1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Hoàn thiện quản lý ngân quỹ tại tổng công ty cổ phần bảo hiểm petrolimex (pjico

117 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoàn thiện Quản lý Ngân quỹ tại Tổng công ty cổ phần Bảo hiểm Petrolimex (PJICO)
Tác giả Nguyễn Thị Huyền
Người hướng dẫn PGS.TS. Đàm Văn Huệ
Trường học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Kinh Tế Tài Chính - Ngân Hàng
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2014
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 318,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ NGÂN QUỸ TRONG DOANH NGHIỆP (9)
    • 1.1 Tổng quan về công tác quản lý ngân quỹ trong hoạt động tài chính doanh nghiệp (25)
      • 1.1.1 Vai trò quản lý ngân quỹ trong hoạt động tài chính doanh nghiệp (25)
    • 1.2. Nội dung của công tác quản lý ngân quỹ (32)
      • 1.2.1. Xác định dòng tiền vào ra (32)
      • 1.2.2. Xác định mức ngân quỹ tối ưu (36)
      • 1.2.3. Cân đối ngân quỹ (41)
      • 1.2.4. Lập kế hoạch quản lý ngân quỹ (45)
    • 1.3 Hoàn thiện quản lý ngân quỹ (47)
      • 1.3.1 Nội dung của hoàn thiện quản lý ngân quỹ (47)
      • 1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá hoạt động ngân quỹ (48)
    • 1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý ngân quỹ (53)
      • 1.4.1 Các nhân tố thuộc về doanh nghiệp (53)
      • 1.4.2. Các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp (57)
  • CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NGÂN QUỸ TẠI TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM PETROLIMEX (11)
    • 2.1. Đặc điểm Tổng công ty Cổ phần Bảo hiểm Petrolimex (PJICO) (61)
      • 2.1.1. Tổng quan về công ty (61)
      • 2.1.2. Đặc điểm sản xuất kinh doanh (67)
    • 2.2. Thực trạng công tác quản lý ngân quỹ tại Tổng công ty Cổ phần Bảo hiểm Petrolimex (69)
      • 2.2.1. Đặc điểm hoạt động ngân quỹ (69)
      • 2.2.2. Xác định dòng tiền vào ra (70)
      • 2.2.3 Xác định mức ngân quỹ tối ưu (79)
      • 2.2.4 Cân đối ngân quỹ (80)
      • 2.3.2. Những hạn chế (85)
      • 2.3.3. Nguyên nhân dẫn đến những hạn chế trong quản lý ngân quỹ (88)
  • CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NGÂN QUỸ TẠI TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM PETROLIMEX (91)
    • 3.1. Định hướng phát triển của công ty (91)
      • 3.1.1. Phương hướng phát triển chung (91)
      • 3.1.2. Kế hoạch hoạt động giai đoạn tiếp theo (92)
    • 3.2. Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý ngân quỹ tại Công ty (93)
      • 3.2.1. Xây dựng mô hình dự báo dòng tiền (93)
      • 3.2.2. Áp dụng mô hình quản lý ngân quỹ thích hợp (96)
      • 3.2.3. Hoàn thiện và nâng cao khả năng dự báo rủi ro (104)
      • 3.2.4. Hoàn thiện quy chế về quản lý ngân qũy trong cơ chế quản lý tài chính của công ty (104)
      • 3.2.5. Tăng cường xây dựng bộ máy nhân sự phục vụ công tác quản lý ngân quỹ (104)
      • 3.2.6. Tăng cường nguồn thông tin cung cấp cho công tác quản lý ngân quỹ và nâng cao trình độ kỹ thuật công nghệ (105)
    • 3.3 Kiến nghị (106)
      • 3.3.1 Hoàn thiện các chỉ số của ngành để so sánh (106)
      • 3.3.2 Xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả quản lý ngân quỹ (106)
  • PHỤ LỤC (0)

Nội dung

tr­êng §¹i häc Kinh tÕ Quèc d©n NGUYỄN THỊ HUYỀN HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NGÂN QUỸ TẠI TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM PETROLIMEX (PJICO) Chuyªn ngµnh KINH TÕ TµI CHÝNH NG¢N HµNG Ng­êi h­íng dÉn khoa häc PGS[.]

LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ NGÂN QUỸ TRONG DOANH NGHIỆP

Tổng quan về công tác quản lý ngân quỹ trong hoạt động tài chính doanh nghiệp

1.1.1 Vai trò quản lý ngân quỹ trong hoạt động tài chính doanh nghiệp

Ngân quỹ là khái niệm dùng để chỉ tiền (bao gồm tiền mặt trong két tại doanh nghiệp và tiền gửi ngân hàng) và các khoản tương đương tiền như chứng khoán dễ bán Các loại chứng khoán giữ vai trò như một “bước đệm” cho tiền mặt, vì nếu số dư tiền mặt nhiều doanh nghiệp có thể đầu tư vào chứng khoán có khả năng thanh khoản cao, nhưng khi cần thiết cũng có thể chuyển đổi chúng sang tiền mặt một cách dễ dàng và ít tốn kém chi phí. Những khoản phải thu có khả năng thu hồi được tiền ngay khi cần cũng được coi là một phần của ngân quỹ.

Ngân quỹ cũng được hiểu là khoản chênh lệch giữa phần thực thu và thực chi tại một thời điểm nhất định của doanh nghiệp.

Ngân quỹ tác động tới cả đầu vào và đầu ra của hoạt động sản xuất kinh doanh Đây là công cụ giúp doanh nghiệp thực hiện việc thanh toán các khoản chi, trao đổi hàng hóa…nhằm mục tiêu sinh lợi Doanh nghiệp luôn để một mức dự trữ tiền dương là nhằm làm phương tiện giao dịch giúp doanh nghiệp mua sắm hàng hóa, nguyên vật liệu và thanh toán các khoản chi cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong hiện tại cũng như những khoản chi bất thường hay những nhu cầu về tiền đột xuất trong tương lai Tiền giúp doanh nghiệp thực hiện được điều đó vì tiền có các chức năng chủ yếu: tiền là phương tiện lưu thông, phương tiện thanh toán, phương tiện đo lường giá trị, phương tiện dự trữ về mặt giá trị.

1.1.1.2 Vai trò công tác quản lý ngân quỹ trong hoạt động tài chính doanh nghiệp

Chu trình tài chính của doanh nghiệp có 3 chu kỳ: Chu kỳ tạo vốn, chu kỳ sử dụng vốn, chu kỳ phân chia thu nhập Đối với một doanh nghiệp đang hoạt động thì ba chu kỳ này đan xen nhau, có lúc kế tiếp, có lúc song hành và cũng có lúc gián đoạn Điều này tương ứng với tính chất đan xen trong việc hình thành nhu cầu cũng như khả năng tài trợ của doanh nghiệp trong suốt một thời kỳ nhất định Trong giai đoạn ngắn hạn, việc đảm bảo cân bằng giữa khả năng và nhu cầu tài trợ thường xuyên được xem là mục tiêu chính của quản lý tài chính Việc đảm bảo cân bằng tài chính ngắn hạn sẽ giúp cho doanh nghiệp hoạt động ổn định, có hiệu quả, cơ sở của sự tăng trưởng đều đặn và liên tục theo định hướng chiến lược Vì vậy, ngân quỹ đóng vai trò rất quan trọng trong hoạt động của doanh nghiệp, với mục tiêu kiểm soát quá trình hoạt động của doanh nghiệp theo thời gian.

Các doanh nghiệp dự trữ tiền mặt vì 3 động lực: động lực giao dịch, động lực dự phòng, động lực đầu cơ. Động lực dự trữ tiền để giao dịch là doanh nghiệp dự trữ tiền để có thể mua sắm hàng hóa, nguyên vật liệu và thanh toán các chi phí cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Tùy vào đặc điểm hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mà doanh nghiệp có thể cần nhiều tiền hay ít Đối với các doanh nghiệp bảo hiểm, dự trữ tiền là vô cùng quan trọng, đặc biệt trong thời điểm khi ý thức của con người về rủi ro ngày càng tăng dẫn đến nhu cầu bảo hiểm tăng lên, dự trữ tiền cho những giai đoạn quá trình bồi thường và đầu tư là vô cùng quan trọng đối với doanh nghiệp bảo hiểm

Ngoài ra, khi ngân quỹ thặng dư, tiền sẽ giúp doanh nghiệp có khả năng thanh toán nhanh cho nhà cung ứng, điều này có thể là thuận lợi cho doanh nghiệp vì uy tín doanh nghiệp được nâng cao và doanh nghiệp có thể hưởng lợi thế chiết khấu Đồng thời làm tăng khả năng tín nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm

Doanh nghiệp giữ tiền nhằm phòng ngừa khả năng thu chi tiền trong tương lai biến động không thuận lợi như sự thay đổi các chính sách của Nhà nước, đình công, hỏa hoạn, khó khăn do yếu tố thời vụ và chu kỳ kinh doanh. Điều đó cũng có nghĩa là nếu khả năng dự báo thu chi bằng tiền trong tương lai của doanh nghiệp kém thì nhu cầu tiền dự phòng là cao và ngược lại, nếu doanh nghiệp nắm rõ được dòng tiền vào ra trong thời gian tới thì nhu cầu tiền dự phòng sẽ thấp… Doanh nghiệp sẽ không thể duy trì hoạt động bình thường để tồn tại và cạnh tranh trên thị trường nếu không có một mức tồn quỹ rộng rãi đủ để bù đắp sự mất mát về tài sản, máy móc, nguyên vật liệu…

Ngoài ra, doanh nghiệp giữ tiền vì động lực đầu cơ nhằm chuẩn bị sẵn sàng để tận dụng ngay các cơ hội tốt trong kinh doanh, đầu tư khi phát sinh những cơ hội đem lại lợi nhuận, thường là đầu tư vào các chứng khoán dễ bán Việc đầu tư vào chứng khoán dễ bán còn nhằm mục đích dự phòng mà không phải giữ tiền mặt.

Như vậy, ngân quỹ đóng vai trò rất quan trọng trong hoạt động của một doanh nghiệp, đặc biệt doanh nghiệp bảo hiểm, khi mà nhu cầu bảo hiểm ngày càng tăng trong giai đoạn hiện nay, là phương tiện giúp doanh nghiệp duy trì được hoạt động sản xuất kinh doanh và đảm bảo khả năng thanh toán.Doanh nghiệp sẽ phải làm thế nào để ổn định mức cân đối ngân quỹ, tránh những trường hợp biến động bất thường xảy ra Điều này đòi hỏi phải quản lý tốt ngân quỹ.

Mục tiêu của quản lý tài chính là cực đại hóa giá trị của doanh nghiệp. Một cách cụ thể, quản lý tài chính là việc thiết lập và thực hiện thủ tục phân tích, đánh giá và hoạch định tài chính, giúp cho nhà quản lý đưa ra các quyết định đúng đắn cũng như kiểm soát hữu hiệu quá trình thực hiện các quyết định về mặt tài chính với các nguyên tắc:

- Không bao giờ để thiếu tiền đảm bảo khả năng thanh toán

- Đưa ra các quyết định đầu tư đúng, đạt hiệu quả cao

- Đưa ra các quyết định tài trợ hợp lý với chi phí vốn thấp

Ngân quỹ là một bộ phận của vốn lưu động có tính lỏng cao nhất, với hai bộ phận chủ yếu là tiền mặt và tiền gửi ngân hàng liên quan đến các dòng tiền vào ra doanh nghiệp – có nghĩa là nó liên quan tới các khoản phải thu, chi bằng tiền Bất cứ khi nào phát sinh các khoản thu chi liên quan đến tiền, mức dự trữ tiền trong ngân quỹ đều biến động Mặt khác, các khoản thu chi tiền mặt lại không đồng thời và thường diễn ra bất thường, ảnh hưởng không nhỏ tới mức dự trữ tiền Vì vậy, để tránh những trường hợp biến động bất thường của ngân quỹ đòi hỏi các doanh nghiệp phải quản lý ngân quỹ. Đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp

Doanh nghiệp luôn quan tâm tới mức dự trữ tiền vì ngân quỹ biến động theo chiều hướng bất lợi sẽ ảnh hưởng tới sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp Như vậy, một vai trò quan trọng của quản lý ngân quỹ là giúp cho doanh nghiệp đảm bảo khả năng thanh toán Khả năng thanh toán là khái niệm dùng để chỉ khả năng đáp ứng các khoản nợ hay các khoản chi khi đến hạn Do sự khác biệt về thời điểm ghi nhận giữa thu nhập và chi phí với thu và chi ngân quỹ, lợi nhuận trên báo cáo kết quả kinh doanh của doanh nghiệp chỉ là con số trên sổ sách kế toán, lợi nhuận này nếu không được thực hiện dưới hình thái tiền, thì cho dù cao đến mức nào cũng không thể hiện được khả năng tái sản xuất mở rộng cũng như đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp được diễn ra bình thường Trong nhiều trường hợp doanh nghiệp không đủ tiền để trang trải các khoản nợ, khoản chi phát sinh do các dòng tiền vào, ra doanh nghiệp không diễn ra cùng thời điểm, độ lớn, chu kỳ Trong khi đó, việc dự đoán khi nào phát sinh các khoản thu, các khoản chi bằng tiền, số lượng là bao nhiêu và chu kỳ các khoản thu, các khoản chi đó như thế nào là rất khó.

Vì vậy, khả năng thanh toán tốt có ý nghĩa quan trọng với doanh nghiệp bởi lẽ nó quyết định tới mối quan hệ của doanh nghiệp với khách hàng, ảnh hưởng tới uy tín của doanh nghiệp Một doanh nghiệp thường xuyên thanh toán đúng hạn có thể được hưởng chiết khấu hay các ưu đãi khác, duy trì được mối quan hệ lâu dài với nhà cung cấp, người mua hàng, có được nguồn hàng ổn định Ngoài ra, một doanh nghiệp có khả năng thanh toán tốt sẽ dễ dàng vay tiền từ ngân hàng hay tìm kiếm các nguồn tài trợ khác cả trong ngắn hạn và dài hạn Ví dụ, doanh nghiệp có thể xin được hưởng chính sách tín dụng thương mại hay phát hành chứng khoán ra công chúng để huy động vốn.

Vì vậy, doanh nghiệp cần nhận thức được tầm quan trọng của công tác quản lý ngân quỹ để dự báo những trường hợp có thể dẫn đến thiếu hụt tiền, có thể đẩy doanh nghiệp vào trạng thái khó khăn, từ đó có biện pháp khắc phục như tìm nguồn tài trợ hay tìm cách tăng thu giảm chi Đồng thời dự báo những trường hợp ngân quỹ có thể thặng dư để có biện pháp sử dụng tiền nhàn rỗi, tạo thêm nguồn cho ngân quỹ, phòng ngừa những biến động bất thường có thể diễn ra trong tương lai.

Lựa chọn nguồn tài trợ với chi phí thấp

Khi ngân quỹ thâm hụt do phát sinh nhiều các khoản chi nhằm duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, doanh nghiệp phải tìm cách tạo nguồn ngắn hạn để bù đắp thâm hụt, tránh tình trạng mất khả năng thanh toán Doanh nghiệp có nhiều cách để tìm nguồn tài trợ ngắn hạn nhưng vì những lí do đó, doanh nghiệp không thể tìm được nguồn chi phí thấp mà phải vay các tổ chức, vay cá nhân, hay huy động từ các nguồn có chi phí cao hơn. Nếu doanh nghiệp có kế hoạch phòng ngừa trường hợp này, doanh nghiệp đã có thể có biện pháp khắc phục tối ưu Chẳng hạn, doanh nghiệp có thể giảm các khoản phải thu của khách hàng, tăng cường quan hệ tốt với các nhà cung cấp bằng cách thanh toán nhanh để có thể được hưởng các ưu đãi về giá hay trả chậm trong tương lai; đầu tư tiền vào chứng khoán và đặc biệt là có kế hoạch vay ngân hàng và các tổ chức tín dụng, hạn chế các khoản vay không cần thiết để vay trong tương lai Nếu doanh nghiệp không có kế hoạch chủ động trước sẽ khiến doanh nghiệp có thể phải “vay nóng” từ các tổ chức, cá nhân có chi phí cao, phải chịu các điều kiện ràng buộc bất lợi cho doanh nghiệp.

Như vậy, các hình thức tài trợ với chi phí lớn khiến chi phí vốn của doanh nghiệp cao, làm chi phí của doanh nghiệp trong tương lai tăng lên, ảnh hưởng tới lợi nhuận đồng thời hạn chế khả năng huy động vốn của doanh nghiệp trong tương lai Và đặc biệt trong trường hợp doanh nghiệp không thể tìm được nguồn tài trợ nào, doanh nghiệp sẽ có nguy cơ mất khả năng thanh toán Rõ ràng, nếu không có sự quản lý chặt chẽ ngân quỹ, để tình trạng thâm hụt ngân quỹ bất lợi xảy ra, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sẽ bị ảnh hưởng và việc tối thiểu hóa chi phí vốn sẽ không đạt được. Đối với doanh nghiệp dịch vụ, mọi khoản chi lớn thường đã phát sinh vào kỳ trước, đến kỳ sau, doanh nghiệp mới thực hiện cung dịch vụ và đồng thời nhận được các khoản thu bằng tiền Như vậy, ngân quỹ của doanh nghiệp sẽ thặng dư tiền vì thu bằng tiền của doanh nghiệp vượt trội các khoản chi trả bằng tiền trong kỳ Tiền để tại két của doanh nghiệp hay gửi không kỳ hạn vào ngân hàng không đem lại nhiều lợi nhuận Doanh nghiệp cũng không thể tính tới việc đầu tư dài hạn vì đây chỉ là khoản tiền tạm thời nhàn rỗi trong ngắn hạn; cho dù đầu tư dài hạn sẽ hứa hẹn nhiều lợi nhuận thì nó cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro khi doanh nghiệp có nhu cầu thanh toán Một số doanh nghiệp sẽ tìm cách đầu tư ngắn hạn tiền nhàn rỗi vào tài sản sinh lợi mà độ rủi ro có thể chấp nhận Tuy nhiên sẽ có những doanh nghiệp không đầu tư tiền nhàn rỗi mà chỉ gửi tiền vào tài khoản ở ngân hàng bởi họ luôn duy trì một mức dự trữ tiền rộng rãi Như vậy, quản lý ngân quỹ tốt sẽ tạo cơ hội sinh lợi, tăng lợi nhuận và lựa chọn nguồn tài trợ phù hợp với chi phí thấp.

Dự phòng cho những biến động bất thường

Nội dung của công tác quản lý ngân quỹ

Các vấn đề liên quan tới quản lý ngân quỹ bao gồm việc xác định dòng tiền vào ra và cân đối ngân quỹ cũng như xử lý khi ngân quỹ không cân đối. Tức là giải quyết vấn đề tồn quỹ, quản trị quá trình thu tiền mặt và đầu tư tiền nhàn rỗi nhằm mục đích sinh lời

1.2.1 Xác định dòng tiền vào ra

Công tác quản lý ngân quỹ không quan tâm đến tất cả các khoản thu, chi của doanh nghiệp mà chỉ quan tâm đến các khoản thực thu và thực chi về tiền mặt và tiền gửi ngân hàng.

Các khoản mục ảnh hưởng tới dòng tiền vào ra

Tiền và các khoản tương đương tiền

Chi phí và thuế đến hạn

Trong đó, chi tiết các khoản thu, chi ngân quỹ phải xem xét đó là:

1.2.1.1 Các khoản thu ngân quỹ

Các khoản thu ngân quỹ là các khoản thực thu bằng tiền từ hoạt động kinh doanh, tài chính và bất thường

Thực thu từ hoạt động kinh doanh:

Thu bằng tiền từ doanh thu bán hàng của hoạt động kinh doanh là nguồn thu chủ yếu của doanh nghiệp, về lý thuyết, nguồn thu này tính theo công thức:

Thu bằng tiền trong kỳ = Phải thu đầu kỳ + Doanh thu bán hàng trong kỳ - Phải thu cuối kỳ

= Doanh thu bán hàng trong kỳ + Chênh lệch khoản phải thu Trong đó:

- Thu tiền bán hàng trong kỳ:

Trong kỳ doanh nghiệp bán hàng cho khách và thu được tiền luôn trong kỳ theo đúng các điều khoản trong hợp đồng được ký kết, nó bao gồm: giá bán thành phẩm, thuế gián thu như: thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng, thuế xuất nhập khẩu…

- Thu nợ tiền hàng kỳ trước của khách hàng (giảm các khoản phải thu): Áp dụng các chính sách thương mại, doanh nghiệp thường cho khách hàng nợ tiền hàng Khoản tín dụng doanh nghiệp cấp cho khách hàng kỳ trước, kỳ này sẽ được khách hàng thanh toán và sẽ được coi là một khoản thực thu ngân quỹ của kỳ này.

- Thu từ những khoản tiền trả trước của khách hàng: đó là những khoản tiền đặt cọc hay là khoản ứng trước của khách hàng cho hàng hóa đặt mua, đến những kỳ sau doanh nghiệp mới phải giao hàng.

- Thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh khác: đó là các khoản phải thu nội bộ, phải thu khác…

Thu từ hoạt động tài chính

- Các khoản lãi đầu tư hoặc tiền thu được do kinh doanh, mua bán, chuyển nhượng chứng khoán

- Thu từ cho thuê tài sản

- Lãi từ việc cho vay vốn

- Thu từ hoạt động hợp tác, liên doanh

- Thu từ các khoản đầu tư ngắn hạn

- Thu lãi hoặc gốc tiền gửi, cho vay ngân hàng trong kỳ

- Thu từ hoạt động tài chính khác

Thực thu từ hoạt động bất thường

- Tiền thu do khách hàng, đối tác vi phạm hợp đồng

- Tài sản thừa doanh nghiệp được hưởng

- Các khoản nợ đã đưa vào nợ khó đòi nay đòi được

- Các khoản nợ phải trả nhưng không còn chủ nợ

- Các khoản thu bất thường khác

1.2.1.2 Các khoản chi ngân quỹ

Bao gồm thực chi cho hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động tài chính, hoạt động bất thường

Thực chi cho hoạt động sản xuất kinh doanh

- Chi tiền mua hàng trong kỳ:

Chi bằng tiền trong kỳ = Phải trả người bán đầu kỳ + Chi mua hàng trong kỳ - Phải trả người bán trong kỳ

= Chi mua hàng trong kỳ + Chênh lệch khoản phải trả người bán

- Chi mua hàng kỳ trước: Khi nhà cung cấp cấp cho một khoản tín dụng cho phép trả chậm số tiền hàng đã nhận vào kỳ trước, đến hạn, doanh nghiệp phải chi tiền trả cho nhà cung cấp

- Chi tiền đầu tư cơ bản (chi đầu tư tài sản cố định), chi tiền thanh toán lương, các chi phí quản lý, chi phí bán hàng và chi phí khác

- Chi trả lãi vay ngân hàng

- Chi thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước: chi trả thuế, phí, lệ phí…

- Chi cho hoạt động sản xuất kinh doanh khác

 Thực chi hoạt động tài chính:

- Chi cho hoạt động đầu tư

- Tiền lỗ do kinh doanh, mua bán, chuyển nhượng các loại chứng khoán

- Chi tiền trả vốn gốc ngân hàng

- Chi tham gia góp vốn liên doanh và tiền lỗ về góp vốn liên doanh

- Chi phí khác do hoạt động tài chính

 Thực chi cho hoạt động bất thường

- Chi phí thanh lý, nhượng bán, bán tài sản cố định

- Tiền doanh nghiệp phải nộp phạt do vi phạm cam kết hợp đồng

- Tiền phải nộp phạt và bị truy thu thuế

- Các khoản mất tài sản doanh nghiệp phải chịu

- Chi cho các hoạt động bất thường khác

Từ những phân tích đó về các khoản thực thu và thực chi của doanh nghiệp, nhà quản trị tài chính phải đi tới tìm hiểu và dự đoán trước các luồng thu, chi tiền phát sinh trong các tháng, nhu cầu và khả năng tiền mặt để chủ động trong đầu tư hay huy động vốn tài trợ.

1.2.2 Xác định mức ngân quỹ tối ưu

Mức tồn quỹ tối ưu là mức tồn tiền mặt cho phép ngân quỹ của doanh nghiệp đạt được tính lỏng cao và khả năng sinh lợi lớn Để xác định mức tồn quỹ tiền mặt tối ưu, nhà quản trị phải dựa vào nhiều yếu tố của thị trường cũng như của bản thân doanh nghiệp mình.

Một trong số các yếu tố cần quan tâm khi xác định mức ngân quỹ tối ưu là: lãi suất của thị trường, mà ở Việt Nam thường được xác định là lãi suất của trái phiếu Chính phủ.

Yếu tố thứ hai chính là từ các nội dung của quản lý ngân quỹ Tùy thuộc vào đặc điểm riêng có, nhu cầu của mình, doanh nghiệp sẽ xác định mức tồn quỹ tiền mặt hợp lý Các nhà tài chính đã nghiên cứu và đưa ra một số mô hình cho quản lý tiền mặt của doanh nghiệp

Mô hình 1: Mô hình Baumol

Người đầu tiên vận dụng mô hình độ lớn của đơn hàng tối ưu (EOQ) vào quản trị tiền mặt là nhà khoa học Hoa Kỳ William J Baumol (1952) Mô hình này cho rằng, mỗi doanh nghiệp đều có một dòng lưu kim thuần ổn định, là kết quả của dòng lưu kim chi phí và dòng lưu kim thu nhập trên phương diện kế hoạch.

Trong quá trình hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp phải tính toán mức tiền mặt dự trữ hợp lý và hiệu quả nhất sao cho chi phí cơ hội của doanh nghiệp là nhỏ nhất đồng thời doanh nghiệp gặp ít rủi ro thanh toán nhất Vì vậy, doanh nghiệp sẽ thường tìm cách đầu tư số tiền mặt nhàn rỗi vào hình thức đầu tư ít rủi ro nhất đó là tín phiếu kho bạc.

Tín phiếu kho bạc là loại chứng khoán được coi là ít rủi ro nhất và dễ chuyển hóa thành tiền nhất Vì thế chúng ta có thể coi chi phí cơ hội của việc giữ tiền là lãi suất tín phiếu kho bạc Việc dùng tiền nhàn rỗi để đầu tư vào tín phiếu kho bạc sẽ đem lại cho doanh nghiệp khoản lợi nhất định Tuy nhiên, tín phiếu kho bạc không phải là phương tiện thanh toán nên doanh nghiệp khi cần tiền mặt phải tìm cách bán tín phiếu Điều này làm phát sinh chi phí bán các tín phiếu kho bạc Như vậy, chi phí cơ hội tăng lên nếu dự trữ tiền tăng lên đồng thời chi phí bán tín phiếu sẽ giảm đi nếu số lần phải bán tín phiếu ít đi tức là dự trữ tiền tăng lên Do đó mức tiền dự trữ hợp lý và hiệu quả nhất đạt được khi tổng chi phí cho việc duy trì lượng tiền đó trong ngân quỹ là nhỏ nhất.

Chi phí do dự trữ tiền gây ra

Chi phí cơ hội của dự trữ tiền

Chi phí do thiếu tiền

Mức dự trữ tiền mặt tối ưu (mức tồn quỹ tối ưu) đạt được khi:

Chi phí do thiếu tiền cận biên = Chi phí cơ hội của dự trữ tiền cận biên

Hoàn thiện quản lý ngân quỹ

1.3.1 Nội dung của hoàn thiện quản lý ngân quỹ

Như ta đã biết công tác quản lý ngân quỹ khá phức tạp đối với từng doanh nghiệp, vì nếu không ở mức ngân quỹ tối ưu doanh nghiệp sẽ dư thừa hoặc thiếu hụt mức tiền cần thiết phải thu chi

Theo định nghĩa của Từ điển Tiếng Việt, NXB trẻ, 2001: “Hoàn thiện” có nghĩa là làm cho một vấn đề nào đó trở lên tốt hơn

Như vậy, “Hoàn thiện quản lý ngân quỹ” tức là làm cho hoạt động ngân quỹ trở lên tốt hơn Nghiên cứu hoàn thiện quản lý ngân quỹ tức là tìm ra những vấn đề còn chưa thật hiệu quả của hoạt động quản lý ngân quỹ và đưa ra những khuyến nghị làm cho hoạt động này trở nên tốt hơn Do đề tài thuộc lĩnh vực tài chính doanh nghiệp nên những vấn đề ngân quỹ sẽ không đi sâu vào các nghiệp vụ kế toán mà đi sâu vào việc tìm ra những điểm chưa tối ưu về tài chính của công tác quản lý ngân quỹ từ đó khuyến nghị hướng giải quyết cho doanh nghiệp để đạt được hiệu quả cao hơn trong công tác quản lý ngân quỹ Cụ thể là xác định mức ngân quỹ tối ưu cho từng doanh nghiệp,cách xử lý hiệu quả nhất khi ngân quỹ dư thừa hay thiếu hụt, để nhằm tăng hiệu quả của hoạt động quản lý ngân quỹ.

1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá hoạt động ngân quỹ

Hiện tại các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động chưa hoàn thiện và đầy đủ, do đó một số chỉ tiêu đánh giá sau chỉ mang tính chất đánh giá một phần về hoạt động ngân quỹ.

*Khả năng thanh toán và biên khả năng thanh toán

- Khả năng thanh toán hiện hành

Tỷ số thanh toán hiện tại = Tài sản lưu động

Khoản nợ ngắn hạn là những khoản nợ phải trả trong thời gian ngắn (thường dưới 1 năm) Tỷ số này cho thấy doanh nghiệp có bao nhiêu tài sản có thể chuyển đổi để đảm bảo thanh toán các khoản nợ ngắn hạn Đây là chỉ tiêu đo lường khả năng trả nợ của doanh nghiệp Vì vậy đối với doanh nghiệp bảo hiểm việc đánh giá đúng đắn chỉ tiêu này là hết sức quan trọng Khoản nợ lớn nhất và quan trọng nhất của DNBH chính là tiền bồi thường hay tiền bảo hiểm cho khách hàng

Nếu tỷ lệ khả năng thanh toán hiện hành >1 thì doanh nghiệp được coi như đang ở trạng thái thuận lợi Tuy nhiên hệ số này chưa đủ chặt chẽ trong việc đánh giá cân bằng tài chính ngắn hạn vì còn tính đến khoản mục hàng tồn kho Nếu khoản mục này chiếm tỷ trọng đáng kể trong tài sản lưu động và thời gian chuyển hóa cần thiết đủ dài thì vẫn tồn tại nguy cơ mất cân bằng ngắn hạn.

- Khả năng thanh toán nhanh

Tỷ số thanh toán nhanh = TS lưu động – Tồn kho

Nợ ngắn hạn Đây là tỷ số giữa các tài sản quay vòng nhanh với nợ ngắn hạn Tài sản quay vòng nhanh là những tài sản có thể nhanh chóng chuyển đổi thành tiền, bao gồm: tiền, chứng khoán ngắn hạn, các khoản phải thu Tài sản tồn kho (dự trữ) là các tài sản khó chuyển thành tiền hơn trong tổng tài sản lưu động và dễ bị lỗ nhất nếu được bán Đối với DNBH, hệ số này lớn hơn 1 là an toàn cho doanh nghiệp, bời vì nó cho thấy khả năng doanh nghiệp có thể trang trải các khoản nợ ngắn hạn mà không cần đến các nguồn thu bao gồm chủ yếu từ thu phí bảo hiểm Điều đó cũng có nghĩa là DNBH có khả năng giải quyết bồi thường hay chi trả bảo hiểm kịp thời cho khách hàng, tạo điều kiện để khách hàng giải quyết hậu quả rủi ro nhanh chóng, từ đó tăng uy tín cho DNBH

- Khả năng thanh toán tức thời

Tỷ lệ khả năng thanh toán tức thời = Ngân quỹ

Khả năng thanh toán tức thời thể hiện khả năng thanh toán ngay bằng tiền cho các khoản nợ đến hạn Nếu tỷ lệ khả năng thanh toán tức thời cao thì tỷ lệ này có thể minh chứng cho khả năng thanh toán tốt nhưng mặt khác lại thể hiện sự kém hiệu quả trong việc sử dụng nguồn lực tài chính với một ngân quỹ ứ đọng Còn với một giá trị đủ nhỏ thì nguồn lực tài chính được sử dụng dường như có hiệu quả nhưng khả năng thanh toán sẽ yếu đi, đặc biệt khi các thành phần khác của tài sản lưu động có khả năng luân chuyển kém (nhất là đối với các doanh nghiệp mà hoạt động có đặc trưng mùa vụ).

Biên khả năng thanh toán là phần chênh lệch giữa giá trị tài sản và các khoản nợ phải trả Đối với doanh nghiệp bảo hiểm, biên khả năng thanh toán tối thiểu được quy định theo Thông tư 156/2007/TT-BTC.

Ngoài các chỉ tiêu trên, các nhà quản lý ngân quỹ còn xem xét đến chỉ tiêu vốn lưu động ròng và nhu cầu vốn lưu động ròng Hai chỉ tiêu này cũng là yếu tố quan trọng và cần thiết cho việc đánh giá điều kiện cân bằng tài chính của một doanh nghiệp

- Vốn lưu động ròng (VLĐR) là khoản chênh lệch giữa tổng tài sản lưu động (TSLĐ) và tổng nợ ngắn hạn hoặc giữa nguồn dài hạn và tài sản cố định (TSCĐ)

VLĐR = Nguồn vốn dài hạn – TSCĐ = TSLĐ - Nguồn vốn ngắn hạn

VLĐR < 0, có nghĩa nguồn vốn dài hạn không đủ đầu tư cho TSCĐ. Doanh nghiệp phải đầu tư vào TSCĐ một phần nguồn vốn ngắn hạn TSLĐ không đủ đáp ứng nhu cầu thanh toán nợ ngắn hạn, cán cân thanh toán của doanh nghiệp mất cân bằng, doanh nghiệp phải dùng một phần TSCĐ để huy động vốn ngắn hạn hợp pháp hoặc giảm quy mô đầu tư dài hạn hoặc thực hiện đồng thời cả 2 giải pháp đó.

VLĐR < 0, nguồn vốn dài hạn dư thừa sau khi đầu tư vào TSCĐ, đồng thời TSLĐ > nguồn vốn ngắn hạn do vậy khả năng thanh toán của doanh nghiệp tốt Tuy nhiên, nếu VLĐR quá cao thì sẽ làm giảm hiệu quả đầu tư vì lượng TSLĐ quá nhiều so với nhu cầu và phần dư thêm này không làm tăng thu nhập

- Tỷ lệ dự trữ trên VLĐR:

Tỷ lệ dự trữ trên VLĐR = Dự trữ

Tỷ lệ này cho biết dự trữ chiếm bao nhiêu phần trăm vốn lưu động ròng.Trên đây mới chỉ là ràng buộc về mặt giá trị mang tính chất chung Với doanh nghiệp cụ thể, thường có thể xác định gần đúng “độ hóa lỏng” của

TSCĐ căn cứ vào đặc trưng công nghệ và hoạt động thương mại Khi độ hóa lỏng của TSLĐ lớn hơn tính cấp thiết của khoản nợ ngắn hạn thì một mức VLĐR âm cũng không gây ra sự mất cân bằng như đối với các công ty kinh doanh siêu thị chẳng hạn Trong trường hợp ngược lại, vẫn có thể xảy ra mất cân bằng khi VLĐR dương không vượt quá một giá trị an toàn nhất định. Nhu cầu VLĐR là lượng vốn ngắn hạn doanh nghiệp cần để tài trợ cho một phần TSLĐ, đó là hàng tồn kho và các khoản phải thu.

Nhu cầu vốn lưu động ròng = Tồn kho và các khoản phải thu – Nợ ngắn hạn

+ Khi nhu cầu VLĐR > 0, tức là tồn kho và các khoản phải thu > Nợ ngắn hạn, nghĩa là các sử dụng ngắn hạn của doanh nghiệp lớn hơn các nguồn vốn ngắn hạn mà doanh nghiệp có được từ bên ngoài, doanh nghiệp phải dùng nguồn vốn dài hạn để tài trợ vào phần chênh lệch

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NGÂN QUỸ TẠI TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM PETROLIMEX

Đặc điểm Tổng công ty Cổ phần Bảo hiểm Petrolimex (PJICO)

2.1.1 Tổng quan về công ty

2.1.1.1 Giới thiệu về công ty

Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm PETROLIMEX (trước đây là Công ty

Cổ phần Bảo hiểm PJICO) là doanh nghiệp cổ phần được thành lập theo giấy phép số 1873/GP-UB ngày 08/6/1995 Ngày 25 tháng 3 năm 2013, Công ty cổ phần Bảo hiểm PJICO được Bộ Tài chính cấp Giấy phép điều chỉnh số 67/GPDDC/KDBH đổi tên thành Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm Petrolimex Cổ phiếu của Tổng công ty được niêm yết trên sàn giao dịch HOSE với mã chứng khoán là PGI , Tổng Công ty gồm 7 cổ đông sáng lập đều là những tổ chức kinh tế lớn của nhà nước, có tiềm năng, uy tín ở cả trong và ngoài nước.

Là Nhà bảo hiểm đầu tiên tại Việt Nam hoạt động theo mô hình cổ phần, luôn luôn không ngừng lớn mạnh, và đã có được một hình ảnh, một niềm tin thực sự trong tâm trí khách hàng, từ khi thành lập đến nay Tổng Công ty Bảo hiểm PETROLIMEX (PJICO) phấn đấu trở thành 1 trong 4 đơn vị dẫn đầu trên thị trường Việt Nam về bảo hiểm phi nhân thọ.

Với một mô hình doanh nghiệp đang được Nhà nước khuyến khích,ủng hộ, với một chính sách về phí bảo hiểm, và đặc biệt là sự phục vụ hiệu quả, tận tình chu đáo, PJICO đã có được một hình ảnh, một niềm tin thực sự trong tâm trí khách hàng.

Một số thông tin cơ bản về Tổng công ty Cổ phần Bảo hiểm Petrolimex như sau:

Tên tiếng Việt Tổng công ty Cổ phần Bảo hiểm Petrolimex

Tên tiếng Anh Petrolimex Insurance Corporation

Tên giao dịch Tổng Công ty Bảo hiểm PJICO

Ngày thành lập 15 tháng 06 năm 1995

Vốn điều lệ 710 tỷ đồng

Số lượng Nhân viên trên 1.690 người

Số lượng Đại lý trên 3.420 đại lý

Công ty thành viên 56 công ty

Số vốn thực góp của cổ đông Tổng Công ty ngày 31/12/2013 thống kê theo các chủ thể như sau:

Bảng 2.1: Danh sách cổ đông hiện đang nắm giữ vốn cổ phần đang lưu hành

STT Cổ đông Vốn góp(triệu đồng) Tỷ lệ %

1 Tổng công ty Xăng dầu Việt Nam 363,238 51.2

2 Ngân hàng TMCP Ngoại thương VN 71,323 10.0

3 Tổng CTCP Tái bảo hiểm Quốc gia 62,373.6 8.8

4 Tổng công ty Thép Việt Nam 42,739 6.0

5 Công ty vật tư thiết bị toàn bộ 21,369.6 3

6 Công ty điện tử Hà Nội 7,089.2 1

Nguồn: Cáo bạch tài chính 2012-2013, PJICO

2.1.1.2 Tổ chức bộ máy quản lý Tổng công ty Cổ phần bảo hiểm Petrolimex Đại hội đồng cổ đông: Là cơ quan quyết định cao nhất của PJICO, có nhiệm vụ thông qua các báo cáo của Hội đồng quản trị; thông qua, bổ sung, sửa đổi điều lệ; Quyết định tăng giảm vốn điều lệ; Thông qua định hướng phát triển trung và dài hạn; Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát; Quyết định bộ máy tổ chức của PJICO.

Hội đồng quản trị: Là cơ quan quản lý cao nhất của PJICO, gồm 9 thành viên: 03 thành viên đại diện cổ đông Petrolimex, 05 thành viên đại diện cho 5 cồ đông lớn (Vietcombank, Vinare, VSC, Matexim, Hanel), 01 thành viên đại diện cho các cổ đông thể nhân.

Ban Kiểm soát do đại hội cổ đông bầu ra, có chức năng kiểm tra tính kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp trong hoạt động quản lý của Hội đồng quản trị, hoạt động điều hành kinh doanh của Tổng giám đốc; Kiểm soát, giám sát việc chấp hành điều lệ và nghị quyết Đại hội cổ đông Ban kiểm soát PJICO gồm

Tổng giám đốc PJICO do Hội đồng quản trị bổ nhiệm, chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị và Đại hội cổ đông về điều hành và quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của PJICO Ban Tổng Giám đốc điều hành PJICO gồm

04 thành viên: 01 Tổng giám đốc, 03 Phó Tổng giám đốc.

Hình 1.1 Sơ đồ tổ chức Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm

Nguồn: Phòng Kế toán Tài chính Tổng công ty CP Bảo hiểm Petrolimex

2.1.2 Đặc điểm sản xuất kinh doanh

Các ngành nghề kinh doanh chính của Tổng công ty cổ phần Bảo hiểm Petrolimex bao gồm:

Kinh doanh bảo hiểm gốc: PJICO hiện đang triển khai và cung cấp trên

80 sản phẩm bảo hiểm trên toàn quốc, trong đó các sản phẩm bảo hiểm đóng góp chủ yếu trong tổng phí bảo hiểm gốc của PJICO bao gồm: Bảo hiểm xe cơ giới; Bảo hiểm hàng hải (bao gồm tàu thuyền và hàng hoá vận chuyển); Bảo hiểm xây dựng lắp đặt công trình và bảo hiểm tài sản hoả hoạn Đây là những sản phẩm có tỷ trọng doanh thu phí bảo hiểm gốc cao trong tổng doanh thu toàn PJICO và có tốc độ tăng trưởng tốt trong những năm gần đây Tăng trưởng doanh thu bảo hiểm gốc bình quân giai đoạn 2009-2013 đạt 10.5%.

Bảng 2.2 Cơ cấu doanh thu bảo hiểm gốc năm 2013 theo nhóm nghiệp vụ Đơn vị: Tỷ đồng

STT Nhóm nghiệp vụ Doanh thu bảo hiểm gốc

Nguồn: Phòng Kế toán – Tài chính, PJICO

Kinh doanh tái bảo hiểm bao gồm Nhượng tái bảo hiểm và Nhận tái bảo hiểm Nhượng Tái bảo hiểm là hoạt động nhằm san sẻ rủi ro cho các doanh nghiệp bảo hiểm gốc khi rủi ro xảy ra Phí bảo hiểm gốc sau khi trừ phí nhượng tái bảo hiểm và cộng phí nhận tái bảo hiểm là phần phí giữ lại của PJICO bảo hiểm gốc Lượng phí bảo hiểm giữ lại hàng năm phụ thuộc vào khả năng tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm và cơ cấu doanh thu phí của các loại hình nghiệp vụ bảo hiểm Tỷ lệ phí nhượng tái bảo hiểm trên phí bảo hiểm gốc luôn duy trì ổn định ở mức 25 – 30% trong giai đoạn 2010 – 2013. Trong đó cổ đông VINARE là một trong những nhà tái bảo hiểm chính của PJICO với chương trình cam kết 20% phí nhượng và nhượng tái tự nguyện

Hoạt động đầu tư tài chính: PJICO đã thực hiện việc quản lý tập trung dòng tiền nhằm sử dụng hiệu quả tiền nhàn rỗi, huy động tối đa tiền vào đầu tư đồng thời vẫn đảm bảo nhu cầu sử dụng vốn thường xuyên của các đơn vị trong toàn PJICO

PJICO đã xây dựng một danh mục đầu tư đa dạng thông qua nhiều hình thức đầu tư như: góp vốn liên doanh, góp vốn cổ phần, mua cổ phần, hoạt động tiền gửi, đầu tư bất động sản, Trong danh mục đầu tư của PJICO, tài sản có thu nhập cố định như tiền gửi ngân hàng, trái phiếu được phân bổ tỷ trọng lớn nhất. Định hướng danh mục đầu tư của PJICO trong những năm tới là duy trì tỷ trọng đầu tư vào những tài sản đầu tư có luồng thu nhập ổn định như tiền gửi, trái phiếu theo đúng tỷ trọng yêu cầu của Luật kinh doanh bảo hiểm, tăng dần tỷ trọng đầu tư vào các loại tài sản đầu tư khác với đặc tính là có luồng thu nhập không cố định, có mức độ rủi ro cao hơn nhưng được kỳ vọng sẽ đem lại mức lợi suất cao hơn.

Thị phần và khả năng cạnh tranh

Thị trường bảo hiểm Việt Nam đã có 29 doanh nghiệp bảo hiểm là các công ty Nhà nước, công ty liên doanh, cổ phần và 100% vốn nước ngoài hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ Lĩnh vực này vẫn giữ được tốc độ tăng trưởng mạnh, đạt 25% trong năm 2010 với tổng doanh thu phí là 19.302 tỉ đồng Dẫn đầu thị trường và nắm giữ đến 65% thị phần vẫn là 4 công ty bảo hiểm: Bảo Việt, Bảo Minh, PVI và PJICO Tỷ trọng phần còn lại là của các công ty cổ phần khác và các công ty bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài. Doanh thu phí bảo hiểm gốc và thị phần của các doanh nghiệp được thể hiện trong bảng dưới đây:

Nguồn : Hiệp hội Bảo hiểm, 2013

Hình 2.1: Xếp hạng doanh thu phí bảo hiểm gốc năm 2012, 2013

Thực trạng công tác quản lý ngân quỹ tại Tổng công ty Cổ phần Bảo hiểm Petrolimex

2.2.1 Đặc điểm hoạt động ngân quỹ

Ngân quỹ của Tổng công ty Bảo hiểm Petrolimex chủ yếu bao gồm tiền mặt và tiền gửi ngân hàng không kỳ hạn Công ty có tài khoản tiền gửi tại Hội sở chính ngân hàng công thương, ngân hàng ngoại thương, ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam…

Hiện nay công tác quản lý tài chính của công ty do phòng Kế toán – Tài chính đảm nhiệm Công tác kế toán tại đây được hạch toán hàng ngày trên máy tính Công tác hạch toán và lưu trữ được thực hiện tại cơ quan Tổng công ty Quản lý ngân quỹ được coi là một phần công việc của các nhân viên kế toán và thủ quỹ Các kế toán viên và thủ quỹ có nhiệm vụ hạch toán hàng ngày các nghiệp vụ phát sinh và báo cáo với kế toán trưởng khi có tình huống gây ảnh hưởng cho ngân quỹ Công tác quản lý ngân quỹ của Công ty dựa vào sự biến động của tài khoản tiền mặt, tiền gửi ngân hàng và các tài khoản có liên quan như tài khoản theo dõi các khoản phải thu, phải trả…

2.2.2 Xác định dòng tiền vào ra

 Các khoản thu ngân quỹ của Công ty bao gồm:

Doanh thu hoạt động kinh doanh bảo hiểm là số tiền phải thu phát sinh trong kỳ sau khi đã trừ các khoản phải chi để giảm thu phát sinh trong kỳ và doanh thu hoạt động tài chính.

Các nguồn thu chính là thu bảo hiểm gốc, thu nhận tái bảo hiểm, thu nhượng tái bảo hiểm, thu khác từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm, thu từ hoạt động đầu tư.

Nghiệp vụ thu ngân quỹ phát sinh đối với các nguồn thu trên hàng tháng theo các hợp đồng bảo hiểm và tái bảo hiểm,…

 Các khoản chi ngân quỹ

Chi bồi thường bảo hiểm gốc

Chi phí về dịch vụ đại lý bao gồm giám định tổn thất, xét giải quyết bồi thường, yêu cầu người thứ ba bồi hoàn.

Chi phí hoạt động tài chính

Chi cho hoạt động bán hàng

Chi bồi thường nhận tái bảo hiểm

Chi phí hoạt động khác

Các khoản thu phí bảo hiểm thường được thu vào cuối tháng, trong khi các khoản chi về bồi thường, chi phí quản lý, chi giám định thường được thanh toán vào cuối tháng Do đó luôn có một khoản tiền nhàn rỗi trong ngân quỹ hàng tháng.

Quản lý các khoản phải thu và phải trả

Qua các bảng báo cáo tài chính của Công ty ta có:

Bảng 2.3 Tài sản và nguồn vốn năm 2011 – 2013 Đơn vị: Triệu đồng

(Nguồn: Báo cáo tài chính 2013, 2012 và 2011)

Bảng 2.4 Kết quả hoạt động kinh doanh 2011-2013 Đơn vị: Triệu đồng

1 Thu phí bảo hiểm gốc 1,984,45

2 Thu phí nhận tái bảo hiểm 225,875 111,179 95,005

3 Các khoản giảm trừ doanh thu 551,357 492,778 518,452

4 Tăng (giảm) dự phòng phí 38,310 58,647 128,184

5 Thu hoa hồng nhượng tái bảo hiểm 119,437 121,788 141,380 6

Thu khác hoạt động kinh doanh bảo hiểm 12,162 12,400 11,736

Chi bồi thường bảo hiểm gốc, trả tiền bảo hiểm 894,738 928,936 805,514

9 Chi bồi thường nhận tái bảo hiểm 158,760 61,282 35,924

Bồi thường thuộc phần trách nhiệm giữ lại 764,265 767,902 626,460

Chi bồi thường từ quỹ dự phòng dao động lớn 15,000 65,491 0

13 Tăng (giảm) dự phòng bồi thường 155,038 50,417 16,014

14 Trích dự phòng dao động lớn 16,786 48,067 44,331 15

Chi khác hoạt động kinh doanh bảo hiểm 337,418 241,154 212,978

Tổng chi trực tiếp hoạt động kinh doanh BH

18 Chi phí quản lý doanh nghiệp 323,790 329,896 308,128

19 Doanh thu hoạt động tài chính 137,065 154,707 176,625

22 Tổng lợi nhuận kế toán trước thuế 85,411 130,178 135,025

Lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp 65,884 99,209 103,541

(Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh 2013, 2012 và 2011)

Lợi nhuận chiếm tỉ lệ nhỏ trong tổng doanh thu: 0.3% năm 2012 và 0.8% năm 2011, năm 2013 nhỏ hơn 0.

Chi bồi thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí bảo hiểm trực tiếp: Năm 2013 chiếm 83%,năm 2012 là 95% và năm 2011 là 93%.

Tài sản tăng do các khoản phải thu ngắn hạn tăng và các khoản đầu tư ngắn hạn tăng.

Xem xét các khoản mục tài chính trong năm 2013 ta có:

Bảng 2.5 Quản lý công cụ tài chính năm 2013( triệu đồng)

Tiền và các khoản tương đương tiền 359,913 - 359,913 Phải thu khách hàng và phải thu khác 423,474 - 423,474 Đầu tư ngắn hạn 959,229 - 959,229 Đầu tư dài hạn - 154,732 154,732

Tài sản tài chính khác 1,884 6,858 8,742

1,906,09 0 Phải trả người bán và phải trả khác 220,093 220,093

Dự phòng bồi thường và chi phí phải trả 354,972 354,972

Công nợ tài chính khác - 1,606 1,606

Chênh lệch thanh khoản thuần 1,169,435 159,984

(Nguồn: Phòng Kế toán – Tài chính)

Có thể thấy công ty đã tập trung quản lý rủi ro thanh khoản để cân đối nguồn tiền đáp ứng các nghĩa vụ tài chính khi đến hạn.

Chi tiết các khoản phải thu, phải trả năm 2013 như sau:

Bảng 2.6 Quản lý các khoản phải thu, phải trả năm 2013 (triệu đồng)

I Phải thu của khách hàng và phải thu khác 423,474

1 Phải thu hoạt động bảo hiểm gốc 147846

2 Phải thu về hoạt động nhận tái bảo hiểm 48797

3 Phải thu về hoạt động nhượng tái bảo hiểm 148402

4 Phải thu hoạt động tài chính 66159

5 Phải thu hoạt động khác 12,270

II Phải trả người bán và phải trả khác 220,093

1 Phải trả về hoạt động bảo hiểm gốc 4644

2 Phải trả hoạt động nhận tái bảo hiểm 10032

3 Phải trả hoạt động nhượng tái bảo hiểm 159297

(Nguồn: Phòng Kế toán – Tài chính)

Bảng 2.7 Lưu chuyển tiền từ hoạt động kinh doanh năm

LƯU CHUYỂN TIỀN TỪ HOẠT ĐÔNG KINH DOANH

Tiền từ thu phí và hoa hồng 26,008 1,127,510 575,719 519,313

Trả tiền cho người bán, người cung cấp dịch vụ -289,197 -227,427 -477,072 -10,324

Trả tiền cho cán bộ công nhân viên -38,159 -34,722 -35,245 -46,993

Trả tiền nộp thuế và các khoản nợ

Tiền thu khác từ hoạt động kinh doanh 860,028 -443,262 181,801 261,461

Tiền chi khác cho hoạt động kinh doanh -626,107 -368,846 -146,973 -685,295

Tiền chi trả lãi vay 0 0 0 0

Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh -103,441 28,630 70,039 -12,054

LƯU CHUYỂN TIỀN TỪ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ 0 0 0 0

Tiền thu từ các khoản đầu tư vào đơn vị khác 405,500 189,745 214,613 267,156

Tiền thu lãi đầu tư 18,608 98,777 -39,022 39,022

Tiền ủy thác đầu tư 0 0 0 0

Tiền rút vốn ủy thác đầu tư 0 0 0 0

Tiền thu do bán tài sản cố định 228 141 447 30

Tiền chi cho vay, mua các công cụ nợ của đơn vị khác 0 0 0 0

Tiền thu hồi cho vay, bán lại các công cụ nợ của đơn vị khác 0 0 0 0

Tiền đầu tư vào các đơn vị khác -289,577 -403,187 -431,346 -397,960

Tiền mua tài sản cố định -51 -1,611 -1,982 -1,828

Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động đầu tư 134,708 -116,135 -257,291 -93,579

LƯU CHUYỂN TIỀN TỪ HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH 0 0 0 0

Tiền thu lãi do đi vay 750 -117 797 120

Tiền thu do các chủ sở hữu góp vốn 0 0 0 0

Tiền chi trả nợ thuê tài chính 0 33 -33 0

Tiền trả lại các nhà đầu tư và chuyển trả BTC về thặng dư vốn thu từ cổ 0 0 0 0

Tiền thu lãi tiền gửi

Tiền đã trả nợ vay -752 0 -800 0

Tiền đã hoàn vốn cho các chủ sở hữu

Tiền lãi đã trả cho các nhà đầu tư vào doanh nghiệp 0 -880 0 0

Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động tài chính 264 -846 -32,198 120

Lưu chuyển tiền thuần trong kỳ 31,531 -88,352 -219,449 -105,513 Tiền và tương đương tiền đầu kỳ 328,383 416,734 636,184 741,697 Ảnh hưởng của thay đổi tỷ giá hối đoái quy đổi ngoại tệ 0 0 0 0

Tiền và tương đương tiền cuối kỳ 359,914 328,383 416,734 636,184

(Nguồn: Phòng Kế toán – Tài chính) Phân tích thực trạng ngân quỹ

Tình hình tài chính theo các khoản thu chi hàng năm như bảng cân đối kế toán ở trên ta có thể thấy:

Chi phí cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm tăng lên qua các năm, năm

2011 là 899,783 (triệu đồng), năm 2012 là 104,2047 (triệu đồng), năm 2013 là 1,258,506 (triệu đồng) Tuy nhiên tài sản lưu động của doanh nghiệp lại tăng do công ty tăng đầu tư tài chính ngắn hạn và các khoản phải thu ngắn hạn đang chiếm tỷ lệ lớn

Năm 2013, số dư tiền mặt cũng tăng lên tuy không nhiều so với ngân quỹ Các khoản phải thu, phải trả trong năm 2013 cao nhất trong 3 năm này đặc biệt là các khoản phải thu từ tiền bảo hiểm của khách hàng.

Cơ cấu chi bồi thường trong tổng chi chiếm tỷ trọng lớn đặc biệt năm

2013, điều này dẫn tới lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp giảm thấp nhất trong năm 2013. Để làm rõ hơn về thực trạng quản lý ngân quỹ tại Công ty, luận văn phân tích thực trạng ngân quỹ trong năm 2013 theo các tháng với số liệu từ phòng

Kế toán tài chính cơ quan Tổng công ty Với tỷ lệ chi bồi thường cao và các khoản thu từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm chưa có dự đoán được mức chính xác trong ngắn hạn nên ngân quỹ của doanh nghiệp luôn có sự biến động.

Ngoài ra, do công tác đánh giá rủi ro của công tác bảo hiểm còn nhiều hạn chế nên doanh nghiệp chưa sử dụng một mô hình cụ thể nào để xác định mức ngân quỹ tối ưu mà việc xác định mức ngân quỹ hoàn toàn dựa trên những số liệu quá khứ và dự đoán. Định hướng danh mục đầu tư của PJICO trong những năm tới là duy trì tỷ trọng đầu tư vào những tài sản đầu tư có luồng thu nhập ổn định như tiền gửi, trái phiếu theo đúng tỷ trọng yêu cầu của Luật kinh doanh bảo hiểm, tăng dần tỷ trọng đầu tư vào các loại tài sản đầu tư khác với đặc tính là có luồng thu nhập không cố định, có mức độ rủi ro cao hơn nhưng được kỳ vọng sẽ đem lại mức lợi suất cao hơn Đây là những sản phẩm có tỷ trọng doanh thu cao trong tổng doanh thu.

Ngoài ra hoạt động tài chính cũng đem lại một nguồn doanh thu không nhỏ hàng năm cho công ty.

Bảng 2.8 Doanh thu hoạt động tài chính Đơn vị: Triệu đồng

1 Doanh thu từ đầu tư cổ phiếu, trái phiếu 20,776

2 Doanh thu từ cho vay 4,425

3 Doanh thu từ tiền gửi có kỳ hạn 106,45

3.1 Doanh thu từ tiền gửi ngắn hạn 21,2900

3.2 Doanh thu từ tiền gửi dài hạn 85,160

3 Doanh thu hoạt động tài chính khác 5,413

Nguồn: Phòng Kế toán tài chính PJICO 4

Có thể thấy danh mục đầu tư hoạt động tài chính của công ty khá đa dạng, tuy nhiên liên quan đến ngân quỹ, ta chỉ xem xét doanh thu hoạt động tài chính từ tiền gửi ngắn hạn, đây là khoản doanh thu có được trong quá trình sử dung ngân quỹ nhàn rỗi có hiệu quả Năm 2013, doanh thu từ tiền gửi ngắn hạn chiếm gần 20% doanh thu từ tiền gửi có kỳ hạn, điều này cho thấy đây là một khoản đầu tư tài chính quan trọng trong doanh thu hoạt động tài chính, nếu cải thiện được doanh thu từ tiền gửi ngắn hạn, công ty có khả năng tạo ra nguồn doanh thu lớn hơn với chi phí thấp.

So sánh qua các năm cho thấy một tỷ lệ lớn tiền bồi thường được chi ra để thanh toán trên tổng số tiền bảo hiểm, do đó doanh nghiệp cần có công tác đánh giá rủi ro trước khi nhận bảo hiểm Điều này chính là nguyên nhân dẫn đến việc Công ty luôn phải dự phòng một mức lớn ngân quỹ để bồi thường cho các hợp đồng bảo hiểm phát sinh.

Ngoài ra xem xét việc trích lập các quỹ dự phòng để có thể sử dụng các quỹ này trong trường hợp đây là nguồn tài trợ tức thời cho ngân quỹ trong ngắn hạn.

Bảng 2.9 Các quỹ dự phòng năm 2011, 2012, 2013 Đơn vị: Triệu đồng

Các quỹ dự phòng nghiệp vụ 1,260,049 1,064,916 973,277

Quỹ đầu tư phát triển 34,382 29482 24,305

Quỹ dự trữ bắt buộc 29,027 25,171 20,832

(Nguồn: Bảng cân đối kế toán công ty năm 2011-2013)

Nguồn kinh phí của công ty từ các quỹ là khá lớn Đặc biệt là quỹ dự phòng nghiệp vụ, đảm bảo mức theo quy định của pháp luật, tăng khả năng thanh toán cho công ty.

2.2.3 Xác định mức ngân quỹ tối ưu

Kết quả báo cáo ngân quỹ của công ty năm 2013:

Bảng 2.10 Ngân quỹ cuối kỳ các tháng năm 2013 Đơn vị: Triệu đồng

Tháng Tiền và tương đương tiền cuối kỳ

Nguồn: Phòng Kế toán tài chính PJICO

Hiện tại công ty chưa sử dụng một mô hình xác định mức ngân quỹ tối ưu cụ thể Theo bảng kết quả lưu chuyển tiền tệ trên, năm 2013, các tháng có lượng ngân quỹ khá chênh lệch, do đó nếu xác định được mức ngân quỹ tối ưu thì công ty có thể tận dụng thêm nguồn ngân quỹ này để tăng đầu tư ngắn hạn, nâng cao hiệu quả hoạt động ngân quỹ.

GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NGÂN QUỸ TẠI TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM PETROLIMEX

Ngày đăng: 25/02/2023, 23:45

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w