cơ sở hoặc khẩu hiệu của dân chủ cơ sở
Cuối cùng, các hộ nghèo thường ít tham gia bàn thảo các vấn đề ở địa phương
so với hộ khá và cũng hiểu biết ít hơn về các quyền của người dân nêu trong Nghị định 29 Điều này là do nhiều yếu tố như học vấn thấp, tự ti về địa vị thấp,
và hạn chế thời gian do phải làm việc nhiều
10 Giáo dục người dân và rèn luyện kỹ năng bổ sung cho cán bộ
Một trong những yếu tố đảm bảo việc thực hiện thành công sự phân cấp nói chung và dân chủ cơ sở nói riêng có lẽ là tìm ra một điểm cân bằng giữa nhu cầu của người dân ở phía nhận và cán bộ với tư cách là người cung cấp dịch vụ Điều này có nghĩa là cần giáo dục người dân về quyền và trách nhiệm của họ như được nêu trong Nghị định của Chính phủ về dân chủ cơ sở và các chính sách, chương trình liên quan như cải cách hành chính Hoạt động này cần được
tổ chức tốt thông qua các phương tiện thông tin đại chúng và qua tranh ảnh áp phích cho người không biết chữ nói chung và người dân tộc thiểu số nói riêng Một vấn đề quan trọng nữa là nâng cao năng lực và đào tạo bổ sung kỹ năng cho cán bộ xã và thôn về các nhiệm vụ công việc mới như lập kế hoạch có sự tham gia của cộng đồng, dự toán ngân sách, cung cấp dịch vụ công, và thực hiện và giám sát dự án Trong khi những đổi mới này cần có cam kết về chính trị
và đổi mới về thể chế, cán bộ cơ sở phải có đủ kỹ năng, phương tiện và động lực cần thiết để thực hiện
Tính minh bạch và tinh thần trách nhiệm là các yếu tố quan trọng góp phần vào việc thực hiện phân cấp Xã hội dân sự cần hoạt động và tham gia tích cực Người dân cần được thông tin đầy đủ về phương thức làm việc của chính quyền
xã Cần có cơ chế giám sát và đánh giá có sự tham gia rộng rãi của người dân Như vậy, người dân ở cấp thôn làng sẽ được trao quyền, được hưởng lợi ích của dân chủ cơ sở và dịch vụ hành chính công, đồng thời giảm thiểu những đặc lợi có thể có ở địa phương
B Cải cách hành chính công và việc cung ứng dịch vụ hành chính ở cấp địa phương
Trang 241 Giới thiệu
Cũng như ở các nước khác trên thế giới, người nghèo ở Việt Nam là nhóm yếu thế nhất về mặt xã hội và chính trị Những hành vi quan liêu tùy tiện không đáng
có đang gây trở ngại trực tiếp nhiều nhất đến những nỗ lực xã hội và kinh tế của
họ và họ cũng ít có khả năng nhất để vượt qua được thói quan liêu sự vụ Vì thế, người nghèo và nhóm người bần cùng trong xã hội sẽ thụ hưởng được những lợi ích lớn lao nhất của công cuộc cải cách hành chính Hơn nữa, cải cách hành chính công còn góp phần cải thiện môi trường kinh doanh và thúc đẩy đầu tư phục vụ tăng trưởng kinh tế nhờ cắt giảm được chi phí giao dịch và giảm thiểu
sự phi hiệu quả về mặt hành chính Nhận thức được những tiềm năng to lớn đó, Chiến lược toàn diện về Tăng trưởng và Giảm nghèo (CPRGS) của Chính phủ
đã dự kiến phải đẩy nhanh việc thực hiện chương trình cải cách hành chính của Chính phủ
Chương trình tổng thể về Cải cách Hành chính (CCHC) của Chính phủ giai đoạn 2001-2010 có mục tiêu xây dựng một khu vực công nhạy bén, minh bạch và hiệu quả hơn, được tổ chức tốt hơn, được bố trí nguồn lực và đội ngũ cán bộ hiệu quả hơn nhằm cung ứng dịch vụ cho người dân và các doanh nghiệp Trong nửa đầu của chu kỳ thứ nhất thực hiện chương trình CCHC mười năm, Chính phủ đã
đề ra hàng loạt các sáng kiến phân cấp dưới dạng ban hành Quy chế Dân chủ cấp cơ sở (sửa đổi), Luật Doanh nghiệp, Luật Ngân sách nhà nước, Luật Đất đai, và Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân, cùng với Pháp lệnh về Cán bộ công chức nhà nước, Nghị định Thực hiện cơ chế một cửa, và Nghị định mới về Khoán biên chế tại các cơ quan hành chính sự nghiệp
Là một phần của Đánh giá nghèo có sự tham gia của cộng đồng được thực hiện tại 12 tỉnh từ tháng 6 đến thánh 8 năm 2003, các cán bộ địa phương và người dân đã được đề nghị nêu ý kiến của mình về kinh nghiệm của họ với CCHC Phần này được rút ra từ các báo cáo khảo sát ở các tỉnh
2 Có tiến triển, nhưng chưa được như mong muốn
Trong những lĩnh vực mà chương trình đã thực hiện được một cách hữu hiệu, cả cán bộ địa phương lẫn người dân đều nhất trí rằng CCHC đã bước đầu đáp ứng được ít ra là một số tiêu chí Nói chung, cán bộ cấp xã hoan ngênh việc họ được chuyển sang ngạch công chức nhà nước, coi đó là một cơ hội để đảm bảo tính
ổn định và tính chuyên nghiệp trong nghề nghiệp Người dân cũng cho rằng việc chuyển cán bộ xã thành công chức nhà nước sẽ làm cho các cán bộ sẵn sàng đáp ứng nhu cầu của họ hơn Đồng thời, mọi người đều hoan nghênh phương thức quản lý hành chính mới, trong đó tất cả các dịch vụ hành chính đều được giao dịch qua một cửa, còn gọi là áp dụng cơ chế “một cửa một dấu” hay “một cửa” Cơ chế này và các thủ tục có liên quan khác cho việc cung ứng dịch vụ hành chính công đã rút ngắn đáng kể thời gian cần thiết để chứng thực một số giấy tờ quan trọng (dịch vụ công chứng), làm chứng minh nhân dân, đăng ký cá nhân như khai sinh, đăng ký kết hôn, khai tử, giao dịch với Uỷ ban nhân dân phường, xã, và giúp việc cung cấp thông tin cho công chúng Trước khi Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 181 ngày 4 tháng 9 năm 2003, 35 tỉnh
Trang 25thành đã bắt đầu thực hiện cơ chế "một cửa" với sự tham gia của 190 sở ban ngành của các tỉnh, thành phố, 160 huyện và khoảng 600 phường, xã, thị trấn1
Hộp 1: Cải cách hành chính và người nghèo
Cán bộ địa phương và người dân nghèo địa phương đã ghi nhận một số cải tiến trong lĩnh vực dịch vụ hành chính, ví dụ cơ chế "một cửa” cho việc công chứng các giấy tờ cá nhân Tuy nhiên, theo như người nghèo phản ánh, vẫn còn rất nhiều vấn đề tồn tại liên quan đến việc đăng ký nhà đất và
cư trú, mà tất cả những điều đó đều có ảnh hưởng đến đời sống của họ, ví
dụ thủ tục phức tạp và tốn thời gian, tham nhũng và năng lực cán bộ yếu
Về vấn đề phân cấp, cán bộ cấp quận huyện và phường xã đều đề cập đến sự rối rắm trong việc phân công chức năng nhiệm vụ thiếu rõ ràng và chồng chéo giữa các cấp và các phòng ban Tuy nhiên, cán bộ ở cả hai cấp này đều ủng hộ việc tiếp tục phân cấp cho phường xã, coi đó là cách
có lợi cho người nghèo, nhưng phải có những biện pháp đi kèm để nâng cao tính hiệu quả và hiệu lực, thí dụ như hợp lý hoá chức năng, nhiệm vụ, tăng cường các luồng thông tin và sự phối hợp, nâng cao tính minh bạch
và đơn giản của các thủ tục và qui định, tăng cường sự giám sát của địa phương, sửa đổi các phân bổ nguồn lực tài chính và nhân sự cho cấp địa phương để phản ánh đúng thực tế địa phương (có cân nhắc sự phát triển nhanh và tốc độ tăng dân số ở một số phường xã)
Bản thân người nghèo cũng có nhận thức rất khác nhau, và thường là rất hạn chế, về CCHC và ý nghĩa của chương trình đó đối với họ Họ cũng thấy rất có có thể có tác động đến quá trình này
Nguồn: Báo cáo Đánh giá nghèo có sự tham gia của cộng đồng ở Đồng bằng châu thổ sông Hồng.
Tuy vậy, cũng cần lưu ý rằng thành tích giảm bớt tính chất quan liêu hành chính đạt được nhiều nhất là ở những thủ tục tương đối đơn giản Tại hầu hết các địa phương được điều tra, “tệ quan liêu sự vụ” vẫn còn là vấn đề nghiêm trọng trong quá trình xin sổ đăng ký hộ khẩu, giấy chứng nhận đất đai hay đơn xin vay vốn Những thủ tục này không những phức tạp hơn, mà cũng quan trọng hơn, nhất là đối với người nghèo, vì mỗi loại thủ tục đều có tác động trực tiếp và đáng kể đến khả năng các hộ gia đình nghèo có thể cải thiện được thu nhập của mình Vốn vay ngân hàng đóng vai trò thiết yếu để người dân có được nguồn vốn, quyền sử dụng đất là yếu tố quan trọng được xem như tài sản để được vay vốn, và đăng
ký hộ khẩu cũng là điều kiện cần thiết cho những người lao động nghèo di cư Tiền bạc và thời gian mất để có được những giấy tờ như thế có thể được sử dụng một cách hữu ích hơn vào công việc sản xuất
Cả mức độ thực hiện CCHC lẫn những hiệu ứng tích cực của nó đều được thể hiện rõ rệt hơn ở những vùng tương đối sung túc, nhất là các vùng đồng bằng và
1
Quyết định 181 yêu cầu đến năm 2005 phải thực hiện trên qui mô toàn quốc cơ chế
"một cửa" ở cấp phường xã, nhưng đã có trên 600 phường xã đã bắt đầu quá trình này
Trang 26thành phố Trái lại, ở các vùng nghèo, nhất là miền núi là nơi đa phần các dân tộc thiểu số sinh sống, một số cán bộ địa phương - chứ chưa cần nói đến người dân địa phương - cũng chưa bao giờ được nghe nói đến CCHC Hơn nữa, ở một
số vùng, kinh phí, cơ sở hạ tầng và năng lực cần thiết của cán bộ địa phương để thực hiện chương trình này, vẫn còn thiếu nghiêm trọng
3 Nh n xét c a cán b c p qu n huy n và ph ng xã v CCHC
Hầu hết cán bộ đều coi việc chuyển cán bộ cấp phường sang ngạch công chức nhà nước là một bước đi tích cực Họ tin rằng việc được trả lương (thay vì nhận một khoản trợ cấp nhỏ), được hưởng lương hưu và được đào tạo sẽ khuyến khích họ làm việc hiệu quả hơn và có cảm giác tự tin và tự hào về vị trí công tác của mình Đồng thời, nhờ những cải cách này mà có thể thuyết phục được những người trẻ tuổi có học vấn tốt phục vụ trong chính quyền địa phương Tuy nhiên, các cán bộ cũng khá thận trọng khi nói về những thay đổi trong vị thế công tác của cán bộ phường xã và của quá trình phân cấp hơn nữa sẽ có tác dụng như thế nào trong thực tế
Phải làm việc nhiều hơn do cắt giảm biên chế là vấn đề quan tâm chung của cán
bộ phường xã và cán bộ cấp cao hơn Công chức vừa phải làm tròn các nhiệm
vụ thường xuyên của mình, vừa phải đảm nhận thêm các trách nhiệm do sáng kiến “một cửa” tạo ra Đối với chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh hoặc quận huyện, điều đó có nghĩa là khoảng 15 đến 20 công việc khác nhau Hậu quả là họ dành rất ít thời gian cho công việc thực sự liên quan đến CCHC
Một vấn đề nữa là thiếu rõ ràng trong phân công chức năng nhiệm vụ về CCHC giữa các cấp hành chính khác nhau Tại một số phường xã, Uỷ ban nhân dân chuyển vai trò ra quyết định về tranh chấp đất đai lên cho cấp quận huyện, trong khi cán bộ cấp quận huyện lại cho rằng trách nhiệm đó thuộc về phường xã Ở Đắk Lắk, chính quyền tỉnh quyết định việc tuyển dụng giáo viên cho các huyện, trong khi điều đó có thể giao cho cấp huyện Tuy nhiên, nhiều giáo viên do chính quyền tỉnh tuyển dụng không muốn làm việc ở cấp cơ sở và do đó tỏ ra không gắn bó với công việc, điều này có thể tránh được nếu việc tuyển dụng được giao cho cấp huyện
Nhiều cán bộ cho rằng cán bộ cấp phường xã không có đủ trình độ học vấn và kiến thức về hành chính công để thực hiện chức năng mới của họ CCHC bị cản trở do thiếu thông tin về luật đất đai và dịch vụ của cơ chế "một cửa", nhất là cán
bộ ở các vùng nghèo và vùng sâu, vùng xa Trong một số trường hợp, người ta
lo ngại rằng không thể tìm được người đảm nhiệm các vị trí cán bộ đó nếu bắt buộc phải thoả mãn tiêu chuẩn về kỹ năng Ở một số vùng cao, năng lực của cán
bộ địa phương thấp đến mức phải thuyên chuyển cán bộ từ nơi khác tới để quản
lý xã có hiệu quả
Một vấn đề nữa liên quan đến sự ổn định nghề nghiệp Cán bộ địa phương không biết chắc có bao nhiêu vị trí biên chế được giao cho phường xã mình, và điều gì sẽ xảy ra với những người không có đủ tiêu chuẩn cần thiết hoặc buộc phải về hưu Ngoài ra, người ta cũng bày tỏ lo ngại về việc làm thế nào để sa thải được những công chức không làm được việc một khi đã tuyển họ vào Kinh phí cũng là một vấn đề khác Theo lời một cán bộ, để thực hiện dịch vụ công theo cơ chế "một cửa", cần có kinh phí hàng tháng ít nhất là 5 triệu đồng
Trang 27Tại xã của anh ta, thù lao cho cán bộ làm bán chuyên, chi phí trả cho cán bộ hợp đồng và chi phí hành chính đều do một dự án nước ngoài tài trợ cung cấp Nếu nguồn kinh phí này chấm dứt thì việc duy trì mức độ phục vụ như cũ sẽ hết sức khó khăn
Cán bộ ở các huyện đang đô thị hoá nhanh, như các huyện ở thành phố Hồ Chí Minh, cho rằng việc khối lượng dịch vụ ngày một nhiều hơn đã không được tính đến trong các đề án phân cấp khi dự trù về biên chế và tiền lương Một cán bộ tại huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh, cho biết:
“Đô thị hoá đang diễn ra nhanh hơn và áp lực công việc cũng lớn hơn, nhưng tiền lương thì vẫn thế, do đó thu nhập của cán bộ không phản ánh đúng khối lượng công việc đang ngày một tăng Các nhà cải cách nói nhiều đến cải cách hành chính, nhưng chúng tôi thấy không có gì thay đổi đối với chúng tôi - chỉ
có công việc là vất vả hơn"
Cuối cùng, nhiều lãnh đạo thôn bản phàn nàn rằng họ sẽ bị loại trừ không được hưởng lợi ích như các đồng nghiệp cấp phường xã khi những người này trở thành công chức nhà nước Lãnh đạo thôn bản cho rằng công việc nặng nhọc của họ không được phản ánh trong mức trợ cấp ít ỏi dành cho họ hoặc họ không được đi đào tạo Điều này rất quan trọng vì ở nông thôn, cán bộ thôn bản là những người trực tiếp tiếp xúc với người dân địa phương Ở các vùng miền núi, người dân dựa vào trưởng làng, già bản để tiếp nhận thông tin và đề đạt quan điểm của họ, chứ ít khi có bất kỳ liên hệ trực tiếp nào với cán bộ xã hoặc cấp cao hơn
4 Cán bộ đánh giá như thế nào về tác động của CCHC đến người nghèo?
Nhiều cán bộ công nhận rằng CCHC sẽ giúp tăng thu nhập cho các hộ gia đình nghèo qua nhiều cách khác nhau: giảm bớt tệ hành chính quan liêu có nghĩa là người dân sẽ phải tiêu tốn ít thời gian và tiền bạc hơn để có được những giấy tờ cần thiết; công tác quản lý đất đai tốt hơn sẽ cho phép nhiều hộ dân có thể dùng quyền sử dụng đất làm tài sản thế chấp để vay vốn khởi sự kinh doanh; và hoàn thiện việc thực hiện Luật Doanh nghiệp sẽ khuyến khích đầu tư cho phát triển kinh tế, qua đó tạo thêm nhiều công ăn việc làm
Trong những lĩnh vực đã bắt đầu thực hiện CCHC, các cán bộ cho rằng những lợi ích đó đã được ghi nhận Họ cho rằng, việc ủy quyền phân bổ đất đai và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Uỷ ban nhân dân huyện đã giúp giảm bớt thời gian chờ đợi Ngoài ra, theo các cán bộ kế hoạch, số lượng các công ty đăng ký kinh doanh đã tăng ngay khi cơ chế "một cửa" được ban hành, và số dự
án đầu tư cũng như giá trị vốn đăng ký của các dự án đó đều tăng Điều này hiển nhiên góp phần tạo thêm việc làm
Hộp 2: Việc cung ứng dịch vụ hành chính tốt hơn ở cấp phường xã
có lợi cho các doanh nghiệp nhỏ như thế nào?
Trang 28“Năm ngoái, tôi không có bất cứ một giấy tờ cơ bản nào cần xử lý, chỉ có những thủ tục hành chính nhỏ Nếu tôi có giấy tờ gì đó cần chứng thực, Chủ tịch xã sẽ làm việc đó cho tôi, một số công việc đòi hỏi Phó chủ tịch hoặc công an xã phụ trách vấn đề đăng ký hộ khẩu giải quyết Đó là theo ngành dọc của họ Thí dụ, đồn công an sẽ xác nhận hộ khẩu và tình trạng công dân Còn đối với công việc hành chính, nếu Chủ tịch vắng mặt thì Phó chủ tịch phải làm thay Một dự án có thể phải đi qua một hay nhiều cửa; nếu một dự án cần nhiều loại giấy tờ và chứng thực, người làm dự án phải đi qua tất cả những cửa đó, nếu không chỉ cần đến Uỷ ban nhân dân
xã và thế là xong Việc lấy các giấy chứng thực ở văn phòng Uỷ ban xã rất nhanh; chỉ cần mình đến gặp các cán bộ là họ sẽ làm ngay và không gây bất kỳ phiền toái nào, vì chúng tôi chỉ cần họ xác nhận thôi Thái độ của họ rất hoà nhã và tôi hài lòng với cách phục vụ của họ khi tôi đến tìm họ.”
Nguyễn Xuân Hoạt, chủ một xưởng mộc ở vùng quê Thái Bình
“Tôi đến sống ở đây - huyện Tương Dương này - từ năm 1977 Khi tôi mở xưởng mộc, tôi phải làm thủ tục xin phép của xã và của huyện và phải đăng ký tạm trú hàng năm cho năm công nhân Tôi không gặp bất cứ khó khăn lớn nào trong việc xin giấy phép mở xưởng mộc tại nhà cả, vì nó chỉ
là một xưởng nhỏ Tôi không phải trả bất cứ khoản tiền nào để hoàn tất các thủ tục đó”
Lê Thị Lý, xã Tam Định, chủ một xưởng mộc
Một số cán bộ chỉ ra rằng phân cấp hơn nữa cho cấp phường xã sẽ làm giảm chi phí trung gian trong các lĩnh vực như xây dựng, nhờ đó giảm được mức phí phải nộp của người dân địa phương và tạo thêm cơ hội việc làm cho người nghèo Ở một số vùng mà cấp xã quản lý việc xây dựng cơ sở hạ tầng, có thể tiết kiệm được từ 30 đến 50% tổng kinh phí Vì thế, phân cấp hơn nữa sẽ giúp giảm nghèo và tiết kiệm chi tiêu cho Chính phủ Tuy nhiên, cần xây dựng được hệ thống giám sát và đánh giá có sự tham gia của cộng đồng để đảm bảo tính minh bạch và tính trách nhiệm trong việc thực hiện dự án ở cấp xã
5 CCHC và mối quan tâm của các cộng đồng nghèo
Hầu hết người nghèo địa phương - chứ không phải người nghèo nhập cư - ở đồng bằng Việt Nam và ở các thành phố đều khẳng định đã có sự cải thiện đáng
kể trong dịch vụ hành chính cấp xã Chương trình “một cửa” được đánh giá cao nhờ đã giảm bớt được thời gian Uỷ ban nhân dân xã xác nhận bản sao các giấy
tờ như lý lịch cá nhân, các giấy tờ đăng ký gia đình và hộ Ví dụ, ở thành phố Hồ Chí Minh, những thủ tục đó hiện nay chỉ mất từ 15 đến 20 phút và chỉ cần một hoặc hai cán bộ xử lý Sự minh bạch đã được nâng cao bằng việc công khai hoá mức lệ phí
Thái độ hoà nhã hơn và tinh thần trách nhiệm cao hơn của các cán bộ xã cũng đóng vai trò quan trọng để tăng thêm niềm tin cho các hộ nghèo khi cần giải quyết vấn đề của họ Ngay cả những người biết rất ít về những chức năng khác
Trang 29nhau của cán bộ xã cũng nhận thấy rằng, cán bộ xã sẽ làm việc hiệu quả hơn nếu họ được nhận lương và các hỗ trợ khác từ Chính phủ
Tuy nhiên, ở hầu hết các địa phương, những vấn đề như thủ tục phức tạp, mất thời gian, tham nhũng và năng lực cán bộ yếu vẫn còn tồn tại Những yếu tố này được thấy rõ nhất khi xét đến những qui trình hành chính có tác động lớn nhất đến đời sống của người dân: đăng ký nhà ở, đăng ký đất đai và cư trú, và tiếp cận vốn vay
Đăng ký c trú dài h n là v n đ mà công nhân nh p c phàn nàn nhi u nh t Thông tin
v các th t c c n thi t còn thi u, và ng i dân ng n ng i không mu n g p công an là
nh ng ng i ch u trách nhi m v đăng ký h kh u M t s phàn nàn r ng ngay c khi h
đã đ đi u ki n h p l đ chuy n hình th c đăng ký h kh u t KT4 sang KT3 thì vi c h có chuy n đ c hay không ph thu c vào “quy n l c” c a công an và m i quan h gi a ch
h v i công an Th ng ph i đ a h i l Nhi u ng i nh p c cho bi t, qui đ nh v vi c gia
h n đăng ký t m trú, th ng c 6 tháng h t h n m t l n, và yêu c u ph i có gi y xác nh n
t m v ng c a đ a ph ng n i th ng trú là quá ph c t p và bu c h ph i ngh làm t hai đ n
ba ngày M t s ng i đ n t các t nh xa không có đ ti n đ quay v đ a ph ng n i th ng trú, vì th h ch p nh n b ph t vì vi ph m lu t đăng ký t m trú
Ở những địa phương nghèo hơn, người dân kêu ca về việc thiếu các trang thiết
bị cần thiết ở cấp xã, gây ra nhiều sự phiền toái quan liêu rất mệt mỏi Ví dụ, ở
xã Ea'ral tỉnh Đắk Lắk, một người dân phàn nàn rằng anh ta phải đi bộ bảy cây
số để phôtô một số giấy tờ, một quãng đường mà anh ta phải đi đi lại lại rất nhiều lần vì cán bộ xã không thoả mãn với chất lượng của các bản phôtô Người dân thấy những trường hợp liên quan đến các sự kiện dây dưa kéo dài từ trước
là những vấn đề khó giải quyết nhất, do thiếu một hệ thống kê khai và lưu trữ hồ
sơ thoả đáng ở các văn phòng của chính quyền
Tuy mức lệ phí hành chính ở cấp xã là chấp nhận được với đa số người dân Việt Nam, điều đó không phải lúc nào cũng đúng đối với các hộ rất nghèo Ở những vùng sâu vùng xa, người dân không trả nổi ngay đến một mức lệ phí 2.000 đến 3.000 đồng cho một giấy khai sinh Một số người phản ánh rằng họ không đủ tiền
để trả 12.000 đồng cho một giấy chứng minh nhân dân, mà nếu không có nó thì
họ không cho con đến trường được và không tiếp cận được bất cứ dịch vụ hay
cơ sở công cộng nào
Dân làng ở tỉnh Đắk Lắk thì kêu ca về thủ tục ngân hàng phức tạp, buộc họ phải đi
đi lại lại ngân hàng nhiều lần và nộp nhiều loại phí Tính trung bình, mỗi người vay vốn phải trả khoảng 300.000 đồng cho một khoản vay trị giá 5 triệu đồng, tuy mức phí chính xác còn phụ thuộc vào quan hệ giữa người vay vốn với cán bộ ngân hàng Vì người dân thường phải đi rất xa để đến được ngân hàng nên trong một
số trường hợp, họ từ bỏ mong muốn vay vốn vì chi phí giao dịch cao
T quan liêu ti p t c gây tr ng i cho nhi u v n đ quan tr ng khác đ i v i phúc l i kinh t
xã h i c a ng i nghèo, nh tr ng h p m t bé trai t nh Đ k L k:
"Con trai của Điều Dương đã thi đỗ ở kỳ thi tốt nghiệp trung học cơ sở năm
2000 Em muốn tiếp tục học lên trung học phổ thông, nhưng gia đình em quá nghèo Người ta khuyên Điều Dương lên xin lãnh đạo huyện giải quyết cho được miễn học phí Nhưng khi anh đến văn phòng của huyện thì anh được chỉ lên tỉnh, ở đó anh không được cung cấp những thông tin cần thiết Kết quả, con trai anh đã phải bỏ học."
Trang 30Cuối cùng, trong một số trường hợp, những giấy tờ quan trọng như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và giấy xác nhận hộ nghèo bị các cán bộ thu hồi vì hộ nghèo không hoàn thành các nghĩa vụ với Nhà nước như đóng góp lao động công ích hay đóng góp cho quỹ của xã Điều này đã gây ra nhiều vấn đề nghiêm trọng cho những ai muốn dùng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để vay vốn hoặc tìm việc làm ngoài tỉnh Trong một số trường hợp, đám cưới còn bị hủy bỏ vì cán bộ xã từ chối không cho đăng ký kết hôn
6 Vấn đề công bằng
Mặc dù được phản hồi nhiều dấu hiệu tích cực từ cả cán bộ lẫn người dân về CCHC - và những chỉ số rõ ràng cho thấy cải cách có thể giúp mang lại sự thịnh vượng hơn - tiến độ và tác động của việc thực hiện CCHC vẫn chưa đồng đều, phụ thuộc vào địa bàn, điều kiện kinh tế xã hội và cơ cấu dân tộc Chính quyền địa phương ở những vùng giàu có hơn có năng lực mạnh hơn
để thực hiện CCHC, và các hộ gia đình khá giả hơn - chủ yếu là các hộ người Kinh ở đồng bằng - được hưởng lợi
Trái lại, những nhóm có nguy cơ tổn thương cao, như đồng bào dân tộc thiểu
số, những người cần được hưởng lợi nhiều nhất từ CCHC, lại chỉ có thể được hưởng rất ít từ chương trình này Điều đó cũng phù hợp với những phát hiện từ cuộc điều tra mức sống hộ gia đình năm 2002, trong đó nhận xét tình hình đói nghèo ở các vùng trung du và miền núi không được cải thiện, đó là những nơi nghèo về tài nguyên và tập trung đông các dân tộc thiểu số Đó là
vì nhiều yếu tố: cách trở về địa lý, khó khăn về kinh tế, mù chữ hoặc trình độ giáo dục và đào tạo của cán bộ thấp, lãnh đạo còn tương đối thụ động và ảnh hưởng chính trị yếu, nhất là ở cấp địa phương Người lao động nghèo nhập
cư và những người sống ở các vùng sâu vùng xa là những người đặc biệt thiệt thòi Họ thường cảm thấy không được giúp đỡ từ những chính quyền xã thiếu thiện chí hợp tác và thiếu trang thiết bị, và không được hỗ trợ tư vấn về pháp lý hoặc hành chính Trong khi những người có quan hệ gần gũi với Chính quyền hoặc Quân đội thường được hưởng dịch vụ có chất lượng cao nhất thì người nghèo thường phàn nàn rằng họ thường xuyên gặp thái độ thiếu tôn trọng
7 Làm thế nào để cải thiện việc cung ứng dịch vụ hành chính công?
Mặc dù tạo ra những thay đổi pháp lý cần thiết để hỗ trợ việc thực hiện CCHC
là vấn đề căn bản, người nghèo cũng cần được tăng cường quyền lực thông qua việc được cung cấp thông tin về quyền và nhiệm vụ của họ và các cán bộ công chức ở mọi cấp phải được trang bị những kỹ năng cần thiết Vì thế, vấn
đề rõ ràng cần được ưu tiên để thực hiện thành công CCHC là phải giáo dục cộng đồng hoặc tuyên truyền ở cấp địa phương để nâng cao nhận thức của người dân địa phương về những dịch vụ công được cung cấp cho họ Cũng cần nâng cao năng lực và đào tạo cho cán bộ ở mọi cấp chính quyền bằng cách tập huấn cho họ các chính sách và qui định của Chính phủ, tái trang bị kỹ năng để họ có thể thực hiện được vai trò, chức năng và nhiệm vụ mới của mình Điều này đặc biệt quan trọng ở thôn bản và cấp xã, nhất là những nơi ở vùng sâu vùng xa Tăng cường giáo dục và đào tạo sẽ cho phép cán bộ xử lý
Trang 31hiệu quả hơn công việc của họ và nhạy bén hơn với các mối quan tâm của địa phương2
Cần phải phân công nhiệm vụ, trách nhiệm trong thực hiện CCHC một cách rõ ràng và minh bạch hơn trong toàn bộ hệ thống hành chính Thông tin này cần được đăng tải để người dân địa phương dễ dàng được biết, từ đó họ sẽ biết phải
đề đạt những vấn đề mà họ quan tâm như thế nào và ở đâu Hơn nữa, tăng cường sự hợp tác giữa cấp tỉnh, quận huyện và phường xã là rất cần thiết Điều này sẽ được thúc đẩy thêm nhờ sự hỗ trợ của công nghệ thông tin hiện đại, ví dụ như máy tính có kết nối Internet Nó sẽ giúp người dân địa phương không phải đi
xa và xin dấu từ nhiều cán bộ khác nhau, từ đó tạo ra những trung tâm "một cửa" hữu hiệu hơn, đặc biệt đối với người nghèo
CCHC cần được mở rộng đến các quận huyện và phường xã để tăng cường chính quyền địa phương, nhằm phục vụ người dân địa phương tốt hơn, nhất là người nghèo, và các doanh nghiệp Cũng cần lưu ý rằng sáng kiến về cơ chế
"một cửa" rất hữu ích, nhưng đó không phải là liều thuốc vạn năng để giải quyết tất cả mọi vấn đề về cung ứng dịch vụ hành chính Thành công của cơ chế "một cửa" sẽ phụ thuộc vào việc thực hiện thành công và hiệu quả tất cả bốn lĩnh vực của CCHC, đó là cải cách thể chế, cải cách tổ chức, cải cách dịch vụ công trong
đó đặc biệt là nâng cao chất lượng của đội ngũ công chức, và cải cách quản lý tài chính ở cả cấp trung ương lẫn địa phương Điều này đòi hỏi phải chuẩn bị kế hoạch hành động CCHC với dự trù kinh phí và hạn định thời gian rõ ràng ở tất các các cấp địa phương, cũng như việc thực hiện hiệu quả kế hoạch đó Nói cách khác, thực hiện CCHC cần được triển khai sâu rộng và nhanh chóng như
đã được dự kiến trong CPRGS để mang lại lợi ích cho người nghèo
Cuộc điều tra đã chỉ ra những yếu điểm chủ yếu trong việc giám sát và chỉ đạo CCHC Hiện nay, cán bộ địa phương chịu trách nhiệm thực hiện cải cách cũng chính là những người chịu trách nhiệm giám sát Vì thế, cần thành lập một cơ quan độc lập để theo dõi quá trình thực hiện CCHC Dân chủ cấp cơ sở3 có thể
là một công cụ quan trọng để nâng cao tính nhạy bén và trách nhiệm của chính quyền địa phương Tuyên truyền giáo dục rộng rãi trong công chúng và tạo nhiều
cơ hội hơn để họ được gặp gỡ và trình bày quan điểm ở cấp địa phương cũng là công việc hữu ích4
Cả người dân và cán bộ địa phương đều đề xuất rằng phân cấp hơn nữa sẽ cho phép CCHC phục vụ người nghèo tốt hơn, nhất là về các vấn đề dịch vụ liên quan đến họ nhiều nhất Các giấy tờ liên quan đến sở hữu nhà đất, tranh chấp dân sự, đơn xin vay vốn và sửa chữa nhà cửa vẫn phải chuyển đến cấp quận huyện, còn sổ hộ khẩu và việc cấp giấy chứng minh nhân dân cho người già vẫn phải chuyển lên cấp tỉnh Xây dựng một hệ thống trong đó những chức năng này
có thể được đơn giản hoá và được thực hiện ngay tại cấp phường xã sẽ tiết kiệm thời gian và tiền bạc cho các hộ nghèo
Trang 32Chính quyền xã cũng có thể được trao nhiều quyền nhiều hơn để quyết định và quản lý các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng nhỏ trong phạm vi thôn xã, như đã được xác định trong Chương trình 135, cũng như trong các lĩnh vực như y tế, giáo dục
và khuyến nông Theo các cán bộ kế hoạch và tài chính, điều này sẽ mang lại nhiều thu nhập hơn cho ngân sách chung và khuyến khích chính quyền địa phương xây dựng được những chính sách tốt hơn để thu hút đầu tư từ khu vực
tư nhân Nhiều công ăn việc làm sẽ được tạo ra thông qua việc mở rộng các hoạt động kinh doanh, và điều này lại làm mở rộng thêm cơ sở tính thuế
Về việc xây dựng năng lực cho cán bộ địa phương, Chính phủ cần có cách tiếp cận linh hoạt hơn đối với các phường xã, nhất là những phường ở thành phố, nơi có dân số đang tăng nhanh Cần xem xét những biện pháp như phân định lại địa giới hành chính, phân bổ biên chế và quỹ lương để đảm bảo rằng các phường xã và quận huyện đang đô thị hoá có thể đáp ứng thoả đáng nhu cầu của nhân dân
Trưởng thôn đã nêu lên chuyện lương của họ thấp hơn lương của cán bộ xã5
Sự chênh lệch này đang có xu hướng tăng, khi các cán bộ xã trở thành công chức nhà nước Vì thế, trưởng thôn nên được nhận nhiều lương và quyền lợi hơn, và cần cân nhắc đến việc cuối cùng cũng đưa lực lượng cán bộ thôn vào biên chế nhà nước Vì trưởng thôn là người gần dân nhất, nhất là các vùng nghèo miền núi, việc củng cố vị thế của họ có thể đẩy mạnh đáng kể những nỗ lực giảm nghèo Họ cũng cần được đào tạo lại và trang bị lại kỹ năng để bảo đảm rằng họ luôn theo sát các chính sách và thủ tục của Chính phủ để họ có thể giúp đỡ người dân địa phương một cách hiệu quả hơn6
Hiện nay, hầu hết người dân địa phương có rất ít khả năng tiếp cận thông tin về các văn bản và qui định pháp lý về những lĩnh vực kinh tế xã hội trọng yếu trong cuộc sống của họ Mặc dù các trung tâm dịch vụ pháp lý có tồn tại ở các tỉnh nhưng rất ít người nghèo có thời gian hoặc tiền bạc để tiếp cận chúng Do đó, những trung tâm này cần được thành lập ở quận huyện và thông tin cung cấp cho người dân phải được trình bày rõ ràng, dễ hiểu Kinh nghiệm nhiều nước cho thấy, có thể tính đến khả năng sử dụng máy tính và các trạm thông tin dựa vào Internet7 Về việc cung cấp thông tin đại chúng và hỗ trợ pháp lý, cần chú trọng thoả đáng đến vấn đề ngôn ngữ ở các làng bản, nhất là nơi sinh sống của những người dân thiểu số mù chữ
Về việc cấp các giấy tờ cần thiết như giấy khai sinh, chứng minh nhân dân, chứng nhận quyền sử dụng đất, Chính phủ nên tính đến việc giảm bớt hoặc miễn lệ phí cho các gia đình rất nghèo8 Cần cố gắng đảm bảo rằng các gia đình nghèo không bị từ chối cấp các giấy tờ đó khi, cho dù vì bất cứ lý do gì, họ không hoàn thành được những nghĩa vụ với nhà nước
5 Năm 2003, Chính phủ đã điều chỉnh mức lương tháng tối thiểu thành khoảng 19 đôla;
dự kiến sẽ tiếp tục tăng khoảng 30% mức lương công chức vào quý 4 của năm 2004
Trang 33C Môi trường và nghèo đói
Mặc dù chịu áp lực dân số cao và rừng đang tiếp tục bị thu hẹp, Việt Nam vẫn duy trì được hệ động thực vật sinh thái ở trong những mức tốt nhất ở châu Á Tuy nhiên, thực tế cho thấy môi trường ngày càng suy thoái ở cả đồng bằng và miền núi Các loại động thực vật dưới nước, diện tích rừng, và nguồn tài nguyên nước đang giảm đi Việc đánh bắt cá quá mức, các phương pháp đánh bắt cá quá mức, rừng đầu nguồn bị phá, chặt cây và đốt rừng ở vùng núi, xâm phạm trái phép các nguồn tài nguyên rừng, ô nhiễm môi trường do việc sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu trong trồng trọt, độ nhiễm mặn của nước tăng lên do nuôi tôm quá nhiều, và các cơ sở và thói quen vệ sinh lạc hậu đe doạ sức khỏe cộng đồng là một số trong những vấn đề chính mà người dân và cán bộ địa phương ở vùng nông thôn Việt Nam đang gặp phải
Về mặt thể chế, quyền sử hữu nhà nước là chủ yếu song thường không bảo vệ được môi trường Cơ cấu sở hữu ít tạo ra sự khuyến khích cho người dân nhận trách nhiệm bảo vệ môi trường Các sáng kiến phát triển rừng có sự tham gia của người dân vẫn chưa được xây dựng tốt Tuy nhiên, trong những năm gần đây, Việt Nam đã thử các biện pháp khác nhau nhằm tăng cường bảo vệ môi trường và cải thiện đời sống của nguời dân địa phương Quan trọng hơn nữa, môi trường và các nguyên nhân của nghèo hiện nay là những quan tâm chủ yếu trong các kế hoạch phát triển của địa phương trong quá trình thực hiện Chiến lược toàn diện về Tăng trưởng và Giảm nghèo của Chính phủ
Trong bối cảnh này, môi trường là một trong những vấn đề được xem xét trong Đánh giá nghèo có sự tham gia của cộng đồng (PPA) được tiến hành trong tháng bảy và tám năm 2003 ở 12 tỉnh thành phố Dưới đây là tổng hợp kết quả của cuộc đánh giá
2 Người dân định nghĩa môi trường như thế nào
Ở hầu hết các vùng khảo sát, người dân địa phương có xu hướng định nghĩa môi trường là những vấn đề liên quan đến tài nguyên thiên nhiên mà có ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày của họ Vì vậy, ở Đắk Lắk, một tỉnh vùng cao, người dân địa phương nói rằng bảo vệ rừng là mối quan tâm chính về môi trường; ở Bến Tre, một tỉnh đồng bằng sông Mê Kông, các vấn đề về nước sạch, đặc biệt là nước sạch liên quan đến nhà vệ sinh thải ra hồ cá, được nêu lên; ở những vùng ven biển, ô nhiễm môi trường từ nuôi tôm và đánh bắt cá quá mức
là những vấn đề được nêu lên Ở một số cộng đồng ở đồng bằng sông Hồng, người dân cũng đề cập đến “môi trường xã hội”, kể cả những “tệ nạn xã hội” như nghiện ma tuý, mại dâm và HIV/AIDS
Trang 34Khi ở cấp xã và thôn bản, người dân địa phương không giải thích được các khái niệm như quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên và phát triển bền vững, cộng đồng dân cư ở vùng đồng bằng ít ra có vẻ ý thức được rằng nguồn tài nguyên thiên nhiên là hạn chế, biết đến các quy định pháp luật về tài nguyên thiên nhiên
và sự cần thiết phải sử dụng có hiệu quả và bền vững Ở những vùng cao như Lào Cai, hầu hết các hộ gia đình hiểu được sự cần thiết phải đa dạng hoá công tác trồng trọt Một thửa đất điển hình được trồng cả lúa nước, cây hoa màu, rau, cây ăn quả và đào ao cá Ở nhiều cộng đồng, phân gia súc được thu gom để làm phân bón
Có lẽ do nghèo đói, trình độ giáo dục thấp và văn hoá truyền thống, ý thức về môi trường trong một số cộng đồng dân tộc thiểu số ở khu vực phía Bắc Việt Nam là kém nhất Việc tiếp tục trồng ngô trên những khu đất dốc là rừng khai hoang, việc chưa biết cách sử dụng phân gia súc một cách hợp lý để làm phân bón và không quan tâm đến việc phân chia đất cho thấy sự hiểu biết về sử dụng nguồn lực một cách bền vững còn hạn chế Tuy nhiên cũng nên nói thêm rằng những nhóm này là những nhóm nghèo nhất ở Việt Nam, họ là những người có rất ít cơ hội tăng thu nhập Ngược lại, người dân tộc thiểu số ở xã Ea’Ral của tỉnh Đắk Lắk kêu gọi cần cấp thiết bảo vệ những cánh rừng đang bị thu hẹp ở vùng đó Cả nhóm người dân tộc H’mong và Phù Lá ở tỉnh Lào Cai và những nhóm dân tộc thiểu số ở tỉnh Đắk Lắk đều có những khu rừng thiêng và họ coi việc bảo tồn những khu rừng này là một ưu tiên
Mặc dù hầu hết người dân địa phương thể hiện sự quan tâm đến những yếu tố môi trường có ảnh hưởng đến cuộc sống của họ, họ thường không mấy quan tâm đến những nguồn tài nguyên thiên nhiên mà họ cho rằng không có ảnh hưởng trực tiếp đến họ Trường hợp Công viên quốc gia Tràm Chim bao trùm một phần vùng Đồng Tháp Mười là một ví dụ Dù công viên là một nguồn động thực vật phong phú và là nơi cư trú của loài chim sếu đầu đỏ đang có nguy cơ bị tuyệt chủng, các hộ dân địa phương không thấy họ có nhiệm vụ bảo vệ vì họ không được phân đất cho việc bảo vệ Công viên Quốc gia đó
Đối với những yếu tố môi trường có ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân địa phương, dường như họ thấy bản thân họ khó có thể làm gì ngoài việc kêu với chính quyền địa phương Có lẽ do không có các tổ chức dân sự, người dân cho rằng chỉ có Chính phủ mới cải thiện được điều kiện môi trường Các hoạt động trong cộng đồng nhằm làm sạch và bảo vệ môi trường không được tổ chức Hơn nữa, người dân hiếm khi thừa nhận rằng chính họ góp phần gây ra ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường Điều này rõ nhất trong trường hợp những người được coi là góp phần làm ô nhiễm thêm môi trường như những người nuôi tôm Dù có chứng cứ rõ ràng, những người nuôi tôm ở tỉnh Nghệ An vẫn
khăng khăng “Tôi nghĩ rằng nuôi tôm không ảnh hưởng đến các gia đình khác Các hoạt động nuôi tôm của tôi không ảnh hưởng và không gây ra ô nhiễm môi trường”
3 Nguồn tài nguyên đang giảm và ô nhiễm môi trường đang tăng
3.1 Thiếu nước và nước bị nhiễm bẩn
Trang 35Các cuộc phỏng vấn với người dân cho thấy việc có nước sạch là vấn đề môi trường cấp thiết nhất ảnh hưởng đến tất cả các địa phương, dù là vùng núi, vùng đồng bằng, vùng ven biển hay đô thị
Thiếu nước cho sản xuất nông nghiệp và sử dụng trong gia đình là phổ biến, đặc biệt là ở những vùng cao như Đắk Lắk và Lào Cai Mặc dù có nhiều thác, tác động của việc phá rừng, trong trường hợp vùng núi phía Bắc, các sườn đồi dốc
bị trơ ra làm nước bị cạn đi nhanh chóng và ngày càng thiếu vào mùa khô Việc này gây ra những vấn đề nghiêm trọng đối với sản xuất nông nghiệp Ở Đắk Lắk, muốn vụ mùa được tốt, nông dân phải tưới cà phê bốn lần một ngày Với nguồn nước ngầm ít do đất kém, người ta phải chở nước từ xa về khá tốn kém Ở Quảng Ngãi, người dân cho biết mực nước sông giảm đi rất rõ và nhiều suối đang trở nên khô cạn Nhiều khu đất không có hệ thống tưới tiêu thì chỉ sản xuất được một vụ mỗi năm thay vì hai vụ như trước đây Bà Tín ở làng Bung, xã Sơn
Ba nói: “Nhà tôi sẽ hết nghèo nếu chúng tôi có đủ nước tưới”
Mức nước giảm thường dẫn đến chất lượng nước bị giảm Ở xã vùng núi Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận, việc thiếu nước trong mùa khô và thiếu sự quản lý nguồn nước đã làm cho người dân phải sử dụng nước bị nhiễm bẩn Các hộ gia đình ở hai làng nói có nhiều trường hợp mắc bệnh thận và tiêu chảy do nguồn nước không an toàn
Phân bón và thuốc trừ sâu là nguyên nhân chính gây ra ô nhiễm nước, và ô nhiễm nước gây ra các vấn đề về sức khỏe cho con người và gia súc, cũng như thoái hoá đất trầm trọng Ở Đắk Lắk, những người trồng cà phê không có đủ tiền mua phân bón và thuốc trừ sâu sinh học và do đó việc lạm dụng các sản phẩm
vô cơ là phổ biến Ở Quảng Ngãi, người ta còn phát hiện một số người vẫn sử dụng những loại phân bón và thuốc trừ sâu độc hại như DDT Ở một số vùng của tỉnh Đồng Tháp, hàm lượng phèn trong hệ thống tưới tiêu cao, làm sản lượng lúa thấp đặc biệt là vụ hè và gây ra các vấn đề cho việc nuôi cá
3.2 Chất thải công nghiệp và vệ sinh kém
Ở nhiều vùng, đặc biệt là ở vùng đồng bằng, phân bón và thuốc trừ sâu kết hợp với chất thải công nghiệp làm nguồn nước ngầm và nước bề mặt ô nhiễm thêm Vấn đề này đặc biệt đúng ở huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An Nước thải - chỉ được
xử lý nửa chừng hoặc không đuợc xử lý - từ các bệnh viện và nhà máy ở thành phố Vinh được đổ xuống con sông chảy qua huyện Nghi Lộc Vào những ngày
hè nóng bức, độc tố trong nước sông gây ra mùi hôi thối độc hại Cư dân trong vùng phàn nàn về các bệnh ngoài da và các bệnh phụ khoa, và lo lắng về các căn bệnh mãn tính do ăn thức ăn bị nhiễm bẩn Nhiều gia súc và gia cầm đã chết
vì các căn bệnh do nước bị ô nhiễm gây ra Một cư dân nói: “Trong vùng này, ô nhiễm nước là vấn đề thường gặp Làng này giống như cái túi lọc của máy bơm Nước từ thành phố Vinh chảy qua vùng này và nước thải từ Quốc lộ 1 cũng chảy qua đây Nước từ tất cả mọi nơi chảy về vùng này và chúng tôi phải gánh chịu hậu quả.”
Các phương thức sản xuất công nghiệp không an toàn, gồm cả việc thiếu các trang thiết bị xử lý rác thải và nước thải, dường như là hiện tượng ở khắp nơi Người dân ở hai huyện của tỉnh Ninh Thuận nhớ lại một tai nạn vào năm 2002 khi một đường ống nước thải từ nhà máy sản xuất mỳ gần đó bị vỡ và nước thải chảy vào sông Dinh là nguồn nước duy nhất của họ Hậu quả là người và gia súc đều mắc bệnh