1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Luận Văn Thạc Sĩ Mối Quan Hệ Giữa Tự Do Thương Mại Và Tăng Trưởng Kinh Tế, Nghiên Cứu Trường Hợp Việt Nam.pdf

115 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Mối Quan Hệ Giữa Tự Do Thương Mại Và Tăng Trưởng Kinh Tế: Nghiên Cứu Trường Hợp Việt Nam
Tác giả Phạm Viết Hùng
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Phú Tụ
Trường học Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kinh tế phát triển
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2013
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 832,32 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Microsoft Word Luan van cao hoc da chinh sua 22 01 2013 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM *** PHẠM VIẾT HÙNG MỐI QUAN HỆ GIỮA TỰ DO THƯƠNG MẠI VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ NGHIÊN CỨU TRƯỜ[.]

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

*** _

PHẠM VIẾT HÙNG

MỐI QUAN HỆ GIỮA TỰ DO THƯƠNG MẠI VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ: NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Thành phố Hồ Chí Minh - năm 2013

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

*** _

PHẠM VIẾT HÙNG

MỐI QUAN HỆ GIỮA TỰ DO THƯƠNG MẠI

VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ: NGHIÊN CỨU

TRƯỜNG HỢP VIỆT NAM

Chuyên ngành: Kinh tế phát triển

Mã số: 60310105 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS NGUYỄN PHÚ TỤ

Thành phố Hồ Chí Minh - năm 2013

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên tôi xin chân thành cám ơn thầy PGS TS Nguyễn Phú Tụ đã tận tình

hướng dẫn và dành nhiều thời gian đọc, góp ý và động viên tôi trong quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp này

Xin chân thành cám ơn các quý thầy, cô của khoa Kinh tế phát triển, Viện đào tạo sau đại học và các khoa khác của trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh, Lãnh đạo Viện và các đồng nghiệp ở Viện Nghiên Cứu Thương Mại, các bạn trong lớp cao học khoá 19 đã tận tình hỗ trợ tôi trong suốt thời gian theo học tại trường cũng như thời gian làm luận văn tốt nghiệp này

Tôi cũng xin gửi lời cám ơn đến PGS.TS Đinh Văn Thành - Viện trưởng và TS Hồ Trung Thanh - Trưởng phòng Quản lý khoa học Viện Nghiên Cứu Thương Mại - Bộ Công Thương đã tạo điều kiện hỗ trợ tôi trong quá trình thu thập tài liệu, số liệu để thực hiện luận văn tốt nghiệp này

Cuối cùng tôi xin dành cho cha mẹ, vợ, các con và những người thân trong gia đình tôi đã hết lòng quan tâm và dành cho tôi những điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành khoá học này

Xin chân thành cám ơn tất cả mọi người!

Phạm Viết Hùng

Trang 4

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, có sự hỗ trợ từ Thầy hướng dẫn, những người tôi đã cảm ơn và trích dẫn trong luận văn này Các số liệu, tài liệu sử dụng trong đề tài luận văn này đều có nguồn gốc rõ ràng và nội dung nghiên cứu cũng như kết quả nghiên cứu trong đề tài này là trung thực và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào

Tác giả

Phạm Viết Hùng

Trang 5

TÓM TẮT

Mục tiêu của luận văn này là khảo sát mối quan hệ nhân quả giữa tự do thương mại

và tăng trưởng kinh tế Việt Nam dựa trên dữ liệu kinh tế hàng năm do Tổng cục thống

kê công bố; chiều hướng và mức độ tác động qua lại giữa hai biến số để từ đó đưa ra các giải pháp và kiến nghị chính sách nhằm thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu trong điều kiện thương mại tự do đang là xu hướng tất yếu của thế giới

Tác giả áp dụng mô hình hồi quy do Bajwa và Siddiqi (2011) đề xuất, phương pháp kiểm định nhân quả Granger được sử dụng để khảo sát mối quan hệ giữa tự do thương mại và tăng trưởng kinh tế Việt Nam cả trong ngắn hạn và dài hạn Kết quả nghiên cứu thực nghiệm kiểm định nhân quả Granger dựa trên mô hình vector hiệu chỉnh sai số (VECM) cho thấy rằng quan hệ giữa tự do thương mại và tăng trưởng kinh tế chỉ tác động qua lại trong dài hạn, nhưng trong điều kiện Việt Nam thì tác động từ tăng trưởng kinh tế đến tự do thương mại lớn hơn tác động từ tự do thương mại đến tăng trưởng kinh tế Kết quả thực nghiệm theo tác giả là hợp lý vì từ khi Việt Nam thực hiện chính sách tự do thương mại, cán cân thương mại của Việt Nam luôn âm (giá trị kim ngạch nhập khẩu luôn lớn hơn kim ngạch xuất khẩu) Từ kết quả nghiên cứu, theo tác giả giải pháp phù hợp trong trường hợp này là tăng cường xuất khẩu và quản lý nhập khẩu nhằm giảm thâm hụt cán cân thương mại trong hoạt động xuất nhập khẩu

Trang 6

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Sự cần thiết lựa chọn vấn đề nghiên cứu 1

2 Vấn đề nghiên cứu 4

3 Mục tiêu nghiên cứu 5

4 Đối tượng nghiên cứu 5

5 Phạm vi nghiên cứu 5

6 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 6

7 Kết cấu luận văn 6

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN KHOA HỌC VỀ THƯƠNG MẠI TỰ DO, TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 7

1.1 Thương mại và vai trò của thương mại trong nền kinh tế quốc dân 8

1.2 Phương thức vận hành chính sách thương mại trên thế giới 10

1.3 Lý luận về tự do và bảo hộ thương mại 12

1.3.1 Lý luận về tự do thương mại 12

- Lý thuy ết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith 12

- Lý thuy ết lợi thế so sánh của Ricardo 13

- Mô hình Heckscher-Ohlin 14

- Lý thuy ết thương mại mới 16

1.3.2 Lý luận về bảo hộ thương mại 17

1.3.3 Các tiêu chí đánh giá chính sách tự do hay bảo hộ thương mại 19

1.3.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động thương mại quốc tế 21

1.4 Lý thuyết tăng trưởng kinh tế 25

1.5 Mối quan hệ giữa tự do thương mại và Tăng trưởng kinh tế 27

1.6 Mô hình nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa tự do thương mại và tăng trưởng kinh tế 30

Trang 7

1.7 Đề xuất mô hình nghiên cứu 31

1.8 Phương pháp nghiên cứu thực ngiệm 33

1.9 Đo lường tự do thương mại 41

1.10 Kết luận 44

CHƯƠNG 2 TỰ DO THƯƠNG MẠI & TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1986-2011 45

2.1 Tiến trình tự do thương mại ở Việt Nam 45

2.2 Thực trạng hoạt động ngoại thương và tăng trưởng kinh tế Việt Nam 48

2.3 Phân tích thực nghiệm về mối quan hệ giữa tự do thương mại và Tăng trưởng kinh tế ở Việt nam 55

2.3.1 Tóm l ược kết quả nghiên cứu trước 55

2.3.2 S ố liệu phân tích thực nghiệm 57

2.3.3 Phân tích k ết quả thực nghiệm 58

2.3.4 Gi ải thích kết quả nghiên cứu 66

2.3 Kết luận: 68

CHƯƠNG 3 KẾT LUẬN, GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ 69

3.1 Kết luận 69

3.2 Giải pháp 70

3.3 Kiến nghị 76

TÀI LIỆU THAM KHẢO 1

PHỤ LỤC I: SỐ LIỆU PHÂN TÍCH THỐNG KÊ MÔ TẢ 6

PHỤ LỤC 2: SỐ LIỆU PHÂN TÍCH THỰC NGHIỆM 7

PHỤ LỤC 3: CHỈ SỐ MỞ CỬA THỊ TRƯỜNG CỦA ICC NĂM 2011 8

PHỤ LỤC 4: KẾT QUẢ KIỂM ĐỊNH MÔ HÌNH BẰNG PHẦN MỀM 12

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

B ảng 2.1: Thuế suất thuế nhập khẩu bình quân theo cam kết CEPT (%) 46

B ảng 2.2: Thuế suất thuế nhập khẩu bình quân theo cam kết WTO (%) 47

B ảng 2.3: Tăng trưởng kinh tế và chỉ số tự do thương mại của Việt Nam* 48

B ảng 2.4: Cơ cấu nhập khẩu phân theo nhóm hàng giai đoạn 1986-1995 50

B ảng 2.5: Cơ cấu nhập khẩu phân theo nhóm hàng giai đoạn 1996- 2005 53

B ảng 2.6: Cơ cấu nhập khẩu phân theo nhóm hàng giai đoạn 2006- 2011 55

B ảng 2.7: Kết quả kiểm định nghiệm đơn vị ADF đối với các chuỗi gốc 59

B ảng 2.8 : Kết quả xác định độ trễ tối ưu 60

B ảng 2.9: Kết quả kiểm định đồng liên kết với chuỗi không dừng 61

B ảng 2.10: Kết quả ước lượng mô hình VECM 62

B ảng 2.11: Kết quả kiểm định kiểm định mối quan hệ trong ngắn hạn 64

B ảng 2.12: Kết quả kiểm định kiểm định mối quan hệ trong dài hạn 64

B ảng 2.13: Kết quả kiểm định nhân quả Granger 66

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

Hình 2.1: Độ mở thương mại và GDP Việt Nam giai đoạn 1986 - 1995 49

Hình 2.2: Độ mở thương mại và GDP Việt Nam giai đoạn 1996 - 2005 52

Hình 2.3: Độ mở thương mại và GDP Việt Nam giai đoạn 2006 - 2011 54

Trang 10

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

AFTA Khu vực tự do thương mại ASEAN

ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

DNNN Doanh nghiệp Nhà Nước

CEPT Hiệp định về thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài

FTA Khu vực tự do thương mại

Trang 11

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết lựa chọn vấn đề nghiên cứu

Từ hoạt động thực tế chúng ta có thể kết luận thương mại và tăng trưởng kinh tế có liên quan mật thiết và tương hỗ lẫn nhau Tăng trưởng kinh tế là mục tiêu để phát triển thương mại và ngược lại Để có được những chính sách phù hợp nhất nhằm kích thích tăng trưởng và đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa vẫn là vấn đề đang phải nghiên cứu Sự sụp đổ của các nền kinh tế vận hành theo cơ chế kế hoạch tập trung cùng với nhiều biểu hiện trục trặc của các phương thức vận hành thương mại theo hướng thay thế nhập khẩu đã nảy sinh giả thuyết cho rằng thực hiện chính sách thương mại theo hướng tự do là chìa khóa cho sự thành công về kinh tế Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu cả trong lý thuyết và thực nghiệm vẫn chưa thể giải quyết triệt để được tất cả các vấn đề của tự do hóa thương mại và đây tiếp tục là một chủ đề được các nhà kinh tế cũng như các nhà hoạch định chính sách nghiên cứu Những tranh luận liên quan đến việc lựa chọn chính sách thương mại và tác động của nó đối với việc thực thi các chính sách kinh tế liên tục xuất hiện trong kinh tế phát triển, nhưng sau những thành công của các nước Đông Á trong thực thi các chính sách phát triển kinh tế trong những năm 90 của thế kỷ trước và việc công bố nghiên cứu của ngân hàng Thế giới - Sự thần kỳ của Đông Á - vào năm 1993 đã làm cho các tranh luận này trở lên sôi động hơn đồng thời cũng có nhiều công trình nghiên cứu thực nghiệm đã được thực hiện để đánh giá vai trò của việc cải cách chính sách thương mại trong tăng trưởng kinh tế

Tự do thương mại và tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ như thế nào? Tự do thương mại tạo động lực để tăng trưởng kinh tế hay là tăng trưởng kinh tế đặt ra yêu cầu phải tự do thương mại? Các lý thuyết kinh tế cổ điển và tân cổ điển cho rằng tự do thương mại dẫn đến tăng trưởng kinh tế và có rất nhiều lý do giải thích tại sao tự do thương mại (nhất là tự do trong thương mại quốc tế) dẫn đến tăng trưởng kinh tế Tự

do thương mại là động lực cho tăng trưởng kinh tế bởi vì tự do thương mại tạo ra các kích thích cho sự tăng trưởng kinh tế, đó là:

Trang 12

(a) lợi ích từ việc chuyên môn hóa sản xuất hàng hóa và trao đổi thương mại,

(b) cải thiện sản xuất và tăng hiệu quả kinh tế và

(c) thông qua các chính sách kinh tế phù hợp để có thể thu hút các nhà đầu tư nước ngoài tăng cường đầu tư vào một quốc gia

Miller và Upadhyay (2000) cho rằng: " Kim ngạch trao đổi thương mại lớn có nghĩa

là thương mại được tự do sẽ tạo điều kiện cho nền kinh tế tiếp cận hiệu quả hơn đối với các kỹ thuật sản xuất tiên tiến để từ đó tạo điều kiện thúc đẩy năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) và thu nhập bình quân đầu người tăng nhanh hơn" Theo lý thuyết ngoại thương truyền thống, trong trường hợp không xuất hiện cạnh tranh không hoàn hảo thì việc thực hiện tự do thương mại thông qua việc cắt giảm các rào cản xuất nhập khẩu sẽ làm gia tăng lợi ích do chuyên môn hoá và làm cho tiêu dùng trong nền kinh tế tăng, từ đó sẽ làm tăng tỷ lệ tăng trưởng kinh tế Lý thuyết về lợi ích động của thương mại thì cho rằng các nguồn tạo ra tăng trưởng trong giai đoạn trung và dài hạn của một quốc gia là do vốn vật chất và vốn nhân lực mà vốn này được tích lũy nhanh hơn từ trao đổi thương mại thông qua việc tăng cường lan truyền công nghệ Có nhiều nghiên cứu ủng hộ quan điểm cho rằng giữa tự do thương mại và tăng trưởng kinh tế tồn tại mối quan hệ tích cực như các nghiên cứu của Edwards (1992), Krueger (1997),

Wacziarg và Horn Welch (2003), đồng thời theo Frankel và Romer (1999) thì khi tỷ lệ thương mại so với GDP tăng lên 1% sẽ kéo theo thu nhập bình quân đầu người tăng từ

2 đến 3%

Từ cuối thập niên 1980, Việt Nam bắt đầu mở cửa nền kinh tế bằng việc đẩy mạnh giao thương với các nước trên thế giới và tiếp nhận luồng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)

Năm 1995, với việc chính thức trở thành thành viên Hiệp hội các quốc gia Đông nam Á (ASEAN) đã đánh dấu bước đi quan trọng đầu tiên trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam Theo như cam kết giữa các thành viên ASEAN thì để tiến tới tự do hóa thương mại hoàn toàn trong khối, Việt Nam sẽ thực hiện xóa bỏ thuế

Trang 13

quan đối với hầu hết các mặt hàng vào năm 2015 Khi đó, hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, vốn và lao động có kỹ năng được dịch chuyển tự do giữa các quốc gia thành viên ASEAN

Một mốc quan trọng nữa trong hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam là vào năm

2000 Việt Nam và Hoa Kỳ ký kết Hiệp định Thương mại song phương và bắt đầu từ năm 2001 thì Hiệp định Thương mại song phương Việt Nam - Hoa Kỳ được thực thi với những nội dung và phạm vi cam kết sát với chuẩn mực WTO

Vào đầu năm 2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên WTO Các cam kết WTO của Việt Nam nhằm xóa bỏ sự phân biệt đối xử giữa hàng nội địa và nhập khẩu hoặc giữa đầu tư trong và ngoài nước và minh bạch hóa nền kinh tế

Ngoài ra, sau khi tham gia WTO, Việt Nam còn tham gia một loạt các hiệp định thương mại tự do khác như: Khu vực tự do thương mại ASEAN - Nhật Bản (2008), khu vực tự do thương mại ASEAN – Úc & Niu-Di-lân (2009), Hiệp định tự do thương mại giữa ASEAN và Ấn Độ (2010).v.v…

Như vậy, có thể thấy việc chính thức trở thành thành viên thứ 150 của WTO không phải là điểm bắt đầu và cũng không phải là đã kết thúc quá trình hội nhập và đổi mới của Việt Nam và tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, tự do hóa thương mại, đầu tư và chuyển sang thể chế kinh tế thị trường đang diễn ra ngày càng sâu rộng và đồng thời cũng là tiến trình không thể đảo ngược đối với Việt Nam và nền kinh tế Việt Nam đang ngày càng hội nhập sâu rộng hơn vào kinh tế thế giới đặc biệt là trong lĩnh vực thương mại và đầu tư

Sau hơn 20 năm thực hiện chính sách mở cửa nền kinh tế mà khởi đầu bằng việc thực hiện các chính sách tự do thương mại, kinh tế Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể, đó là tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) luôn ở mức cao

và và tương đối ổn định (trừ ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm

2007, 2008) Đồng thời thu nhập bình quân đầu người (GDP/người/năm) cũng tăng lên

Trang 14

đáng kể từ 289 USD (năm 1995) lên 1.024 USD (năm 2008), 1.168 USD (năm 2010)

và 1.411USD vào năm 2011

Tuy nhiên để thực hiện được mục tiêu trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 – 2020 đó là: “Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân 7 - 8%/năm GDP năm 2020 theo giá so sánh bằng khoảng 2,2 lần so với năm 2010; GDP bình quân đầu người theo giá thực tế đạt khoảng 3.000 USD… giá trị sản phẩm công nghệ cao và sản phẩm ứng dụng công nghệ cao đạt khoảng 45% trong tổng GDP Giá trị sản phẩm công nghiệp chế tạo chiếm khoảng 40% trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp….Yếu tố năng suất tổng hợp đóng góp vào tăng trưởng đạt khoảng 35%; giảm tiêu hao năng lượng tính trên GDP khoảng 2,5 - 3%/năm Thực hành tiết kiệm trong sử dụng mọi nguồn lực”1 thì phải giải quyết hàng loạt vấn đề thuộc nhiều lĩnh vực trong nền kinh tế từ sản xuất đến lưu thông hàng hoá, chính sách tài chính - tiền tệ, chính sách đầu tư cũng như các giải pháp mang tính văn hóa - xã hội khác Trong các vấn đề đó cần xác định rõ vai trò của tự do thương mại đối tăng trưởng kinh tế, để từ đó tìm ra những giải pháp nhằm tăng trưởng kinh tế bền vững trong điều kiện tự do thương mại ngày càng trở lên phổ biến

Trong bối cảnh như vậy, tác giả thực hiện luận văn nghiên cứu về mối quan hệ giữa

tự do thương mại và tăng trưởng kinh tế là rất cần thiết Luận văn giúp hiểu rõ bản chất mối quan hệ nhân quả giữa tự do thương mại và tăng trưởng kinh tế, đồng thời cũng phân tích các nguyên tắc cơ bản đối với mô hình thương mại Việt Nam và nó có tác động thế nào, mức độ ra sao đối với tăng trưởng kinh tế thông qua sự thay đổi về độ

mở theo thời gian của tự do thương mại

Trang 15

thế giới Những kết quả nghiên cứu khác nhau đã cho thấy đây là một vấn đề khá phức tạp Vì vậy luận văn này này cố gắng tìm bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ giữa thương mại quốc tế và tăng trưởng kinh tế của Việt Nam Vấn đề nghiên cứu chính trong luận văn này đó là tự do thương mại có mối quan hệ thế nào đối với tăng trưởng kinh tế của Việt Nam Cụ thể hơn câu hỏi nghiên cứu sau đây sẽ được giải quyết trong luận văn này:

i) Tự do thương mại và tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ nhân quả với nhau hay không?

ii) Mối quan hệ giữa tự do thương mại và tăng trưởng kinh tế Việt Nam diễn ra theo chiều nào? Từ tự do thương mại sang tăng trưởng kinh tế hay ngược lại?

iii) Nếu tồn tại mối quan hệ giữa tự do thương mại và tăng trưởng kinh tế Việt Nam thì mối tương quan giữa chúng theo quan hệ đồng biến hay nghịch biến?

3 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chính của luận văn là khảo sát mối quan hệ giữa tự do hóa thương mại và tăng trưởng kinh tế của Việt Nam Do vậy, luận văn sẽ khảo sát cụ thể hơn về sự ảnh hưởng qua lại giữa thương mại quốc tế và tăng trưởng kinh tế của Việt Nam

4 Đối tượng nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu trong luận văn này là mối quan hệ giữa tự do thương mại và tăng trưởng kinh tế của kinh tế Việt Nam

5 Phạm vi nghiên cứu

“Mở cửa” là một khái niệm rất rộng nó bao gồm rất nhiều nhân tố, theo lý thuyết kinh tế phát triển thì mở cửa được thể hiện bằng việc Chính phủ của một quốc gia thi hành các chính sách nhằm thực hiện được ba mục tiêu chính, đó là : 1) Tự do hoá thương mại 2) Tự do hoá dòng vốn 3) Chính sách tỷ giá (tự do) Trong hệ thống các chính sách nêu trên thì chính sách tự do hoá thương mại là một chính sách nổi bật và chiếm một vị trí quan trọng nhất trong chính sách đối ngoại của một quốc gia do vậy trong thực tế có đôi khi người ta đồng nhất khái niệm mở cửa về thương mại (tự do

Trang 16

thương mại) với mở cửa kinh tế Trong luận văn này, tác giả chỉ nghiên cứu một khía cạnh trong mở cửa, đó là tự do hoá thương mại, do vậy trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này tác giả chỉ tập trung nghiên cứu về thương mại quốc tế và tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong giai đoạn đổi mới, mở cửa nền kinh tế (1986 – 2011)

6 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

- Thông qua nghiên cứu, luận văn sẽ cung cấp các bằng chứng về bản chất mối quan hệ giữa tự do thương mại và tăng trưởng kinh tế của Việt Nam có theo đúng quy luật và các lý thuyết kinh tế hay không?

- Thông qua nghiên cứu sẽ xác định xu hướng và mức độ ảnh hưởng qua lại giữa tự

do thương mại và với tăng trưởng kinh tế để từ đó có thể đưa ra khuyến nghị các chính sách kinh tế trong giai đoạn tới của Việt Nam nên thực hiện theo hướng nào? Có nên tiếp tục thực hiện chính sách mở cửa nữa hay không?

7 Kết cấu luận văn

Sau phần mở đầu thì kết cấu còn lại của luận văn được viết theo trình tự sau: Chương I, trình bày tóm lược các cơ sở lý thuyết, mô hình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu sẽ thực hiện trong luận văn Trong phần cơ sở lý thuyết sẽ trình bày khái niệm về thương mại và vai trò của thương mại với nền kinh tế, khái quát chính sách tự

do và bảo hộ thương mại, các công cụ của chính sách thương mại, một số lý luận điển hình về tự do thương mại và lý thuyết tăng trưởng kinh tế; Đề xuất mô hình và phương pháp nghiên cứu thực nghiệm Chương II, trình bày tóm lược thực trạng mối quan hệ giữa tự do thương mại và tăng trưởng kinh tế của Việt Nam giai đoạn 1986 – 2011 theo phương pháp thống kê mô tả từ các dữ liệu thống kê kinh tế, tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, tỷ lệ cắt giảm thuế quan và rào cản thương mại và phân tích kết quả thực nghiệm mối quan hệ giữa tự do thương mại và tăng trưởng kinh tế theo các dữ liệu thống kê kinh tế của Việt Nam; Chương III trình bày kết luận về kết quả nghiên cứu thực nghiệm, đề xuất một số giải pháp và khuyến nghị đối với các cơ quan hữu quan

Trang 17

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN KHOA HỌC VỀ THƯƠNG MẠI TỰ DO, TĂNG

TRƯỞNG KINH TẾ

Chương này sẽ trình bày khung lý thuyết để làm cơ sở cho việc hình thành các giả thuyết chính sẽ được kiểm định bằng thực nghiệm trong các chương sau của luận văn này Phần lý luận này sẽ trình bày vai trò của thương mại và thương mại quốc tế trong nền kinh tế quốc dân; các lý thuyết về tự do và bảo hộ thương mại; lý thuyết tăng trưởng kinh tế Trong phần lý thuyết tự do và bảo hộ thương mại, luận văn tập trung phân tích lợi ích của các chính sách tự do và bảo hộ thương mại, hệ thống hoá các tiêu chí đánh giá hai chính sách này Những người ủng hộ quan điểm tự do thương mại cho rằng tự do thương mại là một trong những động lực chủ yếu cho tăng trưởng kinh tế, tuy nhiên những người ủng hộ bảo hộ thương mại lại cho rằng bảo hộ thương mại có lợi cho nền kinh tế trong việc phát triển các ngành công nghiệp mới, non trẻ

Đối với lý luận về tự do thương mại luận văn sẽ trình bày các lý thuyết:

1) Lý thuyết cổ điển tiêu biểu là lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith, Ricardo với lý thuyết lợi thế so sánh;

2) Lý thuyết tân cổ điển mà tiêu biểu là mô hình Heckscher-Ohlin và định luật cân bằng giá các yếu tố sản xuất2; và

3) Lý thuyết thương mại mới

Trong phần lý thuyết thương mại mới, luận văn tập trung trình bày tóm lược một số nghiên cứu do nhà kinh tế học Paul Krugman thực hiện vì đây là các công trình nghiên cứu được coi là những đóng góp chủ yếu để hình thành lên lý thuyết thương mại mới Trong lý thuyết tăng trưởng kinh tế, luận văn tập trung vào phân tích các nhân tố tạo ra tăng trưởng kinh tế thông qua các mô hình tăng trưởng kinh tế tân cổ điển, đó là

mô hình tăng trưởng của Solow và mô hình tăng trưởng nội sinh

2 the factor price equalization theorem

Trang 18

Trong phần trình bày về mối quan hệ giữa tự do thương mại và tăng trưởng kinh tế, luận văn sẽ trình bày mối quan hệ giữa tự do thương mại và tăng trưởng kinh tế dựa trên các lý thuyết về tăng trưởng và tóm lược các kết quả nghiên cứu liên quan

Trong phần mô hình kinh tế lượng, luận văn sẽ trình bày đề xuất mô hình nghiên cứu và tóm lược cách thức tiến hành các kỹ thuật kinh tế lượng

1.1 Thương mại và vai trò của thương mại trong nền kinh tế quốc dân

Thương mại là một hoạt động kinh tế nhằm thực hiện việc trao đổi của cải, hàng hóa, dịch vụ giữa hai hay nhiều đối tác với nhau Thương mại ra đời và tồn tại là do sự chuyên môn hóa và phân chia lao động, nghĩa là có một nhóm người nhất định nào đó tập trung vào việc sản xuất để cung ứng các hàng hóa hay dịch vụ thuộc về một lĩnh vực nào đó để trao đổi với hàng hóa hay dịch vụ của nhóm người khác Thương mại xảy ra giữa các khu vực là do sự khác biệt giữa các khu vực này đem lại lợi thế so sánh hay lợi thế tuyệt đối trong quá trình sản xuất ra các hàng hóa hay dịch vụ có tính thương mại hoặc do sự khác biệt về quy mô của khu vực (chẳng hạn là dân số) cho phép khu vực đó có được lợi thế trong sản xuất hàng loạt Vì thế, trao đổi thương mại theo giá cả thị trường sẽ đem lại lợi ích cho tất cả các khu vực tham gia thương mại Theo cách hiểu về thương mại thì thương mại quốc tế là các hoạt động trao đổi hàng hoá dịch vụ bên ngoài biên giới của các quốc gia Như vậy, thương mại quốc tế (hay còn gọi là ngoại thương) theo nghĩa phổ biến nhất thì đó là một phạm trù kinh tế phản ánh sự trao đổi hàng hoá, dịch vụ giữa quốc gia này với quốc gia khác bằng các hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu hàng hoá dịch vụ

Thương mại nói chung và thương mại quốc tế nói riêng có vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế của một quốc gia Thương mại là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng do đó nó có vai trò là một tác nhân quan trọng thúc đẩy sản xuất phát triển, góp phần làm tăng trưởng kinh tế và ngược lại, kinh tế phát triển sẽ tạo điều kiện thúc đẩy phát triển thương mại ở trình độ cao hơn Trên cơ sở trao đổi thương mại, các quốc gia

sẽ có điều kiện tập trung vào sản xuất các lọai hàng hóa dịch vụ mà mình có lợi thế rồi

Trang 19

sau đó trao đổi để có được những loại hàng hóa dịch vụ không có lợi thế khi được sản xuất ở quốc gia đó Như vậy, các hoạt động thương mại này một mặt sẽ giúp thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của người dân của các quốc gia và mặt khác nó còn thúc đẩy hoạt động sản xuất, kinh doanh trong nước phát triển có hiệu quả hơn

Mặt khác, quy mô của tổng thu nhập quốc dân xác định theo phương pháp phân phối là:

GDP = C + I + G + (X - M) (1.1) Phương trình 1.1 cho thấy tổng thu nhập quốc dân phụ thuộc rất lớn vào hoạt động thương mại quốc tế của nước đó Trong hoạt động thương mại quốc tế, xuất khẩu sẽ làm tăng cung ngoại tệ cho nền kinh tế còn nhập khẩu sẽ làm tăng cầu ngoại tệ trong nền kinh tế Vì vậy, hoạt động xuất nhập khẩu tác động đến quỹ tiền tệ của đất nước từ

đó tác động đến tổng cầu của toàn nền kinh tế Nếu cán cân thương mại (quốc tế) thuần dương (trường hợp xuất siêu) tổng cầu sẽ tăng, còn nếu cán cân thương mại thuần âm (trường hợp nhập siêu) tổng cầu sẽ giảm Tổng cầu có quan hệ đồng biến với tăng trưởng kinh tế, khi tổng cầu tăng làm tăng trưởng kinh tế tăng Hoạt động trao đổi thương mại quốc tế phát triển, thị trường được mở rộng, cho phép tăng chuyên môn hoá sản xuất, tiếp nhận công nghệ mới, khuyến khích phát minh sáng chế nâng cao năng suất lao động dẫn tới tăng tổng sản phẩm quốc dân Đồng thời cho phép các quốc gia mở rộng sản xuất trên cơ sở chuyên môn hoá sản xuất Từ đó cho thấy hoạt động trao đổi thương mại có thể tạo điều kiện cho các quốc gia mở rộng đường giới hạn khả năng sản xuất theo hướng dịch chuyển ra xa hơn so với đường giới hạn khả năng sản xuất cũ

Ngoài ra, thông qua hoạt động thương mại trên thị trường, các chủ thể kinh doanh

có thể thực hiện việc mua, bán các hàng hóa, dịch vụ và như vậy nếu không có các hoạt động thương mại thì sản xuất sẽ bị đình trệ vì đầu ra và đầu vào của sản xuất không được giải quyết Như vậy, thương mại bảo đảm cho quá trình tái sản xuất được tiến

Trang 20

hành bình thường; lưu thông hàng hóa, dịch vụ thông suốt; đảm bảo nền kinh tế ổn định, tăng trưởng và phát triển

Từ những phân tích trên đây chúng ta có thể kết luận tăng trưởng thương mại và tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ biện chứng, tương hỗ cùng phát triển

1.2 Phương thức vận hành chính sách thương mại trên thế giới

Tự do thương mại (quốc tế) và bảo hộ thương mại (quốc tế) là một chính sách thương mại của một quốc gia bao gồm hệ thống các nguyên tắc, công cụ và biện pháp

mà một quốc gia sử dụng để điều chỉnh các họat động thương mại của quốc gia đó nhằm đạt được mục đích nào đó trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trong một giai đoạn nhất định

Tự do thương mại là chính sách kinh tế mà theo đó Chính phủ không phân biệt đối

xử đối với hàng hoá nhập khẩu hoặc cản trở xuất khẩu bằng việc áp dụng thuế đối với hàng nhập khẩu hoặc trợ cấp cho các loại hàng hóa xuất khẩu, do vậy khi các quốc gia

có tự do thương mại thì sự trao đổi hàng hóa và dịch vụ giữa các nước được thực hiện không có sự kiểm soát bằng những chính sách quản lý nhập khẩu Với chính sách này thì các quốc gia sẽ điều chỉnh chính sách thương mại của mình theo hướng giảm thiểu các rào cản thế quan và phi thuế quan nhằm tạo thuận lợi cho sự phát triển của hoạt động thương mại cả về bề rộng lẫn chiều sâu Tự do thương mại sẽ tạo điều kiện mở rộng quy mô xuất khẩu của mỗi nước đồng thời nó cũng tạo điều kiện thuận lợi cho việc nhập khẩu, mở cửa cho hàng hóa dịch vụ của các nước khác thâm nhập thị trường nội địa dễ dàng hơn

Bảo hộ thương mại là chính sách kinh tế được một quốc gia sử dụng khi họ nghĩ rằng ngành công nghiệp hay thị trường nội địa của họ sẽ bị trục trặc do sự cạnh tranh không lành mạnh của nước khác Mục tiêu của chính sách bảo hộ là bảo vệ thị trường nội địa trước sự xâm nhập ngày càng mạnh mẽ của hàng hóa dịch vụ từ bên ngoài Chính sách này xuất hiện, hình thành và tiếp tục được củng cố bằng các công cụ thuế

Trang 21

quan, hạn ngạch, cấm đoán và các yêu cầu về chất lượng, kỹ thuật và các điều kiện về

vệ sinh an toàn thực phẩm.v.v

Về bản chất, hai chính sách này đối lập với nhau nhưng nó vẫn có thể được sử dụng kết hợp với nhau tuỳ theo cơ sở đặc điểm, điều kiện cụ thể của từng lĩnh vực hoạt động thương mại cũng như các yêu cầu khác nhau của từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội của quốc gia

Các công cụ của chính sách thương mại quốc tế bao gồm các công cụ về thuế quan; phi thuế quan và chính sách tỷ giá

- Thuế quan: Thuế quan là thuế mà chính phủ sử dụng để đánh vào hàng hóa nhập

khẩu được vận chuyển qua biên giới quốc gia Thuế quan bao gồm thuế đánh vào hàng hóa xuất khẩu và hàng hóa nhập khẩu Thuế xuất khẩu là công cụ mà một quốc gia sử dụng để đánh vào hàng hóa xuất khẩu nhằm tăng lợi ích quốc gia (tăng nguồn thu cho ngân sách quốc gia) Thuế nhập khẩu ngoài việc làm tăng lợi ích quốc gia còn đóng vai trò quan trọng trong việc bảo hộ thị trường nội địa, đặc biệt là trong việc bảo hộ các ngành công nghiệp non trẻ Thuế quan có những ảnh hưởng đến nền kinh tế như sau: Thứ nhất, làm tăng lợi ích quốc gia Thuế quan sẽ giúp các quốc gia có thêm nguồn thu cho ngân sách để thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội nhưng trên bình diện quốc

tế thì nó làm giảm hiệu quả khai thác nguồn lực của nền kinh tế thế giới

Thứ hai, làm thay đổi cán cân thương mại, điều tiết hoạt động xuất, nhập khẩu của một quốc gia

Thứ ba, làm giảm khả năng cạnh tranh của hàng hóa do đó ảnh hưởng đến tiêu dùng của dân cư trong quốc gia đó, không tiếp cận được với nhiều loại hàng hóa và giá cả các hàng hóa cao

Thứ nhất là hạn ngạch: Hạn ngạch là quy định của chính phủ về giá trị hay số lượng cao nhất mà một ngành nào đó được phép nhập khẩu hay xuất khẩu Thực chất của

Trang 22

biện pháp này là nhà nước sử dụng công cụ hành chính để can thiệp vào hoạt động thương mại Hạn ngạch giúp bảo hộ các nhà sản xuất nội địa và có thể tạo ra các doanh nghiệp độc quyền ở trong nước

Thứ hai là những quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật: Hàng hóa muốn nhập khẩu hay xuất khẩu phải thỏa mãn một số yêu cầu kỹ thuật cụ thể nào đó do Chính phủ đưa ra Đây cũng là hình thức được sử dụng để bảo hộ sản xuất trong nước

Thứ ba là hạn chế xuất khẩu tự nguyện: Là hình thức hạn chế nhập khẩu do nước xuất khẩu đơn phương đưa ra để tránh các phiền hà về mặt chính trị hay trả đũa kinh tế Thứ tư là trợ cấp xuất khẩu: Đây là khoản chi phí của Chính phủ nhằm nâng cao năng lực cho doanh nghiệp xuất khẩu và góp phân tăng thu nhập cho người lao động

- Chính sách t ỷ giá

i) Chính sách quản lý ngoại hối: Là hình thức Chính phủ yêu cầu tất cả các khoản thu chi ngoại tệ phải thực hiện qua hệ thống ngân hàng hoặc cơ quan quản lý ngoại hối Chính phủ có thể áp dụng cơ chế nhiều tỷ giá để điều chỉnh hoạt động xuất nhập khẩu tùy thuộc vào mức độ khuyến khích hay hạn chế xuất nhập khẩu hoặc quy định mức bán ngoại tệ cho nhà nước khi xuất nhập khẩu phụ thuộc vào các mặt hàng được khuyến khích hay hạn chế

ii) Nâng giá hay phá giá đồng nội tệ nhằm tăng khả năng cạnh tranh cho hàng hóa xuất khẩu hay nhập khẩu Biện pháp này chỉ có tác dụng khi các đối tác không thực hiện các biện pháp tương tự

iii) Cơ chế lạm phát: Các nước đều duy trì mức lạm phát nhất định nhưng tỷ lệ này không giống nhau ở mỗi quốc gia và sức mua của các đồng tiền của các quốc gia cũng khác nhau do vậy có thể thả nổi lạm phát ở mức độ nhất định để kích thích hay hạn chế xuất nhập khẩu

1.3 Lý luận về tự do và bảo hộ thương mại

1.3.1 Lý luận về tự do thương mại

- Lý thuy ết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith

Trang 23

Trên cơ sở vận dụng học thuyết giá trị – lao động, Adam Smith cho rằng cơ sở để trao đổi thương mại giữa các quốc gia chính là lợi thế tuyệt đối Lợi thế tuyệt đối trong

lý thuyết của Adam Smith là chi phí sản xuất thấp hơn Mỗi quốc gia có lợi thế tuyệt đối về một sản phẩm nào đó và các quốc gia sẽ có lợi nếu mỗi quốc gia chuyên môn hóa sản xuất sản phẩm mà mình có lợi thế tuyệt đối rồi sau đó đem trao đổi cho nhau

Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith đề cao vai trò của cá nhân và doanh nghiệp, ủng hộ một nền thương mại tự do, không có sự can thiệp của Chính phủ Việc không có sự can thiệp của Chính phủ đối với hoạt động thị trường không chỉ góp phần làm tăng tỷ lệ tiết kiệm xã hội mà nó còn góp phần mở rộng thị trường Nếu xóa bỏ độc quyền thương mại và các biện pháp bảo hộ thì thị trường trong nước sẽ được hội nhập với thị trường quốc tế, khi đó sẽ tạo ra một thị trường tự do và rộng lớn là điều kiện đủ

để thúc đẩy phân công lao động, đảm bảo sự tăng trưởng kinh tế ở mỗi quốc gia

- Lý thuy ết lợi thế so sánh của David Ricardo

Bằng lý thuyết lợi thế so sánh, Ricardo đã chứng minh rằng thương mại mang lại lợi ích cho các bên tham gia và minh họa cho tầm quan trọng của chính sách tự do thương mại đối với các chính sách phát triển kinh tế của một quốc gia Ricardo lập luận rằng trong hệ thống tự do thương mại, mỗi nước sẽ phân bổ vốn và lao động của quốc gia mình theo hướng có lợi và có hiệu quả nhất do vậy khi các quốc gia tập trung vào sản xuất sản phẩm mà mình có lợi thế so sánh thì tổng sản lượng của mỗi loại hàng hoá trên toàn thế giới sẽ gia tăng và kết quả là tất cả các quốc gia đều trở nên giàu có hơn Quy luật lợi thế so sánh cho phép các quốc gia dù không có lợi thế tuyệt đối vẫn có thể tham gia vào thương mại thế giới để làm lợi cho mình dựa vào các hàng hoá mà nước

Trang 24

khác Sự đánh đổi giữa các sản phẩm hàng hoá giữa các bên sản suất như vậy được gọi

là chi phí cơ hội

Chi phí cơ hội để tạo ra một đơn vị hàng hóa là số lượng của hàng hóa khác phải từ

bỏ để tạo thêm nguồn lực sản xuất ra loại hàng hoá đó Như vậy chi phí cơ hội được xác định bằng chi phí tương đối của một sản phẩm hàng hóa so với hàng hóa khác và một quốc gia sẽ sản xuất các loại hàng hóa có chi phí tương đối thấp nhất Khi các quốc gia tham gia vào trao đổi thương mại quốc tế, số lượng và chủng loại hàng hóa dành cho tiêu dùng tăng lên và khi tiêu dùng tăng thì tổng thu nhập tăng lên, điều này

sẽ tạo điều kiện cho tỷ lệ tiết kiệm tăng từ đó dẫn đến tích lũy được vốn trong nền kinh

tế (Ricardo và Fogarty, 1965)

Mặc dù còn có những hạn chế nhất định như mô hình Ricardo chỉ tính đến một yếu

tố sản xuất duy nhất là lao động và sản phẩm được trao đổi giữa các quốc gia chỉ phụ thuộc vào duy nhất chi chí sản xuất ra chúng nhưng quy luật lợi thế so sánh của Ricardo là một trong những quy luật quan trọng nhất của kinh tế thương mại (quốc tế)

và cho đến nay, bản chất của quy luật này không hề thay đổi Nó đúng với mọi quốc gia trên thế giới

- Mô hình Heckscher-Ohlin

Mô hình Heckscher-Ohlin cũng được xây dựng dựa trên giả định cơ bản giống như

mô hình Ricardo nghĩa là thương mại quốc tế xảy ra do sự khác biệt về chi phí tương đối giữa các nước Trong mô hình Hecksher-Ohlin, đất đai được thêm vào như là yếu

tố thứ hai của sản xuất để phản ánh các nguồn lực tài nguyên

Lợi thế so sánh được xác định bởi sự khác biệt trong giá tương đối của các yếu tố sản xuất cũng như tỷ lệ khác nhau của các yếu tố này được sử dụng trong sản xuất Sự khác biệt về giá tương đối được xác định bằng sự khan hiếm tương đối các nguồn lực sản xuất, do đó giá tương đối của hàng hóa được sản xuất bằng các yếu tố khan hiếm đắt hơn hơn so với hàng hóa cùng loại được sản xuất bằng các yếu tố dư thừa Mỗi quốc gia sẽ có lợi thế trong việc sản xuất những hàng hóa mà nó sử dụng các yếu tố sản

Trang 25

xuất đặc biệt rẻ so với các quốc gia khác và như vậy các quốc gia sẽ có lợi khi xuất khẩu những hàng hóa như vậy và nhập khẩu hàng hoá không có lợi thế sản xuất do chi phí sản xuất tương đối đắt so với nhập khẩu chúng

Điều kiện tiên quyết để mô hình Hecksher-Ohlin hoạt động tối ưu đó là thương mại phải được tự do hoàn toàn, không có thuế quan và những cản trở phi thuế quan khác vì Heckscher lập luận rằng tự do thương mại thường là chính sách thương mại tốt nhất do"…nó tạo ra khả năng thỏa mãn tối đa mong muốn của con người" (Heckscher et al, 1991: trang 68)

Ngoài ra, tự do thương mại sẽ phát huy hiệu quả việc phân bổ các nguồn tài nguyên

do đó điểm sản lượng cân bằng của nền kinh tế được dịch chuyển ra ngoài đường giới hạn khả năng sản xuất của quốc gia (bao gồm toàn bộ khả năng tăng trưởng trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá)

Hai nhà kinh tế học Heckscher và Ohlin ngoài việc phát triển các lý thuyết về lợi thế so sánh bao gồm cả đất đai như là một yếu tố bổ sung cho lao động trong hàm sản xuất, họ còn đóng góp cho khung lý thuyết thương mại quốc tế bằng cách phát triển định lý cân bằng giá yếu tố sản xuất Cốt lõi của định lý này là giá cả tương đối của các hàng hóa sẽ cân bằng Tuy nhiên, hai giả định tạo lên sự cân bằng đó là các kỹ thuật sản xuất được sử dụng như nhau và giả định rằng mối quan hệ giữa giá hàng hóa và các yếu tố là mối quan hệ đồng biến, do đó khi giá cả tương đối của hàng hóa cân bằng thì điều tương tự xảy ra đối với các yếu tố sản xuất như đất đai, lao động và vốn Định lý này cho thấy các nước có lao động giá rẻ có lợi thế so sánh so với các nước có chi phí cho lao động cao trong các hàng hóa thâm dụng nhiều lao động, chẳng hạn như các sản phẩm tiêu dùng thiết yếu Chi phí (giá) cho lao động, đó là tiền lương, theo đó được dự báo sẽ cân bằng khi các nước tham gia vào thương mại quốc tế trong điều kiện tự do thương mại Như vậy, trao đổi thương mại không chỉ dẫn tới cân bằng giá của hàng hoá

mà còn làm cân bằng các yếu tố sản xuất mà không phụ thuộc vào nhu cầu hay khả năng cung ứng các yếu tố sản xuất của mỗi quốc gia Định luật này nhấn mạnh đến sự

Trang 26

thay thế và di chuyển các yếu tố sản xuất giữa các quốc gia nhằm đạt được trạng thái cân bằng tương đối và tuyệt đối

Mô hình Hecksher – Ohlin đã lý giải được quá trình giao thương giữa các quốc gia dựa vào các yếu tố sản xuất dư thừa và giá thấp, nghĩa là một quốc gia chỉ sản xuất và xuất khẩu những hàng hóa nào mà nó thâm dụng các yếu tố dư thừa trong quốc gia đó

- Lý thuyết thương mại mới

Theo Ricardo và Hecksher – Ohlin, lý do xảy ra trao đổi thương mại giữa các quốc gia là do sự khác biệt tương đối các yếu tố sản xuất của mỗi quốc gia đối với hàng hoá

và các quốc gia sẽ xuất khẩu hàng hoá thâm dụng các yếu tố dư thừa và nhập khẩu hàng hoá thâm dụng yếu tố khan hiếm Như vậy bản chất của hàng hoá xuất khẩu và nhập khẩu trong mô hình này là khác nhau Tuy nhiên, trong thương mại quốc tế lại có hiện tượng là giữa các nước mặc dù nguồn lực cũng như năng suất lao động không khác biệt nhiều nhưng trao đổi thương mại giữa những nước này lại khá lớn ví dụ như Nhật và Hàn Quốc, Pháp và Đức, Mỹ và Canada Ngoài ra các nước phát triển trao đổi thương mại với nhau không phải chỉ có mua bán những sản phẩm do khác biệt về nguồn lực hay năng suất, nghĩa là bán hàng hoá này và mua hàng hoá khác mà họ còn buôn bán với nhau cùng một loại sản phẩm, như ôtô hoặc rượu Như vậy, nếu vận dụng các lý thuyết thương mại của Ricardo và Hecksher-Ohlin nói trên thì sẽ không thể giải thích một cách thuyết phục các hiện tượng trao đổi thương mại này

Từ khi các nhà kinh tế nhận thấy hiện tượng trao đổi thương mại này đã cố gắng giải thích bằng lý thuyết thương mại nội ngành3 nhưng vẫn chưa giải thích được một cách toàn diện và triệt để Đến năm 1979, bằng bài viết “Tăng lợi nhuận, cạnh tranh độc quyền và thương mại quốc tế”4, Paul Krugman đã đánh dấu sự ra đời của lý thuyết thương mại mới trên cơ sở lý luận về lợi ích kinh tế theo quy mô, sự đa dạng về sự sở thích của người tiêu dùng và cạnh tranh độc quyền Krugman lý luận rằng sự khác biệt

3 intra-industry trade

4 Increasing Returns, Monopolistic Competition and International Trade

Trang 27

cơ bản giữa các quốc gia chỉ là một lý do giải thích tại sao thương mại diễn ra Các quốc gia cũng trao đổi thương mại bởi vì những lợi thế được tạo ra bằng sự chuyên môn hóa làm tăng lợi nhuận trong một ngành không liên quan đến lợi thế so sánh Thương mại nội ngành là đặc trưng chung trong thương mại quốc tế Ví dụ Pháp xuất khẩu rượu vang sang Nam Phi và đồng thời cũng nhập khẩu rượu từ Nam Phi về điều này sẽ không thích hợp trong mô hình dựa trên lợi thế so sánh Tuy nhiên, mô hình thương mại nội ngành không thể tự dự báo vì thương mại nội ngành xảy ra do sự khác biệt hoá trong sản xuất các sản phẩm cùng lọai nhằm cung cấp cho người tiêu dùng nhiều sự lựa chọn hơn về chất lượng hàng hóa (như mặt hàng rượu chẳng hạn) Do lợi thế theo quy mô sản xuất dẫn đến sự phân chia ngẫu nhiên lao động giữa các quốc gia Như vậy, lý thuyết thương mại mới tập trung nhiều vào phân bổ nguồn lực hơn là sản xuất hàng hoá để giải thích cho lợi ích từ thương mại (Krugman, 1990) Ngày nay công nghệ là một động lực cho chuyên môn hóa quốc tế, trong nhiều ngành công nghiệp, kiến thức có được từ nghiên cứu và phát triển (R&D) và kinh nghiệm có thể quyết định lợi thế cạnh tranh quốc gia Đổi mới công nghệ cũng có thể tạo ra hiệu ứng lan truyền tới phần còn lại của nền kinh tế

1.3.2 Lý luận về bảo hộ thương mại

Bảo hộ thương mại là một chính sách kinh tế nhằm mang lại lợi ích cho sản xuất hàng hóa và dịch vụ ở trong nước Trong một quốc gia với các chính sách bảo hộ thì sản xuất trong nước được bảo vệ khỏi sự cạnh tranh của các công ty nước ngoài bởi một loạt các rào cản đối với hàng hoá nhập khẩu Họ cũng có thể được hỗ trợ trực tiếp của Chính phủ thông qua hình thức trợ cấp xuất khẩu

Trong lý thuyết thương mại mới, Krugman lý luận rằng chủ nghĩa bảo hộ có thể có lợi do thị trường không hoàn hảo Chính sách bảo hộ nhằm mục đích thúc đẩy các ngành, lĩnh vực mà nó có thể tạo ra hiệu ứng lan truyền tích cực đến các phần khác của nền kinh tế và trên bình diện quốc tế thì đó lại có thể là chính sách tích cực, nhất là đối với các ngành công nghiệp mới non trẻ thì việc bảo họ sẽ giúp cho các ngành công

Trang 28

nghiệp này tồn tại và có khả năng cạnh tranh hơn trong tương lai Ngoài ra, việc thực hiện các biện pháp bảo hộ sẽ giúp cho quốc gia tăng thêm ngân sách để chi dùng cho các mục tiêu khác Tuy nhiên, Krugman cũng chỉ rõ các ảnh hưởng bất lợi liên quan đến chủ nghĩa bảo hộ, đó là việc khuyến kích phát triển một ngành nào đó nhất thiết phải thu hút nguồn lực từ các ngành khác và nó có thể phá hỏng lĩnh vực đã được ưu tiên Chính sách bảo hộ cũng sẽ ảnh hưởng đến phân phối thu nhập do các chính sách bảo hộ thường bị ảnh hưởng bởi các yếu tố chính trị mà các chính sách như vậy thường chi phối các vấn đề thuộc về phân phối hơn là năng suất Các chính trị gia thường ủng

hộ các chính sách và pháp luật đề cao bảo hộ để làm tăng khả năng trúng cử vì những người được lợi từ chính sách bảo hộ là những nhà sản xuất, họ có tiến nói mạnh hơn so với người tiêu dùng Với các chính sách bảo hộ thương mại như vậy có thể sẽ dẫn đến

hệ lụy nguy hiểm cho nền kinh tế của một quốc gia Trước tiên, nó dẫn đến việc hình thành chính sách “làm nghèo người khác5,6” như Trung Quốc đang áp dụng7 Việc thực hiện chính sách này dẫn đến các cuộc trả đũa lẫn nhau như cuộc chiến vỏ xe, thịt gà và

xe hơi giữa Trung Quốc và Mỹ năm 2009, thậm chí là tạo ra một cuộc chiến tranh thương mại làm thiệt hại cả đôi bên Thứ hai, chính sách đó làm cho việc tái phân phối lợi ích thu được từ sự can thiệp không hiệu quả sẽ dẫn đến thị trường không hoàn hảo

7 Xem: Chính sách tỷ giá của Trung Quốc “biến hàng xóm thành ăn mày” - http://vneconomy.vn/20120312112341264P0C99/chinh-sach-ty-gia-cua-trung-quoc-bien-hang-xom-thanh-an- may.htm

Trang 29

Từ những bất lợi do chính sách bảo hộ thương mại mang lại cho nền kinh tế mà chính sách bảo hộ chỉ được xem như là một chính sách thứ yếu và có lợi ích trong ngắn hạn còn thương mại tự do vẫn được xem như là mục tiêu cuối cùng và cũng là mục tiêu chung của các quốc gia trên thế giới (Krugman, 1987) Đồng thời, lịch sử cũng đã chứng minh rằng thương mại tự do có nhiều lợi ích tích cực hơn so với một nền kinh tế bảo hộ Nó đem lại lợi ích cho người tiêu dùng, cho các ngành công nghiệp, cho toàn

bộ nền kinh tế của một quốc gia cũng như toàn thế giới

1.3.3 Các tiêu chí đánh giá chính sách tự do hay bảo hộ thương mại

Trong thương mại quốc tế nói chung và trong chính sách thương mại của các nước nói riêng, vấn đề tự do hóa thương mại và bảo hộ thương mại luôn luôn đi liền với nhau Nghịch lý này được tất cả các nước chấp nhận như một thực tế khách quan, vì một mặt nước nào cũng muốn tự do hoá thương mại, nhưng mặt khác bất cứ nước nào cũng có nhu cầu phải bảo hộ một số ngành sản xuất trong nước của mình

Thuế xuất nhập, hạn ngạch, trợ cấp xuất khẩu, các rào cản kỹ thuật khác được sử dụng phổ biến trong vài thập niên qua Ngày nay, tự do hóa thương mại thông qua việc giảm hoặc loại bỏ hoàn toàn các rào cản thương mại đã trở lên phổ biến trong chính sách kinh tế của các nước phát triển và đang phát triển Do đó, để đánh giá một quốc gia có tự do thương mại hay không, người ta thường dựa vào hai tiêu chí cơ bản là:

1.3.3.1 Thu ế quan

Thuế quan có các vai trò như một công cụ để điều tiết các hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu; bảo hộ hàng nội địa; tăng thu cho ngân sách nhà nước và là công cụ phân biệt đối xử trong quan hệ thương mại và tạo áp lực để đối tác thương mại phải nhượng

bộ trong đàm phán

Xu thế thương mại tự do luôn đi kèm với khái niệm giảm hoặc xóa bỏ hàng rào thuế quan Khái niệm này có được là do việc xóa bỏ hàng rào thuế quan đồng nghĩa với việc xóa bỏ sự khác biệt về giá cả giữa giá hàng hóa trong nước và nước ngoài nhằm giúp cho chúng có được sự cân bằng ở mức giá cả hàng hóa thế giới

Trang 30

Cắt giảm hay xóa bỏ thuế quan là một biện pháp quan trọng để tạo điều kiện cho dòng luân chuyển hàng hóa giữa các quốc gia được thuận lợi Cắt giảm thuế quan là tiêu chí quan trọng để hình thành và thực hiện thành công các liên minh kinh tế Ví dụ

để xây dựng ASEAN thành khu vực mậu dịch tự do (AFTA) thì công việc chính yếu

mà các nước thành viên phải thực hiện đó là chương trình cắt giảm thuế quan có hiệu lực chung CEPT

Các hàng rào này bao gồm: hạn ngạch, cấp phép, định giá hải quan, quy định về xuất xứ, kiểm tra hàng hóa trước khi xuống tầu, các quy định về kỹ thuật, vệ sinh, nhãn mác, trợ cấp, chống bán phá giá, sở hữu trí tuệ

Các biện pháp phi thuế quan đặc biệt là biện pháp hạn chế định lượng (quota) đang được sử dụng rộng rãi nhưng được coi là có tác dụng bảo hộ mạnh hơn các biện pháp thuế quan và dễ bóp méo thương mại Ngày nay các tổ chức thương mại khu vực cũng như toàn cầu đều yêu cầu các nước thành viên dỡ bỏ hoặc giảm thiểu đến mức thấp nhất việc áp dụng hàng rào phi thuế quan

Như vậy để xác định một quốc gia tự do thương mại là một quốc gia có tỷ lệ thuế quan thấp và không có hoặc ít có các rào cản phi thuế quan

Ngoài các tiêu chí về thuế quan và hàng rào phi thuế quan nêu trên, người ta còn có thể đánh giá tự do thương mại thông qua chỉ tiêu định lượng:

Theo tiêu chí này thì “ một nước có độ mở rất thấp khi tỷ lệ này ở mức dưới 5%

Từ 5% đến 10% là quốc gia có độ mở thấp Từ 11% đến 15% là nước có độ mở trung bình Từ 16% đến 20% là quốc gia có độ mở khá cao và trên 20% là quốc gia có độ mở rất cao” (Bình, 2010; trang 26)

1.3.3.4 Ch ỉ số hỗn hợp là mở cửa thương mại 8 và ch ế độ chính sách thương mại 9

8 Chỉ số độ mở thương mại bao gồm tỷ trọng kim ngạch xuất nhập khẩu so với GDP, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa dịch vụ trên đầu người và tốc độ tăng trưởng thực tế kim ngạch nhập khẩu hàng hóa

Trang 31

Phòng thương mại quốc tế (ICC) đưa ra mức độ tự do thương mại từ 1 đến 6 Theo tiêu chí này thì một quốc gia được coi là mở của hoàn toàn về thương mại khi chỉ số này nằm trong khoảng từ 5 đến 6 Quốc gia có độ mở trên trung bình khi chỉ số này nằm ở mức từ 4 đến 4,99 Quốc gia có độ mở trung bình khi chỉ số này nằm ở mức từ 3 đến 3,99 Quốc gia có độ mở dưới trung bình khi chỉ số này nằm ở mức từ 2 đến 2,99

và Quốc gia có độ mở kém khi chỉ số này nằm ở mức từ 1 đến 1,99 (ICC, 2011; trang 16)

1.3.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động thương mại quốc tế

Bản chất của tăng trưởng thương mại quốc tế chính là sự gia tăng của kim ngạch xuất, nhập khẩu, hay chính là sự gia tăng của khối lượng và trị giá hàng xuất, nhập khẩu Do đó các yếu tố ảnh hưởng tới kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa cũng chính

là những yếu tố ảnh hưởng tới tăng trưởng thương mại quốc tế Các yếu tố ảnh hưởng tới tăng trưởng (kim ngạch) xuất, nhập khẩu hàng hóa có thể được phân thành hai nhóm: nhóm các nhân tố nội địa và nhóm các nhân tố nước ngoài

1.3.4.1 Nhóm các y ếu tố nội địa

- Chính sách của Nhà nước liên quan đến hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu: Đây là nhân tố có ảnh hưởng rất lớn đến tăng trưởng xuất nhập khẩu Với các chính sách khuyến khích xuất khẩu, mở rộng quyền kinh doanh xuất khẩu (ví dụ như quyết định số 46/2001/QĐ-TTg ngày 04/4/2001 của Thủ tướng Chính phủ về quản lý xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa thời kỳ 2001-2005 và Thông tư số 11/2001/TT-BTM ngày 18/4/2004 của Bộ Thương mại hướng dẫn về quản lý xuất nhập khẩu hàng hóa…) đã góp phần đa dạng hóa chủ thể xuất khẩu, khơi dậy tiềm năng xuất khẩu của tất cả các thành phần kinh tế, kể cả đối với các nhà đầu tư nước ngoài (được quy định trong pháp lệnh 41/2002/PL-UBTVQH10 ngày 25/5/2002 về quy chế tối huệ quốc (MFN) và đãi ngộ quốc gia (NT)), hay các biện pháp tháo dỡ hạn ngạch, các chính sách và biện pháp

9 Chỉ số chế độ thương mại được tính toán bằng mức thuế trung bình áp dụng, mức độ phức tạp của thuế quan, số

vụ chống phá giá và năng lực quá trình nhập khẩu

Trang 32

khuyến khích xuất khẩu, hỗ trợ xúc tiến thương mại, thưởng xuất khẩu, cơ chế theo dõi, ứng phó với những rào cản thương mại mới của nước ngoài đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam, cơ chế quản lý ngoại hối và chính sách tỷ giá v.v , gần đây là sự điều chỉnh và thực hiện các chính sách và biện pháp thương mại, nhất là thương mại quốc tế phù hợp, thích ứng với các cam kết song phương, đa phương và cam kết trong khuôn khổ WTO theo hướng tự do hoá thương mại, cũng tác động rất lớn đến hoạt động xuất nhập khẩu cũng như tới tăng trưởng xuất khẩu hàng hóa

- Tỷ giá hối đoái: Tỷ giá hối đoái có ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá Khi tỷ giá hối đoái tăng sẽ khuyến khích xuất khẩu, thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu Tuy nhiên, khi tỷ giá tăng sẽ có tác dụng hạn chế nhập khẩu do các doanh nghiệp nhập khẩu phải thanh toán bằng ngoại tệ bị thiệt hại vì họ phải thanh toán giá trị hàng nhập khẩu với giá đắt hơn Trong trường nhập khẩu nguyên liệu phục vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu sẽ đắt hơn (do tỷ giá tăng), làm tăng chi phí đầu vào cho sản xuất hàng xuất khẩu, làm tăng giá thành hàng hoá xuất khẩu, điều này có thể ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của hàng xuất khẩu Ngược lại, khi tỷ giá giảm sẽ thúc đẩy nhập khẩu và hạn chế xuất khẩu Tuy nhiên, khi nguyên liệu phục vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu được nhập với giá rẻ hơn (nhờ tỷ giá giảm) sẽ làm cho chi phí đầu vào của sản xuất hàng xuất khẩu giảm kéo theo giá thành hàng xuất khẩu giảm và như vậy

sẽ làm tăng khả năng cạnh tranh của hàng xuất khẩu Như vậy, tỷ giá tăng hay giảm đều có ảnh hưởng tới hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá

- Lạm phát: Lạm phát cũng có ảnh hưởng tới hoạt động xuất nhập khẩu do lạm phát ảnh hưởng trực tiếp tới tỷ giá và ảnh hưởng tới chi phí sản xuất nói chung và hàng xuất khẩu nói riêng Lạm phát tăng làm cho giá trị đồng nội tệ giảm tương đối so với đồng ngoại tệ, làm cho hàng hóa xuất khẩu của một quốc gia (như VND) sẽ rẻ hơn khi tính bằng đồng ngoại tệ (chẳng hạn USD), đây là động lực khuyến khích xuất khẩu hàng hóa Nhưng đồng thời, lạm phát cũng làm cho giá cả của các mặt hàng gia tăng, trong đó bao gồm cả giá cả các nguyên liệu phục vụ sản xuất trong nước và xuất khẩu

Trang 33

Như vậy, chi phí của sản xuất trong nước và sản xuất hàng xuất khẩu tăng, giá thành sản phẩm tăng sẽ kéo theo khả năng cạnh tranh của hàng hoá giảm, làm hạn chế xuất khẩu Do đó, lạm phát vừa có tác dụng thúc đẩy xuất khẩu vừa hạn chế xuất khẩu

- Sản xuất công nghiệp: Với vai trò sản xuất các loại sản phẩm công nghiệp để phục vụ nhu cầu sản xuất, tiêu dùng trong nước nhưng đồng thời nó còn cung cấp hàng hóa phục vụ cho xuất khẩu hàng hóa Đây được xem như ngành đảm bảo nguồn cung ứng đầu vào cho xuất khẩu hàng hóa, vì vậy nó có ảnh hưởng trực tiếp tới tăng trưởng xuất khẩu Ở Việt Nam, các sản phẩm của ngành sản xuất công nghiệp được xuất khẩu chủ yếu như: than đá, dầu thô, thép xây dựng, phôi thép, các sản phẩm giầy da, dệt may v.v…Tăng trưởng của sản xuất công nghiệp ngoài việc phản ánh sự phát triển sản xuất của ngành nó còn phản ánh sự thay đổi các sản phẩm của ngành theo hướng tích cực: các sản phẩm làm ra ngày càng nhiều, giá trị sản phẩm cao, chất lượng sản phẩm ngày càng được cải thiện sẽ giúp cho nguồn hàng cung ứng cho hoạt động xuất khẩu ngày càng nhiều, chất lượng và giá trị hàng xuất khẩu ngày càng được cải thiện, mẫu mã đa dạng, chủng loại phong phú góp phần nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu

và như vậy nó sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới kim ngạch và hiệu quả xuất khẩu

- Sản xuất nông nghiệp: Nông nghiệp cũng là một trong những ngành cung cấp sản phẩm đầu vào cho hoạt động xuất khẩu vì khi sản xuất nông nghiệp tăng trưởng sẽ làm thay đổi tích cực về mặt lượng cũng như về mặt chất đối với các sản phẩm của sản xuất nông nghiệp Do vậy, nguồn hàng nông sản cung ứng cho xuất khẩu cũng có sự thay đổi tích cực cả về số lượng lẫn giá trị sản phẩm, qua đó sẽ góp phần nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu Điều này làm tăng kim ngạch xuất khẩu hàng nông sản và góp phần làm tăng trưởng xuất khẩu

- Ngành dịch vụ: Cùng với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực ngày càng diễn ra sâu sắc, các sản phẩm dịch vụ ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với hoạt động xuất khẩu hàng hóa, đặc biệt là dịch vụ kho vận ngoại thương (logistics)

Trang 34

Hiện nay đối với các nước phát triển, tỷ trọng của dịch vụ chiếm tới 60-70% GDP, còn đối với các nước đang phát triển, tỷ lệ này trong khoảng từ 30-40%

- Kết cấu hạ tầng và dịch vụ hỗ trợ xuất khẩu: Kết cấu hạ tầng liên quan đến sản xuất, xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ hỗ trợ xuất khẩu hàng hóa Kết cấu hạ tầng bao gồm cơ sở vật chất kỹ thuật, công nghệ, kỹ thuật như hệ thống đường xá, bến bãi, cầu, cảng, điện, viễn thông, các phương tiện vận tải và các dịch vụ hỗ trợ xuất khẩu như dịch vụ kho vận ngoại thương, thương mại điện tử và vai trò của tham tán thương mại

ở nước ngoài Các yếu tố này có ảnh hưởng trực tiếp tới giá cả và khả năng cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu

- Năng lực sản xuất và kinh doanh xuất nhập khẩu của doanh nghiệp trong nước: Quy mô doanh nghiệp càng lớn, vốn càng nhiều thì doanh nghiệp càng có cơ hội đầu tư các trang thiết bị hiện đại phục vụ cho sản xuất, nâng cao hiệu quả sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh của hàng xuất khẩu Mặt khác, doanh nghiệp với quy mô lớn có thể sản xuất và đáp ứng những đơn đặt hàng lớn, đáp ứng được nhu cầu của nhà nhập khẩu Ngoài ra, năng lực sản xuất và kinh doanh xuất nhập khẩu của doanh nghiệp còn phụ thuộc vào kỹ năng, trình độ quản lý, kinh nghiệm sản xuất, kinh doanh xuất nhập khẩu cũng như khả năng thâm nhập và chiếm lĩnh thị trường nước ngoài

- Kinh tế và thương mại toàn cầu: Đây chính là ảnh hưởng của môi trường quốc

tế đối với hoạt động xuất khẩu hàng hóa Tăng trưởng thương mại toàn cầu có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động xuất khẩu của một quốc gia, bởi lẽ các hoạt động kinh doanh ngoại thương liên quan chặt chẽ đến môi trường quốc tế Nhìn chung, kinh tế và thương mại toàn cầu có mức tăng trưởng cao là nhân tố kích thích nhu cầu đối với hàng nhập khẩu, do đó làm tăng kim ngạch xuất khẩu đối với các nhà cung cấp Ngược lại, kinh tế và thương mại toàn cầu sụt giảm, nhu cầu nhập khẩu sẽ giảm sút sẽ kéo theo kim ngạch xuất khẩu giảm (hạn chế xuất khẩu)

Trang 35

- Giá quốc tế hàng xuất khẩu: Khi giá quốc tế của hàng xuất khẩu tăng, doanh thu của các nhà xuất khẩu tăng theo sẽ kích thích các hoạt động xuất khẩu Ngược lại, khi giá quốc tế của hàng xuất khẩu giảm, doanh thu của nhà xuất khẩu giảm, trong trường hợp này các doanh nghiệp xuất khẩu có thể hạn chế xuất khẩu làm giảm kim ngạch xuất khẩu

- Thị trường xuất khẩu: Quy mô của thị trường xuất khẩu sẽ ảnh hưởng tới kim ngạch xuất khẩu thông qua việc tăng hay giảm khối lượng hàng xuất khẩu Khi các quốc gia tiếp cận được các thị trường mới, mở rộng được thị trường xuất khẩu sẽ tạo ra

cơ hội tăng kim ngạch xuất khẩu do có thể xuất với khối lượng hàng hóa lớn hơn Ngược lại, khi thị trường xuất khẩu không những không được mở rộng mà còn ngày càng bị thu hẹp dần sẽ làm khối lượng hàng hoá xuất khẩu bị sụt giảm, làm giảm kim ngạch xuất khẩu Như vậy, quy mô thị trường xuất khẩu lớn và ngày càng được mở rộng sẽ góp phần thúc đẩy tăng trưởng xuất nhập khẩu, ngược lại, quy mô thị trường nhỏ hoặc bị thu hẹp sẽ ảnh hưởng xấu tới tăng trưởng thương mại quốc tế

1.4 Lý thuyết tăng trưởng kinh tế

Khái niệm tăng trưởng kinh tế được các nhà kinh tế hiểu khá thống nhất đó là sự gia tăng sản lượng thực tế của một quốc gia trong một thời gian nhất định (thường là một năm), cũng với ý nghĩa tương tự Simon Kuznet (1966) nói rằng: “Tăng trưởng kinh tế

là sự gia tăng bền vững về sản phẩm tính theo đầu người hoặc theo từng công nhân”, hay như Douglass C.North và Robert Paul Thomas (1973) cho rằng: “Tăng trưởng kinh

tế xảy ra nếu sản lượng tăng nhanh hơn dân số” Theo cách định nghĩa như trên thì tăng trưởng được hiểu là một quá trình làm thay đổi sản lượng thực tế trong nền kinh tế theo hướng ngày một cao hơn và như vậy tăng trưởng kinh tế là mục tiêu kinh tế của mọi quốc gia trên thế giới

Lý thuyết tăng trưởng kinh tế của Adam Smith cho rằng nguồn gốc tăng trưởng kinh tế của một quốc gia bao gồm việc tích lũy vốn, tiến bộ công nghệ, các yếu tố xã hội và thể chế Ông cho rằng muốn có tăng trưởng thì phải tăng đầu tư thông qua cắt

Trang 36

giảm tiêu dùng Khi giải thích cơ chế tạo ra tăng trưởng A Smith ủng hộ tự do cạnh tranh và giảm thiểu sự can thiệp của chính phủ vào nền kinh tế Việc bãi bỏ sự điều tiết của chính phủ sẽ làm tăng thu nhập của tầng lớp chủ tư bản, tăng tỷ lệ tiết kiệm xã hội

và góp phầm mở rông thị trường

Lý thuyết tăng trưởng của David Ricardo cho rằng tích lũy tư bản trong các ngành công nghiệp hiện đại chính là động lực dẫn đến tăng trưởng kinh tế Theo Ricardo, tư bản được chia làm hai phần đó là quỹ tiền lương trả cho người lao động và phần còn lại

là mua máy móc, nguyên liệu phục vụ sản xuất Tuy nhiên Ricardo cũng phát hiện ra giới hạn nguồn lực đối với tăng trưởng kinh tế là nguồn tài nguyên thiên nhiên

Mô hình tăng trưởng Harrod-Domar đã lượng hóa mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng với tỷ lệ tiết kiệm của nền kinh tế Mô hình Harrod-Domar cho rằng tốc độ tăng trưởng GDP được xác định đồng thời bởi tỷ lệ tiết kiệm và hệ số gia tăng giữa vốn và sản lượng (gọi hà hệ số ICOR10) Logic kinh tế của mô hình Harrod-Domar là các nền kinh tế phải tiết kiệm và đầu tư một phần thu nhập của mình để tạo ra tăng trưởng Tiết kiệm và đầu tư càng nhiều thì tăng trưởng kinh tế càng nhanh

Nếu như mô hình Harrod-Domar chỉ xét đến vai trò của vốn đối với tăng trưởng thì

mô hình Solow đã đưa thêm nhân tố lao động và tiến bộ công nghệ vào phương trình tăng trưởng Mô hình Solow đã giải thích được tiết kiệm, sự gia tăng dân số và tiến bộ công nghệ ảnh hưởng đến sản lượng quốc gia và tăng trưởng kinh tế theo thời gian Solow đã xây dựng được mô hình tăng trưởng tương đối hoàn chỉnh về tăng trưởng kinh tế và nó đã trở thành xuất phát điểm cho nhiều nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế sau này

Mô hình tăng trưởng nội sinh đưa ra quan điểm cho rằng lực lượng thúc đẩy tăng trưởng là sự tích lũy kiến thức (ý tưởng mới) của Romer (1990) và vốn con người của

Lucas (1988), Mankiw và cộng sự (1992) Cơ chế chủ yếu tạo ra kiến thức trong mô hình nội sinh đó là kiến thức được tạo ra từ hoạt động kinh tế và hoạt động sản xuất,

10 Hệ số này nói lên trình độ kỹ thuật của sản xuất và là số đo năng lực sản xuất của đầu tư

Trang 37

còn vốn con người bao gồm các khả năng, kỹ năng, kiến thức.v.v…có được của mỗi cá nhân người lao động

1.5 Mối quan hệ giữa tự do thương mại và Tăng trưởng kinh tế

Mối liên kết giữa tự do thương mại và hoạt động kinh tế là một trong những chủ đề xuất hiện đầu tiên trong các nghiên cứu thuộc lĩnh vực thương mại quốc tế và phát triển Đồng thời, mối liên hệ này cũng đã trở thành trọng tâm trong nghiên cứu kinh tế gần đây, đặc biệt cho các nước đang phát triển

Lý thuyết thương mại tân cổ điển dựa trên nguyên tắc lợi thế so sánh Nguyên tắc này mặc nhiên coi việc mở rộng thương mại đem lại lợi ích cho tất cả các bên tham gia thương mại Hàm ý của lý thuyết thương mại tân cổ điển là toàn bộ nền kinh tế sẽ đạt được tăng trưởng tối đa khi quốc gia hủy bỏ các rào cản thương mại đối với các đối tác thương mại Lý thuyết thương mại thừa nhận rằng tự do thương mại ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế thông qua ba kênh chính:

Trước tiên là lợi ích từ việc trao đổi Khi các rào cản thương mại được giảm đi và chi phí của hàng hoá nhập khẩu giảm xuống làm cho giá cả hàng nhập khẩu sẽ trở lên

rẻ hơn và khi đó người tiêu dùng có cơ hội sử dụng hàng nhập khẩu với giá rẻ Ngoài

ra, nhà sản xuất (và cuối cùng là người tiêu dùng) cũng được hưởng lợi vì khi đó họ có thể nhập khẩu nguyên liệu và sản phẩm trung gian với giá thấp hơn do đó họ có thể giảm được giá thành sản phẩm

Thứ hai, việc giảm các rào cản thương mại khuyến khích các doanh nghiệp từ bỏ các nguồn lực trực tiếp từ khu vực được bảo hộ trước đây và hướng tới khu vực có giá trị gia tăng lớn nhất (ở cả hai thị trường trong nước và quốc tế) Điều này dẫn đến những lợi ích từ chuyên môn hoá vì các lĩnh vực và ngành công nghiệp có lợi thế so sánh trong sản xuất nâng cao sản lượng của mình

Cuối cùng, có những lợi ích từ kinh tế theo quy mô Hạ thấp các rào cản thương mại ủng hộ cạnh tranh hiệu quả đối với doanh nghiệp Các công ty không hiệu quả sẽ

bị buộc rời khỏi ngành trước, cho phép các công ty còn lại tăng sản lượng và đạt được

Trang 38

tổng chi phí trung bình thấp hơn, do vậy cho phép sử dụng hiệu quả nguồn lực và nâng cao sản lượng

Các nghiên cứu về tăng trưởng nội sinh cũng nhận ra một số con đường mà thông qua nó tự do thương mại có thể ảnh hưởng đến tăng trưởng Edwards (1998) cho rằng

có hai nguồn gốc của tăng năng suất trong nền kinh tế mở đó là nguồn lực trong nước kết hợp với sự đổi mới và nguồn thứ hai là thông qua hoạt động thương mại sẽ hấp thu công nghệ từ các quốc gia khác có trình độ phát triển công nghệ ở mức cao

Tự do thương mại được coi là một yếu tố quyết định quan trọng cho tăng trưởng kinh tế, vấn đề này cũng đã gây ra nhiều tranh luận trong các nghiên cứu phát triển Ban đầu, các nước đang phát triển trên thế giới theo chính sách hạn chế thương mại nhưng với thời gian trôi qua và sự xuất hiện của toàn cầu hóa, tất cả các quốc gia nhận

ra sự cần thiết phải tự do hóa nền kinh tế của mình mà điểm bắt đầu chính là từ tự do thương mại Trao đổi thương mại là yếu tố quyết định chủ yếu đối với tiến bộ của các nước công nghiệp hoá

Krueger (1978) và Bhagwati (1978) kết luận rằng tự do thương mại sẽ kích thích chuyên môn hoá các ngành công nghiệp tạo ra lợi thế kinh tế theo quy mô từ đó dẫn đến cải thiện được năng lực và khả năng sản xuất trong dài hạn

Grossman and Helpman (1990), Rivera-Batiz and Romer (1991), Barro and Martin (1997) lập luận rằng trong dài hạn tự do thương mại có thể đóng góp vào tăng trưởng kinh tế bằng cách khuyếch tán kiến thức kỹ thuật thông qua nhập khẩu các hạng mục công nghệ cao và từ hiệu ứng lan tỏa của đầu tư trực tiếp nước ngoài, tăng quy mô thị trường đạt được từ tự do thương mại bằng việc tăng quy mô theo lợi nhuận và lợi ích kinh tế theo quy mô (Bond et al., 2005)

Sala-i-Sachs and Warner (1995) và Rajan and Zingales (2003) chỉ ra rằng tự do thương mại thúc đẩy các chính phủ phát động các chương trình cải cách để đối mặt với cạnh tranh trên thị trường quốc tế

Trang 39

Ngược lại, Redding (1999)ghi nhận rằng tự do thương mại cản trở tăng trưởng kinh

tế thông qua bất lợi so sánh trong tăng trưởng năng suất ở các lĩnh vực chuyên đã được môn hoá của nền kinh tế Trong bối cảnh như vậy, lựa chọn chính sách bảo hộ có thể kích thích tiến bộ công nghệ và tăng trưởng kinh tế (Lucas,1988và Young, 1991) Adenikinju và Olofin (2000) cho rằng sự phát triển của ngành công nghiệp có thể được quyết định bởi thương mại tự do và các chính sách thương mại Mối liên hệ tích cực giữa tăng trưởng của khu vực công nghiệp và các chính sách thương mại có thể được giải thích bằng một số nguyên nhân, đó là hiệu quả theo quy mô được tăng lên thông qua việc mở rộng quy mô của ngành công nghiệp trong nước và hơn nữa là tự do thương mại tạo ra cạnh tranh cao trên thị trường thế giới sẽ thúc đẩy hơn nữa các công

ty trong một quốc gia theo đuổi và áp dụng công nghệ hiện đại từ đó giúp tăng cường hiệu quả sản xuất kinh doanh Ngoài ra, một chế độ thương mại tự do sẽ làm bớt đi sự kìm chế đối với việc tăng tỷ giá hối đoái như đã xảy ra ở các quốc gia phát triển Cuối cùng thương mại tự do tạo cho các tiến bộ công nghệ có thể được phát triển ở trình độ cao (Lucas, 1988; Grossman và Helpman, 1989& 1991; Romer, 1990)

Tuy nhiên, theo Winter (2004) thì việc việc cải cách trong lĩnh vực thương mại còn mang lại một số lợi ích tiềm năng khác, đó là:

i) cơ hội tiếp cận hàng hóa trung gian và sản phẩm cơ bản có công nghệ tốt hơn, ii) kích thích nâng cao năng lực sản xuất, phân bổ các nguồn nguồn lực tốt hơn, iii) cơ hội của nhà sản xuất và người tiêu dùng trong nước có thể sử dụng hàng hoá

rẻ hơn và chất lượng cao hơn từ nước ngoài Thông qua quá trình vận động động phát triển, một quốc gia ban đầu sản xuất các mặt hàng sơ cấp và sau đó tiến tới sản xuất hàng hoá thứ cấp và cuối cùng là mở rộng khu vực III, tức là lĩnh vực dịch vụ (phân phối) cho đến khi tất cả các lĩnh vực này của nền kinh tế được kết hợp lại với nhau bởi

vì sự phát triển trước tiên là đòi hỏi sự kết hợp của các thành phần khác nhau của nền kinh tế trong nước

Trang 40

Mặc dù, có thể kết luận được rằng cả trao đổi thương mại; giá trị gia tăng công nghiệp và tự do thương mại có thể là những yếu tố quan trọng để nâng cao hiệu quả kinh tế, nhưng đối với các nước đang phát triển nói chung không ủng hộ chính sách tự

do thương mại vì họ cho rằng cần phải duy trì chính sách bảo hộ để nhằm bảo vệ các ngành công nghiệp non trẻ ở trong nước để các ngành công nghiệp này có thể đuổi kịp

và cạnh tranh được trong tương lai Mặt khác do những thất bại thị trường ở các nước phát triển nên cần phải có sự can thiệp của Nhà nước để làm ổn định thị trường trong nước do vậy có ít cơ sở để tiến hành tự do thương mại Do vậy, mối quan hệ giữa tự do hóa thương mại và tăng trưởng kinh tế trở thành một vấn đề nghiên cứu mang tính thực nghiệm cao

1.6 Mô hình nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa tự do thương mại và tăng trưởng kinh tế

Muhammad (2012) dựa theo hàm sản xuất Cobb-Douglass do Mankiw và cộng sự (1992) đưa ra mô hình phân tích ảnh hưởng dài hạn của tự do thương mại đến tăng trưởng kinh tế của Pakistan có dạng:

݈݊ܩ௧ = ߮ଵ+ ߮ଶ݈݊ܶ௧ + ߮ଷ݈݊ܨ௧ + ߮ସ݈݊ܭ௧ + ߮ହ݈݊ܮ௧ + ݑ௧ (1.3)

Trong đó:

G: Thu nhập bình quân đầu người thực

T: Tự do thương mại

F: Tỷ lệ tín dụng nội địa bình quân đầu người thực của khu vực tư nhân

K: Tổng lượng vốn bình quân đầu người thực

L: Lao động có tay nghề

Bajwa và Siddiqi (2011) dựa theo hàm sản xuất tân cổ điển đưa ra mô hình phân tích ảnh hưởng của tự do thương mại lên tăng trưởng kinh tế trong một số quốc gia được lựa chọn ở Nam Á là Bangladesh, Ấn Độ, Pakistan, Srilanka có dạng:

݈ܻ݊௜,௧ = ߙ଴,௜+ ߚଵ,௜݈ܱ݊ܲ௜,௧ + ߚଶ,௜݈݊ܭ௜,௧ + ߚଷ,௜݈݊ܮ௜,௧+ ߝ௜,௧ (1.4)

Trong đó:

Ngày đăng: 26/02/2023, 06:35

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm