1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Luận văn một số giải pháp nhằm phát triển dịch vụ tài chính trong tập đoàn viễn thông quân đội – chi nhánh viettel phú thọ

116 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Luận văn một số giải pháp nhằm phát triển dịch vụ tài chính trong tập đoàn viễn thông quân đội – chi nhánh Viettel Phú Thọ
Tác giả Nguyễn Quang Hòa
Người hướng dẫn PGS.TS. Bùi Xuân Hồi
Trường học Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
Chuyên ngành Quản trị kinh doanh
Thể loại Luận văn cao học
Năm xuất bản 2013
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 1,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bảng số liệu 1 Bảng 1 Kết quả hoạt động kinh doanh của Viettel qua các năm 2 Bảng 2 Doanh số chuyển tiền qua dịch vụ Bankplus tại CN Viettel Phú Thọ qua các năm 3 Bảng 3 Các dịch vụ tà

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôi Các thông tin, số liệu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng, cụ thể Kết quả nghiên cứu trong luận văn là rõ ràng, khách quan

Tất cả các số liệu, bảng biểu trong luận văn là kết quả của quá trình thu thập tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau, phân tích và đánh giá trên cơ sở các kiến thức tôi đã tiếp thu được trong quá trình học tập, không phải là sản phẩm sao chép, trùng lặp với các đề tài nghiên cứu trước đây

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên, tôi xin chân thành cảm ơn các cô, các chú, các anh và các chị ở Chi nhánh Viettel Phú Thọ đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập thông tin cũng như các số liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu, tạo điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành luận văn này

Nhân đây tôi cũng xin chân thành cảm ơn đến Quý thầy, cô, những người đã tận tình truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt quá trình vừa qua

Những lời cảm ơn sau cùng tôi xin được gửi đến PGS.TS Bùi Xuân Hồi, người đã tận tình hướng dẫn và góp ý cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này

Hà nội, ngày 19 tháng 08 năm 2013

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN 1 

LỜI CẢM ƠN 2 

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT 8 

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ 9 

MỞ ĐẦU 11 

1 Tính cấp thiết của đề tài 11 

2 Mục đích nghiên cứu 12 

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12 

4 Phương pháp nghiên cứu 12 

5 Đóng góp của luận văn 12 

6 Kết cấu của đề tài 13 

CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ TÀI CHÍNH VÀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ TÀI CHÍNH TRONG CÁC TẬP ĐOÀN KINH TẾ 14 

I TỔNG QUAN VỀ TẬP ĐOÀN KINH TẾ 14 

1 Khái niệm và các hình thức chủ yếu của tập đoàn kinh tế 14 

1.1 Khái niệm về tập đoàn kinh tế 14 

1.2 Các hình thức chủ yếu của tập đoàn kinh tế 14 

2 Đặc điểm của tập đoàn kinh tế 16 

2.1 Về quy mô 16 

2.2 Về cơ cấu tổ chức 16 

2.3 Về lĩnh vực kinh doanh 16 

2.4 Về tư cách pháp nhân 17 

2.5 Về quản lý và điều hành 17 

II NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ TÀI CHÍNH 17 

1 Khái niệm về dịch vụ tài chính 17 

2 Đặc điểm của dịch vụ tài chính 18 

3 Các loại hình dịch vụ tài chính 19 

3.1 Dịch vụ ngân hàng 19 

3.2 Dịch vụ bảo hiểm và các dịch vụ liên quan đến bảo hiểm 20 

3.3 Dịch vụ chứng khoán 20 

4 Chủ thể cung cấp dịch vụ tài chính 22 

Trang 4

5 Chủ thể sử dụng dịch vụ tài chính 23 

6 Vai trò của dịch vụ tài chính trong nền kinh tế thị trường 23 

7 Sự khác biệt giữa dịch vụ tài chính do các tập đoàn kinh tế cung cấp và dịch vụ tài chính do các chủ thể khác cung cấp 25 

III CÁC VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ TÀI CHÍNH TRONG TẬP ĐOÀN KINH TẾ 25 

1 Sự cần thiết phải phát triển dịch vụ tài chính trong tập đoàn kinh tế 26 

1.1 Vai trò hỗ trợ các hoạt động kinh doanh của tập đoàn 26 

1.2 Vai trò nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của tập đoàn 27 

2 Chỉ tiêu đánh giá sự phát triển dịch vụ tài chính trong tập đoàn kinh tế 28 

2.1 Tính đa dạng của loại hình dịch vụ 28 

2.2 Số lượng khách hàng sử dụng dịch vụ 30 

2.3 Chất lượng dịch vụ 30 

2.4 Tỷ trọng thu từ dịch vụ tài chính trong tổng thu nhập của tập đoàn 31 

3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển dịch vụ tài chính trong tập đoàn kinh tế 32 

3.1 Các yếu tố thuộc môi trường bên ngoài 32 

3.1.1 Môi trường kinh tế 32 

3.1.2 Môi trường chính trị - xã hội 32 

3.1.3 Môi trường pháp lý 33 

3.1.5 Môi trường cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế 33 

3.1.6 Xu hướng phát triển khoa học công nghệ 34 

3.2 Các yếu tố thuộc môi trường nội bộ 35 

3.2.1 Tiềm lực tài chính của các chủ thể cung cấp dịch vụ 35 

3.2.2 Cơ sở vật chất, kỹ thuật, công nghệ 35 

3.2.3 Mô hình tổ chức, cơ chế quản lý và cung cấp dịch vụ 36 

3.2.4 Công tác Marketing của đơn vị cung cấp dịch vụ 36 

IV KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ TÀI CHÍNH TRONG CÁC TẬP ĐOÀN KINH TẾ TRÊN THẾ GIỚI 38 

1 Kinh nghiệm phát triển dịch vụ tài chính trong các tập đoàn kinh tế 38 

1.1 Tập đoàn Samsung 38 

1.2 Tập đoàn LG (Lucky Goldstar) 39 

1.3 Tập đoàn GE (General Electric Corporation) 40 

2 Bài học kinh nghiệm đối với việc phát triển dịch vụ tài chính trong các tập

Trang 5

đoàn kinh tế ở Việt Nam 40 

V PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ DỮ LIỆU PHỤC VỤ PHÂN TÍCH 42 

1 Phương pháp nghiên cứu 42 

2 Dữ liệu phục vụ phân tích 44 

Tóm tắt chương I 45 

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ TÀI CHÍNH TRONG

TẬP ĐOÀN VIỄN THÔNG QUÂN ĐỘI - CHI NHÁNH VIETTEL PHÚ THỌ 46  I KHÁI QUÁT VỀ TẬP ĐOÀN VIỄN THÔNG QUÂN ĐỘI 46 

1 Giới thiệu khái quát về Tập đoàn Viễn thông Quân đội 46 

1.1 Quá trình hình thành và phát triển 46 

1.2 Mô hình tổ chức, đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh 46 

1.2.1 Các đơn vị trực thuộc Tập đoàn 46 

1.2.3 Chặng đường phát triển 47 

1.2.4 Những thành tựu nổi bật 47 

2 Giới thiệu khái quát về Chi nhánh Viettel Phú Thọ 50 

2.1 Quá trình hình thành và phát triển 51 

2.2 Chức năng, nhiệm vụ và các lĩnh vực kinh doanh 51 

II THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DỊCH VỤ TÀI CHÍNH TRONG TẬP ĐOÀN VIỄN THÔNG QUÂN ĐỘI - CHI NHÁNH VIETTEL PHÚ THỌ 52 

1 Phân tích đánh giá thực trạng phát triển dịch vụ tài chính trong Chi nhánh Viettel Phú Thọ 52 

1.1 Thông tin chung về thị trường dịch vụ tài chính tại tỉnh Phú Thọ 52 

1.2 Đánh giá hiện trạng phát triển dịch vụ tài chính của Chi nhánh Viettel Phú Thọ qua các chỉ tiêu 55 

1.2.1 Tính đa dạng sản phẩm của dịch vụ 55 

1.2.2 Số lượng khách hàng sử dụng dịch vụ 68 

1.2.3 Chất lượng dịch vụ 70 

1.2.4 Tỷ trọng thu từ dịch vụ tài chính trong tổng thu nhập 71 

1.3 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển dịch vụ tài chính của Chi nhánh Viettel Phú Thọ 73 

1.3.1 Các yếu tố thuộc môi trường bên ngoài 73 

1.3.2 Các yếu tố thuộc môi trường nội bộ 76 

2 Tổng hợp các kết quả phân tích thực trạng phát triển dịch vụ tài chính trong Tập đoàn Viễn thông Quân đội - Chi nhánh Viettel Phú Thọ 78 

Trang 6

2.1 Những kết quả đạt được 78 

2.2 Tồn tại trong phát triển dịch vụ tài chính và nguyên nhân 79 

2.3 Các cơ hội phát triển dịch vụ tài chính cho Chi nhánh Viettel Phú Thọ 87 

Tóm tắt Chương II 89 

CHƯƠNG III MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ TÀI CHÍNH TRONG TẬP ĐOÀN VIỄN THÔNG QUÂN ĐỘI – CHI NHÁNH VIETTEL PHÚ THỌ 90 

I TÌNH HÌNH KINH TẾ XÃ HỘI VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI CỦA TỈNH PHÚ THỌ 90 

1 Tình hình kinh tế xã hội 06 tháng đầu năm 2012 90 

2 Định hướng phát triển kinh tế xã hội đến năm 2020 90 

II ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ TÀI CHÍNH CỦA TẬP ĐOÀN VIỄN THÔNG QUÂN ĐỘI ĐẾN NĂM 2015 91 

1 Định hướng phát triển kinh doanh 91 

2 Nhiệm vụ trọng tâm 91 

3 Phương châm hoạt động 92 

III MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ TÀI CHÍNH ĐẾN NĂM 2015 93 

1 Mục tiêu của Tập đoàn 93 

2 Mục tiêu của Chi nhánh Viettel Phú Thọ 94 

IV MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ TÀI CHÍNH TẠI TẬP ĐOÀN VIỄN THÔNG QUÂN ĐỘI - CN VIETTEL PHÚ THỌ 94 

1 Giải pháp 1: Đa dạng hoá các dịch vụ tài chính cung cấp trên thị trường theo hướng nâng cao chất lượng dịch vụ hiện có và phát triển các dịch vụ mới 94 

1.1 Mục tiêu của giải pháp 94 

1.2 Căn cứ đề xuất giải pháp 95 

1.3 Nội dung của giải pháp 95 

1.4 Dự toán chi phí 97 

1.5 Điều kiện để triển khai giải pháp 98 

1.6 Kết quả kỳ vọng 98 

2 Giải pháp 2: Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ nhân viên 98 

2.1 Mục tiêu của giải pháp 98 

2.2 Căn cứ dề xuất giải pháp 98 

2.3 Nội dung giải pháp 99 

2.4 Dự toán chi phí 100 

Trang 7

2.5 Điều kiện để triển khai giải pháp 101 

2.6 Kết quả kỳ vọng 101 

3 Giải pháp 3: Hiện đại hóa cơ sở hạ tầng kỹ thuật và công nghệ 101 

3.1 Mục tiêu của giải pháp 101 

3.2 Căn cứ đề xuất giải pháp 102 

3.3 Nội dung của giải pháp 102 

3.4 Dự toán chi phí 103 

3.5 Điều kiện để triển khai giải pháp 103 

3.6 Kết quả kỳ vọng 104 

V CÁC KIẾN NGHỊ 104 

1 Kiến nghị với Nhà nước 104 

2 Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước 104 

3 Kiến nghị với Bộ Thông tin và Truyền Thông 105 

Tóm tắt Chương III 106 

KẾT LUẬN 106 

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 108   

Trang 8

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Từ viết tắt Tiếng Việt Tiếng Anh

AGRIBANK Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển

nông thôn Việt Nam

Machine

BIDV Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển

Việt Nam

LienVietPostBank Ngân hàng Bưu điện Liên Việt

MB Ngân hàng TMCP Quân đội Military Join Stock

Bank

TTCNTT Trung tâm Công nghệ thông tin

VCB Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt

Nam

VIETINBANK Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam

VTQĐ Viễn thông Quân đội

VTT Tổng công ty Viễn thông Viettel Vietteltelecom

Organization

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG - BIỂU ĐỒ

1 Bảng số liệu

1 Bảng 1 Kết quả hoạt động kinh doanh của Viettel qua các năm

2 Bảng 2 Doanh số chuyển tiền qua dịch vụ Bankplus tại CN Viettel Phú

Thọ qua các năm

3 Bảng 3 Các dịch vụ tài chính do các ngân hàng và CN Viettel Phú Thọ

cung cấp

4 Bảng 4 Số lượng thuê bao Bankplus tăng trưởng của CN Viettel Phú Thọ

qua các năm trong năm 2012

5 Bảng 5 Số lượng thuê bao Bankplus phát triển mới năm 2012

6 Bảng 6 Số lượng thuê bao Bankplus phát triển mới năm 2013

7 Bảng 7 So sánh tốc độ tăng trưởng số lượng thuê bao Bankplus 03 quý

đầu năm 2012 và 2013 tại CN Viettel Phú Thọ

8 Bảng 8 Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của MIC qua các năm

09 Bảng 09 Doanh thu theo các sản phẩm của MIC - CN khu vực Tây Bắc

năm 2012

10 Bảng 10 Số lượng thuê bao sử dụng DV Bankplus của Viettel tại từng

ngân hàng liên kết tính đến tháng 04/2013

11 Bảng 11 Kết quả phát triển mới thuê bao sử dụng DV Bankplus của CN

Viettel Phú Thọ theo các ngân hàng liên kết năm 2012

12 Bảng 12 Kết quả kinh doanh của CN Viettel Phú Thọ qua các năm

13 Bảng 13 Tỷ trọng doanh thu từ dịch vụ tài chính trên tổng doanh thu các

dịch vụ

14 Bảng 14 Số liệu hạ tầng mạng lưới Viettel

15 Bảng 15 Hệ thống kênh phân phối tại CN Viettel Phú Thọ qua các năm

Trang 10

2 Biểu đồ

16 Biểu đồ 1 Số liệu kinh doanh qua các năm của Viettel

17 Biểu đồ 2 Doanh số chuyển tiền qua dịch vụ Bankplus tại CN Viettel Phú

Thọ qua các năm

18 Biểu đồ 3: Tăng trưởng số lượng thuê bảo Bankplus năm 2012 tại CN

Viettel Phú Thọ

19 Biểu đồ 4 Số lượng thuê bao Bankplus phát triển mới năm 2012

20 Biểu đồ 5 Số lượng thuê bao Bankplus phát triển mới năm 2013

21 Biểu đồ 6 So sánh tốc độ tăng trưởng số lượng thuê bao Bankplus 03 quý

đầu năm 2012 và 2013 tại CN Viettel Phú Thọ

22 Biểu đồ 7 Sự tăng trưởng số lượng thuê bao sử dụng DV Bankplus của CN

Viettel Phú Thọ theo từng ngân hàng liên kết năm 2012

23 Biểu đồ 8 Tỷ trọng doanh thu dịch vụ di động trên tổng doanh thu các dịch

vụ tại CN Viettel Phú Thọ năm 2012

24 Biểu đồ 9 Tỷ trọng doanh thu dịch vụ tài chính trên tổng doanh thu các dịch

vụ

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thực hiện chủ chương đổi mới doanh nghiệp của Chính phủ, Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel) đã được thành lập dưới mô hình Tổng công ty nhà nước theo quyết định 2079/QĐ-TTg ngày 14/12/2009 của Thủ tướng chính phủ Để tăng cường tiềm lực kinh tế, nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường Tập đoàn Viễn thông Quân đội đã thành lập một số định chế tài chính như công ty cổ phần tài chính Viettel – Vinaconex, Trung tâm kinh doanh toàn cầu, hoạt động trong các lĩnh vực kinh doanh dịch vụ tài chính giúp tập đoàn tìm kiếm, khơi thông nguồn vốn trong nước, quản lý tối ưu các nguồn vốn, hạn chế thất thoát vốn, mở ra một triển vọng mới cho Viettel

Hiện tại việc phát triển dịch vụ tài chính là một yêu cầu khách quan trong quá trình phát triển của Viettel giai đoạn 2013-2015, Viettel có phát triển được mạnh hay không phụ thuộc vào tình hình tài chính, năng lực tài chính của Tập đoàn nói chung và của các chi nhánh cấp tỉnh, thành phố nói riêng Dịch vụ tài chính không chỉ mang lại nhiều lợi ích to lớn mà xét về dài hạn còn mang tính bền vững như các dịch vụ viễn thông thông thường, trừ khi có sự thay đổi mang tính cách mạng từ những yếu tố khác như: khoa học công nghệ, chính trị…

Dịch vụ tài chính hiện tại trong Tập đoàn Viễn thông Quân đội nói chung và Chi nhánh Viettel Phú Thọ nói riêng còn rất ít về cả chiều rộng và chiều sâu, tính đa dạng của sản phẩm, doanh thu mang lại còn rất khiêm tốn, dịch vụ cung cấp còn nghèo nàn chưa thực sự phát triển bằng các dịch vụ khác

Mặt khác, kinh doanh dịch vụ tài chính đã và đang đóng vai trò là một lĩnh vực kinh doanh quan trọng nhằm đa dạng hóa các hoạt động kinh doanh của Viettel,

là vấn đề thời sự quan trọng mang tính chiến lược lâu dài được các cấp, lãnh đạo của Tập đoàn rất quan tâm

Xuất phát từ thực trạng trên, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Một số giải pháp nhằm phát triển dịch vụ tài chính trong Tập đoàn Viễn thông Quân đội - Chi nhánh Viettel Phú Thọ” để nghiên cứu

Trang 12

2 Mục đích nghiên cứu

Trọng tâm nghiên cứu của đề tài như sau:

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về tập đoàn kinh tế, về dịch vụ tài chính, từ đó nghiên cứu sâu các vấn đề phát triển các loại hình dịch vụ tài chính trong tập đoàn kinh tế nói chung, vai trò của nó trong nền kinh tế thị trường, các chỉ tiêu đánh giá sự phát triển dịch vụ tài chính trong tập đoàn kinh tế

- Đi sâu phân tích thực trạng phát triển dịch vụ tài chính tại Tập đoàn Viễn thông Quân đội nói chung và Chi nhánh Viettel Phú Thọ nói riêng, đánh giá các kết quả đạt được cũng như những tồn tại và nguyên nhân, phân tích cơ hội phát triển của Viettel Phú Thọ

- Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất những giải pháp nhằm phát triển các dịch vụ tài chính trong Tập đoàn Viễn thông Quân đội - Chi nhánh Viettel Phú Thọ

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Dịch vụ tài chính và sự phát triển của dịch vụ tài chính trong Tập đoàn Viễn thông Quân đội - Chi nhánh Viettel Phú Thọ

- Phạm vi nghiên cứu: Tập đoàn Viễn thông Quân đội - Chi nhánh Viettel Phú Thọ kể từ khi thành lập Chi nhánh đến nay

4 Phương pháp nghiên cứu

- Luận văn sử dụng phương pháp hệ thống hoá, phân tích thống kê, so sánh, tổng hợp, nhằm làm nổi bật vấn đề nghiên cứu, từ đó đề xuất những giải pháp phù hợp

5 Đóng góp của luận văn

- Đúc kết những kinh nghiệm về ứng dụng dich vụ tài chính trong các tập đoàn lớn trên thế giới đối với các tập đoàn kinh tế Việt Nam, cũng như những kinh nghiệm về phân tích, đánh giá thực trạng dịch vụ tài chính trong Tập đoàn Viễn thông Quân đội, giúp cho Tập đoàn, Chi nhánh có thể nhận biết những nhu cầu của khách hàng để phát triển các loại hình dịch vụ tài chính nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu của khách hàng

- Trên cơ sở khảo sát và phân tích thực trạng hoạt động của các dịch vụ tài chính ở Tập đoàn VTQĐ, luận văn đã phát hiện ra được những bất cập lớn nhất đang hạn chế sự phát triển dịch vụ tài chính trong Tập đoàn, Chi nhánh hiện nay và

Trang 13

tập trung đề xuất chi tiết một số giải pháp góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ tài chính cho Viettel nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của Tập đoàn, Chi nhánh góp phần ổn định và phát triển nền kinh tế

6 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung chính bao gồm 3 chương:

Chương I: Những cơ sở lý luận về dịch vụ tài chính và phát triển dịch vụ tài chính trong các tập đoàn kinh tế

Chương II: Thực trạng phát triển dịch vụ tài chính trong Tập đoàn Viễn thông Quân đội - Chi nhánh Viettel Phú Thọ

Chương III: Giải pháp phát triển dịch vụ tài chính trong Tập đoàn Viễn thông Quân đội - Chi nhánh Viettel Phú Thọ

Trang 14

CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ TÀI CHÍNH VÀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ TÀI CHÍNH TRONG CÁC TẬP ĐOÀN

KINH TẾ

I TỔNG QUAN VỀ TẬP ĐOÀN KINH TẾ

1 Khái niệm và các hình thức chủ yếu của tập đoàn kinh tế

1.1 Khái niệm về tập đoàn kinh tế

Hiện nay chưa có khái niệm thống nhất về tập đoàn kinh tế Tuỳ theo mục đích nghiên cứu và cách tiếp cận khác nhau, các nhà nghiên cứu đã đưa ra những khái niệm khác nhau về tập đoàn kinh tế

Mỗi quan niệm đều phản ánh cách nhìn nhận và tiếp cận khác nhau của các nhà nghiên cứu về đặc điểm của tập đoàn Trong quá trình nghiên cứu luận văn này, tác giả xin phép được đưa ra một khái niệm về tập đoàn kinh tế, khái niệm này phản ánh đầy đủ đặc điểm chung nhất về một tập đoàn kinh tế như sau:

“Tập đoàn kinh tế là tổ chức kinh tế có quy mô lớn, có cơ cấu sở hữu, tổ chức và kinh doanh đa dạng, nó vừa có chức năng sản xuất kinh doanh vừa có chức năng liên kết kinh tế giữa các doanh nghiệp thành viên có tư cách pháp nhân dựa trên nền tảng sự liên kết về mặt tài chính, lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và chiến lược kinh doanh nhằm tăng cường, tích tụ, tập trung, tăng khả năng cạnh tranh và tối đa hoá lợi nhuận”

1.2 Các hình thức chủ yếu của tập đoàn kinh tế

1.2.1 Căn cứ vào các hình thức liên kết và hình thức tổ chức của tập đoàn

Có ba hình thức chủ yếu sau:

- Hình thức thứ nhất: Quan hệ liên kết giữa các thành viên tương đối lỏng lẻo

thông qua các thoả thuận hoặc các cam kết hợp tác

- Hình thức thứ hai: Mối liên kết giữa các doanh nghiệp thành viên rất chặt

chẽ, mức độ phụ thuộc lẫn nhau rất cao, các đơn vị thành viên bị hạn chế tính độc lập

- Hình thức thứ ba: Tập đoàn có hạt nhân liên kết là công ty tài chính

Trang 15

1.2.2 Căn cứ vào hình thức biểu hiện và tên gọi trong thực tiễn

Khi nói đến “Tập đoàn kinh tế” người ta thường sử dụng các từ:

“Consortium”, “Conglomerate”, “Cartel”, “Trust”, “Alliance”, “Syndicate” hay

Hai là: Nghiệp đoàn - Syndicate

Đây là một dạng đặc biệt của Cartel Các doanh nghiệp thành viên của Syndicate vẫn giữ nguyên tính độc lập về sản xuất nhưng mất tính độc lập về thương mại vì trong Syndicate có một văn phòng thương mại được thành lập do một ban quản trị chung điều hành và tất cả các doanh nghiệp thành viên phải tiêu thụ hàng hoá của họ qua kênh của văn phòng này

Ba là: Xí nghiệp liên hợp - Trust

Là một trong những hình thức liên minh độc quyền của các tổ chức sản xuất kinh doanh Loại hình tập đoàn này tập hợp trong nó một loạt doanh nghiệp công nghiệp và do một ban quản trị thống nhất điều khiển, vì vậy các doanh nghiệp này

bị mất quyền độc lập về sản xuất và thương mại, các nhà tư bản tham gia Trust trở thành cổ đông Mục tiêu của việc thành lập các tập đoàn loại này nhằm thu lợi nhuận độc quyền cao, chiếm nguồn nguyên liệu và khu vực đầu tư

Bốn là: Tập đoàn - Consortium

Đây là một trong những hình thức của các tổ chức độc quyền ngân hàng nhằm mục đích chia nhau mua trái khoán trong và ngoài nước hoặc tiến hành công việc buôn bán

Năm là: Hãng buôn - Concern

Nó không có tư cách pháp nhân, các doanh nghiệp thành viên vẫn giữ nguyên tính độc lập về mặt pháp lý nhưng giữa chúng có mối quan hệ với nhau dựa

Trang 16

trên cơ sở những thoả thuận về lợi ích chung đó là phát minh sáng chế, nghiên cứu khoa học công nghệ, hợp tác sản xuất kinh doanh chặt chẽ, có hệ thống tài chính chung

Sáu là: Đại xí nghiệp liên hiệp - Conglomerate

Đây là một tập đoàn đa ngành, đa lĩnh vực, các doanh nghiệp thành viên ít có mối quan hệ công nghệ sản xuất gần gũi, thậm chí không có mối quan hệ nào về mặt công nghệ sản xuất, chủ yếu ở đây là mối quan hệ về mặt hành chính và tài chính

Bảy là: Các tập đoàn kinh tế xuyên quốc gia

Đó là sản phẩm của sự liên minh giữa các nhà tư bản có thế lực nhất, có quy

mô mang tầm cỡ quốc tế, có hệ thống chi nhánh dày đặc ở nước ngoài hoạt động với mục đích nâng cao tỷ suất lợi nhuận thông qua việc bành trướng quốc tế

2 Đặc điểm của tập đoàn kinh tế

2.1 Về quy mô

Tập đoàn kinh tế có quy mô rất lớn về vốn, lao động, doanh thu và thị trường Nhiều tập đoàn có chi nhánh văn phòng đại diện ở khắp các quốc gia trên thế giới, phạm vi hoạt động của tập đoàn không chỉ tính phạm vi lãnh thổ một quốc gia mà ở nhiều nước hoặc phạm vi toàn cầu

Trang 17

2.4 Về tư cách pháp nhân

Các tập đoàn kinh tế có tính đa dạng về tư cách pháp nhân Tập đoàn kinh tế

có thể là pháp nhân kinh tế do Nhà nước thành lập gồm nhiều doanh nghiệp thành viên có quan hệ với nhau về sản xuất, kinh doanh, tài chính trên quy mô lớn Bên cạnh đó, có những tập đoàn không phải là một pháp nhân kinh tế mà mỗi đơn vị thành viên là các pháp nhân độc lập Như vậy, tuỳ theo cách thức thành lập mà tập đoàn có thể có tư cách pháp nhân hoặc không

2.5 Về quản lý và điều hành

Về mặt quản lý điều hành, Tập đoàn tiến hành hoạt động và quản lý tập trung vào một số mặt như: Điều hoà, huy động vốn, quản lý vốn, xây dựng chiến lược phát triển, chiến lược thị trường, chiến lược sản phẩm, chiến lược đầu tư, đào tạo nhân sự… cho tập đoàn Các chiến lược này được soạn thảo từ cơ quan đầu não của tập đoàn và thực hiện thống nhất trong các công ty thành viên Việc thực hiện chiến lược chung tổng quát vừa tạo ra sự năng động, linh hoạt của các công ty thành viên trong việc lựa chọn chiến lược phát triển riêng cho mình và tự chủ trong sản xuất kinh doanh vừa tạo ra sức mạnh tập trung

II NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ TÀI CHÍNH

1 Khái niệm về dịch vụ tài chính

Theo Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), “Dịch vụ tài chính là bất kỳ dịch

vụ nào có tính chất tài chính, được một nhà cung cấp dịch vụ tài chính cung cấp Dịch vụ tài chính bao gồm mọi dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ liên quan tới bảo hiểm, mọi dịch vụ ngân hàng và dịch vụ tài chính khác” (Nguồn: Wikipedia)

Theo Phụ lục về dịch vụ tài chính của Hiệp định về Thương mại dịch vụ (GATS) của WTO, người cung cấp dịch vụ tài chính là pháp nhân hoặc thể nhân của một thành viên muốn cung cấp hoặc đang cung cấp những dịch vụ tài chính nhưng thuật ngữ ’’người cung cấp dịch vụ tài chính’’ không bao gồm pháp nhân công cộng là:

(i) chính phủ, ngân hàng trung ương hoặc một tổ chức tài chính của một thành viên, hoặc một thực thể do một Thành viên sở hữu hoặc kiểm soát, chủ yếu tiến hành chức năng chính phủ hoặc các hoạt động vì mục đích của chính phủ, không bao gồm pháp nhân chủ yếu cung cấp những dịch vụ tài chính trên cơ sở những điều kiện

Trang 18

thương mại; hoặc

(ii) một pháp nhân tư nhân, thực hiện các chức năng mà thông thường vẫn do một Ngân hàng trung ương hoặc tổ chức tiền tệ, khi thực hiện các chức năng này Trong nền kinh tế thị trường, các nguồn tài chính vận động từ những người cung cấp tài chính đến những người có nhu cầu tài chính bằng con đường trực tiếp, hoặc con đường gián tiếp qua các trung gian tài chính hoặc trung gian môi giới

2 Đặc điểm của dịch vụ tài chính

Nhìn chung, dịch vụ tài chính có những đặc điểm sau:

- Tính vô hình: Là đặc điểm chính để phân biệt sản phẩm dịch vụ tài chính

với các sản phẩm của các ngành sản xuất vật chất khác trong nền kinh tế quốc dân Sản phẩm dịch vụ tài chính thường được thực hiện theo một quy trình, khách hàng

sử dụng dịch vụ tài chính thường gặp khó khăn trong việc ra quyết định lựa chọn,

sử dụng sản phẩm do chất lượng sản phẩm chỉ có thể được đánh giá trong và sau khi

sử dụng, thậm chí việc đánh giá chất lượng sản phẩm dịch vụ tài chính trở nên khó khăn ngay cả khi khách hàng đang sử dụng chúng

Từ đặc tính vô hình của sản phẩm nên trong kinh doanh phải dựa vào lòng tin Các nhà cung cấp dịch vụ thường chú ý tới việc củng cố niềm tin đối với khách hàng bằng cách nâng cao chất lượng dịch vụ, nâng cao hình ảnh, uy tín, tạo điều kiện để khách hàng tham gia vào hoạt động tuyên truyền cho tổ chức cung cấp dịch

vụ tài chính

- Tính không thể tách biệt hay không chia cắt: Quá trình cung cấp dịch vụ tài

chính và quá trình tiêu dùng dịch vụ xảy ra đồng thời và có sự tham gia của khách hàng Mặt khác, quá trình cung ứng dịch vụ này được tiến hành theo những quy trình nhất định Ví dụ: Dịch vụ cho vay bao gồm cả một quá trình từ khâu thẩm định, xét duyệt hồ sơ, ký kết hợp đồng tín dụng, giải ngân và thu nợ (gốc và lãi) Như vậy sản phẩm dịch vụ tài chính không có sản phẩm dở dang, dự trữ lưu kho mà được cung ứng trực tiếp cho người sử dụng khi và chỉ khi khách hàng có nhu cầu Đặc tính này sẽ chi phối giá (lãi, phí) của dịch vụ tài chính cung cấp sao cho người

sử dụng dịch vụ tồn tại và phát triển, tổ chức cung ứng dịch vụ cũng tồn tại và phát triển bền vững

- Tính không ổn định và khó xác định: Một sản phẩm dịch vụ tài chính dù lớn

hay bé (xét về quy mô) đều không đồng nhất thời gian thực hiện, điều kiện thực hiện và vì vậy rất khó xác định Ví dụ: Một sản phẩm dịch vụ tài chính được cấu

Trang 19

thành bởi nhiều yếu tố như công nghệ, trình độ cán bộ, khách hàng Những yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng dịch vụ nhưng lại thường xuyên biến động,

do đó không ổn định, khó xác định chính xác

(Nguồn: Theo Phụ lục về dịch vụ tài chính của Hiệp định về Thương mại dịch vụ (GATS) của WTO và luận án TS kinh tế của TS: Vũ Thị Xuân Hương - Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh)

3 Các loại hình dịch vụ tài chính

Theo Phụ lục về dịch vụ tài chính của Hiệp định về Thương mại dịch vụ (GATS) của WTO, dịch vụ tài chính được chia thành các loại sau:

3.1 Dịch vụ ngân hàng

- Dịch vụ tiết kiệm tiền gửi: Bao gồm tài khoản tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi

tiết kiệm dưới hình thức phát hành các giấy tờ có giá như: Kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi

- Dịch vụ cho vay:

+ Cho vay bằng tiền dưới các hình thức: Cho vay từng lần, cho vay theo hạn mức tín dụng, cho vay ký quỹ, thấu chi, đồng tài trợ, chiết khấu giấy tờ có giá

+ Cho thuê tài chính: Là hình thức tài trợ trung và dài hạn thông qua việc cho thuê máy móc thiết bị, phương tiện vận chuyển và các bất động sản khác trên cơ sở hợp đồng cho thuê giữa bên cho thuê và bên thuê Bên cho thuê cam kết mua máy móc thiết bị… theo yêu cầu của bên thuê và nắm giữ quyền sở hữu đối với tài sản cho thuê, bên đi thuê sử dụng tài sản thuê và thanh toán tiền thuê theo thoả thuận

- Dịch vụ thanh toán: Thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt, chuyển

tiền, thẻ tín dụng Dịch vụ thanh toán bao gồm: Dịch vụ thanh toán trong nước và dịch vụ thanh toán quốc tế

- Môi giới và đầu tư: Môi giới và đầu tư chứng khoán

- Dịch vụ kinh doanh ngoại tệ: Thực hiện thông qua các nghiệp vụ trao ngay,

kỳ hạn, hoán đổi, quyền chọn và nghiệp vụ tương lai

- Dịch vụ tư vấn tài chính: Dịch vụ tư vấn quản lý tài chính doanh nghiệp

đang được các ngân hàng cung cấp có một vị trí rất quan trọng, nó giúp các nhà

Trang 20

quản lý trong việc điều hành và quản trị doanh nghiệp Hoạt động tư vấn của ngân hàng có thể tập trung vào các lĩnh vực sau: Về xây dựng một dự án khả thi, quy trình thẩm định dự án đầu tư; Về thị trường tiêu thụ sản phẩm; Về môi trường đầu tư; Tư vấn quản lý rủi ro hối đoái…

Ngoài ra còn có các dịch vụ giao dịch trên thị trường ngoại hối, thị trường tiền tệ

3.2 Dịch vụ bảo hiểm và các dịch vụ liên quan đến bảo hiểm

- Bảo hiểm là một loại hình dịch vụ tài chính Người cung cấp dịch vụ này

cam kết thực hiện trách nhiệm tài chính - chi trả tiền bảo hiểm khi sự kiện bảo hiểm xảy ra

+ Giá cả của dịch vụ bảo hiểm là phí bảo hiểm mà người mua bảo hiểm trả cho doanh nghiệp bảo hiểm về dịch vụ mà mình lựa chọn

+ Lợi ích của dịch vụ bảo hiểm là sự cam kết và thực hiện cam kết trả tiền bảo hiểm - tiền bồi thường mà doanh nghiệp trả cho bên mua bảo hiểm theo những điều khoản quy tắc bảo hiểm đã được quy định thống nhất giữa hai bên + Lợi ích của dịch vụ bảo hiểm thể hiện ở việc tiền bảo hiểm được chi trả cho bên mua bảo hiểm nên nó được xếp là một loại dịch vụ tài chính

- Dịch vụ bảo hiểm bao gồm: Các loại dịch vụ bảo hiểm trực tiếp về tài sản,

trách nhiệm dân sự và con người Các dịch vụ phụ trợ liên quan đến bảo hiểm như dịch vụ tư vấn, dịch vụ đánh giá rủi ro, khiếu nại, đại lý bảo hiểm…

3.3 Dịch vụ chứng khoán

Trên thị trường chứng khoán, công ty chứng khoán (CTCK) cung cấp các dịch vụ sau: Dịch vụ môi giới chứng khoán; Dịch vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán; Dịch vụ quản lý danh mục đầu tư chứng khoán; Dịch vụ lưu ký chứng khoán; Dịch vụ cho vay, ký quỹ…

- Môi giới chứng khoán: Là hoạt động trung gian trong đó có một CTCK đại

diện mua, bán chứng khoán cho khách hàng để hưởng hoa hồng Hoạt động này bao gồm việc ra lệnh giao dịch và thanh toán các giao dịch Khi thực hiện vai trò của người môi giới, CTCK phải đảm bảo thực hiện lệnh của khách hàng một cách nhanh chóng, khách quan và được ưu tiên trước các lệnh khác của công ty

Trang 21

- Dịch vụ bảo lãnh phát hành: Bảo lãnh phát hành là việc một hay một nhóm

ngân hàng, tổ chức tài chính và các CTCK thực hiện các thủ tục trước khi chào bán chứng khoán và nhận bao tiêu chứng khoán cho các tổ chức phát hành Tuỳ theo mỗi hình thức bảo lãnh mà trách nhiệm và lợi ích mà tổ chức bảo lãnh được hưởng

sẽ khác nhau

- Đại lý phát hành: Là nghiệp vụ phát hành chứng khoán được thực hiện

thông qua các tổ chức đại lý hưởng hoa hồng như: Các CTCK, công ty tài chính, các ngân hàng thương mại (NHTM) Trường hợp không bán hết chứng khoán, tổ chức đại lý được trả số chứng khoán còn lại cho tổ chức phát hành

- Dịch vụ quản lý danh mục đầu tư: Quản lý danh mục đầu tư là việc quản lý

vốn của khách hàng thông qua việc mua bán và nắm giữ các chứng khoán, vì quyền lợi của khách hàng lựa chọn nên danh mục đầu tư nhằm phân tán, hạn chế rủi ro đến mức thấp nhất và gia tăng lợi nhuận ở mức tối đa

- Dịch vụ tư vấn: Dịch vụ tư vấn được các CTCK thực hiện dưới nhiều hình

thức như tư vấn phát hành, tư vấn niêm yết, tư vấn tài chính, tư vấn cổ phần hoá và

tư vấn đầu tư chứng khoán Dịch vụ này nhằm hướng tới các đối tượng là các công ty

cổ phần có nhu cầu phát hành, niêm yết… và các nhà đầu tư chứng khoán Để thực hiện được dịch vụ tư vấn đòi hỏi người tư vấn phải có trình độ cao hơn người được tư vấn, có cái nhìn sâu và rộng về lĩnh vực tư vấn mới có thể đưa ra những luận điểm thuyết phục Hơn nữa, tính chuyên nghiệp phải thể hiện cả ở phong cách giao tiếp với khách hàng làm sao để đạt được sự tín nhiệm và tin cậy cao đối với họ

- Tư vấn phát hành chứng khoán: Mục đích của tư vấn phát hành chứng

khoán là giúp đỡ cho tổ chức phát hành lựa chọn công cụ và phương thức phát hành chứng khoán có lợi nhất, tư vấn và hỗ trợ doanh nghiệp trong việc hoàn tất thủ tục phát hành theo quy định của cơ quan quản lý thị trường Có thể nói rằng, tư vấn phát hành là giai đoạn khởi đầu của hoạt động bảo lãnh phát hành

- Tư vấn niêm yết chứng khoán: Khi thực hiện dịch vụ này, yêu cầu đặt ra đối

với các CTCK là làm như thế nào để các doanh nghiệp thấy được lợi ích khi tham gia niêm yết chứng khoán để họ chủ động và tích cực tham gia thị trường Chiến lược của các CTCK là: chấp nhận tư vấn với mức phí thấp nhất để thu hút khách hàng, đặc biệt là khách hàng lớn, tạo điều kiện lôi kéo thêm khách hàng mới và có thể thu phí từ những dịch vụ khác phát sinh trong tương lai của các đơn vị niêm yết, như: Phát hành cổ phiếu mới, cơ cấu lại tài chính doanh nghiệp…

Trang 22

- Tư vấn đầu tư chứng khoán: Bao gồm các hoạt động tư vấn đầu tư chứng

khoán trực tiếp cho nhà đầu tư trên cơ sở phân tích và đưa ra những khuyến nghị liên quan đến mua bán chứng khoán; Hoạt động phát hành các báo cáo phân tích, đánh giá về môi trường kinh tế vĩ mô, về các ngành và về từng loại chứng khoán

Tư vấn đầu tư bao gồm tư vấn mua bán chứng khoán, tạo dựng danh mục đầu tư và quản trị điều hành tài sản đầu tư

- Tự doanh: Là một loại hình kinh doanh dịch vụ trong đó CTCK mua bán

chứng khoán bằng vốn của mình Do vậy, công ty phải gánh chịu mọi rủi ro có thể xảy ra Điều này khác với nghiệp vụ môi giới, rủi ro liên quan đến mua bán chứng khoán do nhà đầu tư gánh chịu Đồng thời thông qua nghiệp vụ tự doanh trong chừng mực nào đó, CTCK còn là người góp phần tạo nên thị trường, bình ổn giá cả khi giá chứng khoán biến động mạnh

4 Chủ thể cung cấp dịch vụ tài chính

Tham gia cung cấp dịch vụ tài chính gồm có các chủ thể sau:

- Các chủ thể nhận tiền gửi: Dịch vụ tài chính cơ bản mà các trung gian tài

chính cung cấp là dịch vụ ngân hàng và các dịch vụ liên quan đến ngân hàng, trong

đó quan trọng nhất là dịch vụ nhận tiền gửi và cho vay Các tổ chức nhận tiền gửi bao gồm: Ngân hàng thương mại; Ngân hàng đầu tư và phát triển; Ngân hàng chính sách xã hội; Ngân hàng tiết kiệm; Hiệp hội tín dụng Các công ty bảo hiểm, tái bảo hiểm và các quỹ trợ cấp các dịch vụ bảo hiểm và các dịch vụ liên quan đến bảo hiểm là các tổ chức tiết kiệm theo hợp đồng nhằm mục đích chia sẻ rủi ro trong nền kinh tế

- Các trung gian đầu tư: Các trung gian đầu tư này gồm: Quỹ đầu tư (quỹ

đầu tư chứng khoán, quỹ đầu tư thị trường), công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính Hoạt động chủ yếu của các tổ chức này là phát hành các công cụ tài chính như: Cổ phiếu, trái phiếu, tín phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư…, sau đó đầu tư trở lại nền kinh tế thông qua thị trường chứng khoán, thị trường tín dụng

- Các nhà môi giới và tổ chức nghề nghiệp: Các chủ thể cung cấp dịch vụ

này gồm: Công ty chứng khoán, công ty kiểm toán, công ty tư vấn tài chính… Các nhà môi giới và các tổ chức nghề nghiệp cũng tham gia vào việc cung cấp dịch vụ tài chính nhằm thúc đẩy quá trình luân chuyển các nguồn tài chính trong nền kinh tế nhằm nâng cao hiệu quả của công tác kiểm tra, kiểm soát, đảm bảo tính an toàn, công bằng và minh bạch trong các hoạt động chuyển giao vốn của nền kinh tế

Trang 23

Như vậy có thể thấy được rằng các tập đoàn kinh tế có công ty tư vấn tài chính, công ty cho thuê tài chính và công ty tài chính riêng biệt nó nằm trong chủ thể thứ hai và cũng nằm trong chủ thể thứ ba có khả năng cung cấp dịch vụ tài chính, mặc dù dịch vụ tài chính không phải là thế mạnh, là dịch vụ kinh doanh chính của các tập đoàn kinh tế đa ngành, đa lĩnh vực, nhưng cũng là một lĩnh vực hoạt động quan trọng của các tập đoàn kinh tế

5 Chủ thể sử dụng dịch vụ tài chính

Các chủ thể cầu dịch vụ tài chính rất đa dạng, bao gồm: Chính phủ, doanh nghiệp và dân cư Chính phủ tham gia vào thị trường dịch vụ tài chính trong trường hợp cần huy động các nguồn tài chính phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của đất nước Ví dụ: Chính phủ phát hành trái phiếu Chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương Các doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế xã hội là khách hàng quan trọng nhất trong việc tiếp cận dịch vụ tài chính trên cả hai phương diện cung và cầu

về các nguồn tài chính Một mặt, họ tham gia vào các dịch vụ gửi tiền, tham gia bảo hiểm, đầu tư chứng khoán, mặt khác, họ tiếp cận một cách có hiệu quả các tiện ích

từ các dịch vụ tín dụng như: Vay vốn để sản xuất kinh doanh, đi thuê tài sản, vay tiêu dùng…

6 Vai trò của dịch vụ tài chính trong nền kinh tế thị trường

- Phân tán và giảm thiểu rủi ro: Rủi ro trong thực tiễn tồn tại dưới nhiều

dạng: Rủi ro kinh doanh, rủi ro tài chính… Bằng việc định giá các rủi ro trong việc cung cấp các dịch vụ tài chính, các tổ chức tài chính đã tạo ra cơ chế tập hợp, giảm thiểu và chuyển giao rủi ro Chẳng hạn, với việc tạo ra các công cụ tài chính hấp dẫn như tiền gửi không kỳ hạn, các hợp đồng lựa chọn (options), hợp đồng tương lai (future), các tổ chức trung gian tài chính có thể giúp cho các cá nhân quản lý rủi

ro có hiệu quả, qua đó thúc đẩy mối quan hệ tương tác giữa người tiết kiệm và người đầu tư Có thể nói, quốc gia nào có hệ thống cung cấp dịch vụ tài chính phát triển sẽ giảm thiểu đựơc rủi ro thanh khoản, khuyến khích phân bổ nguồn lực có hiệu quả

- Thúc đẩy nâng cao tiết kiệm, tập trung vào đầu tư vốn: Thông qua hàng

loạt các dịch vụ tài chính đa dạng với rất nhiều các sản phẩm dịch vụ tài chính, mọi nguồn tài chính tạm thời nhàn rỗi đều được đưa vào tiết kiệm dưới các hình thức khác nhau như đầu tư cổ phiếu, trái phiếu, gửi tiết kiệm… Sự phát triển các loại dịch vụ tài chính đã góp phần thúc đẩy hoạt động tiết kiệm dưới mọi hình thức của

Trang 24

các tầng lớp dân cư, các tổ chức kinh tế - xã hội, đồng thời các nguồn vốn nhỏ lẻ trong nền kinh tế được tích tụ, tập trung thành các quỹ tài chính lớn phục vụ nhu cầu đầu tư lớn, dài hạn trong nền kinh tế

Mặt khác, sự phát triển của các dịch vụ tài chính trên thị trường tài chính đã tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ doanh nghiệp dễ dàng và nhanh chóng tìm được nguồn tài chính với chi phí và chất lượng phù hợp nhu cầu đầu tư sản xuất kinh doanh của mình Ngoài nguồn vốn của chủ sở hữu, vay ngân hàng truyền thống, doanh nghiệp còn có thể huy động vốn qua thị trường chứng khoán (TTCK), huy động vốn từ các tổ chức bảo hiểm… Chính vì vậy, hoạt động đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế được đẩy mạnh nhờ yếu tố về vốn được thuận lợi hơn Thông qua các dịch vụ tài chính, khả năng cung ứng về vốn cho đầu tư trong nền kinh tế tăng lên

- Nghiên cứu, thẩm định và phân bổ hiệu quả vốn đầu tư: Các trung gian tài

chính khi cung cấp các dịch vụ tài chính đã có khả năng tốt hơn so với những nhà đầu tư trong việc thu thập, thẩm định thông tin, đánh giá và phân bổ vốn Nguyên nhân là do các nhà đầu tư khi ra quyết định đầu tư cho một công ty hay một dự án,

họ không có phương tiện thu thập, xử lý thông tin về doanh nghiệp, thị trường và các điều kiện kinh tế xã hội khác, những chủ thể đầu tư này chỉ có thể dựa vào kết quả đánh giá của các trung gian tài chính để đầu tư tiết kiệm, phân bổ vốn một cách hiệu quả hơn qua đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

- Giám sát hoạt động của các chủ thể kinh tế, kiểm soát các nhà quản lý:

Trong quá trình cung cấp dịch vụ tài chính, các tổ chức trung gian tài chính bắt buộc khách hàng phải thực hiện các hoạt động sao cho có lợi nhất cho các cổ đông, các chủ nợ Nói cách khác, các trung gian tài chính giúp những người tiết kiệm giám sát những người đi vay bằng việc kiểm soát chặt chẽ hoạt động của các tổ chức này Việc giám sát tốt hoạt động của những người đi vay sẽ tạo điều kiện để phân bổ vốn hiệu quả, vì vậy những người có tiết kiệm sẽ tin tưởng và tăng cường đầu tư, qua đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế dài hạn

- Tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển mậu dịch: Hiện nay, các dịch vụ tài

chính được cung cấp ngày một hiện đại hơn nhờ các công cụ tài chính như séc, thẻ tín dụng và các cơ chế thanh toán, từ đó đã đơn giản hoá các hoạt động trao đổi mậu dịch Ở hầu hết các nước phát triển, cá nhân và doanh nghiệp đều cho rằng khả năng xác lập và giải quyết các giao dịch tài chính là chuyện tất yếu Tuy nhiên, nếu không có các phương tiện tin cậy để tiến hành giao dịch thì sẽ làm cản trở rất nhiều

Trang 25

đến hoạt động kinh tế Điều này có thể được chứng minh bằng hình ảnh ngược lại trong các nền kinh tế chưa phát triển, ở đó các phương tiện thanh toán chưa hoàn thiện đã gây trở ngại rất lớn cho hoạt động giao dịch thương mại Nói tóm lại, nếu dịch vụ tài chính phát triển sẽ làm cho trao đổi mậu dịch trở nên dễ dàng hơn và nhờ

đó sẽ kích thích sự phát triển của cả nền kinh tế

7 Sự khác biệt giữa dịch vụ tài chính do các tập đoàn kinh tế cung cấp và dịch

vụ tài chính do các chủ thể khác cung cấp

Có thể thấy được rằng, hiện nay các dịch vụ tài chính do các tập đoàn kinh tế

có các công ty tài chính cung cấp chưa thể sánh ngang bằng với các dịch vụ do các chủ thể khác chuyên cung cấp dịch vụ tài chính (như ngân hàng) bởi sự khác biệt đáng kể về mọi thứ, cụ thể:

Yếu tố tâm lý của người dân khi sử dụng dịch vụ tài chính bao giờ họ cũng nghĩ ngay đến các ngân hàng cung cấp, đây là một khó khăn không nhỏ trong vấn

đề phát triển dịch vụ tài chính tại các tập đoàn kinh tế, vô hình tạo thành sợi dây trói buộc sự phát triển của dịch vụ tài chính của các tập đoàn kinh tế có thừa tiềm năng nhưng thiếu lòng tin của người tiêu dùng

+ Ưu điểm của các tập đoàn kinh tế: có nguồn lực rồi dào, có trình độ khoa học công nghệ phát triển, có đội ngũ nhân lực đông đảo, có các kênh phân phối rộng

và có tiềm lực mạnh mẽ về kinh tế, có quyền lực mềm

+ Nhược điểm: Đội ngũ nguồn nhân lực không thực sự chuyên sâu về cung cấp dịch vụ tài chính, do quan điểm của các tập đoàn đối với dịch vụ tài chính, đây

là lĩnh vực kinh doanh thứ yếu của các đơn vị, do vậy không thể dốc toàn bộ nguồn lực vào lĩnh vực kinh doanh phụ này

Chính vì vậy, các tập đoàn kinh tế cần quan tâm hơn nữa đến vấn đề thay đổi nhận thức của người dân đối với dịch vụ tài chính do các tập đoàn kinh tế cung cấp bằng cách truyền thông, nâng cao chất lượng dịch vụ, đa dạng hóa các sản phẩm, tăng số lượng người sử dụng cả về chiều sâu và chiều rộng đối với dịch vụ tài chính

do các tập đoàn kinh tế cung cấp nhằm phát triển hơn nữa dịch vụ này trong tương lai…

III CÁC VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ TÀI CHÍNH TRONG TẬP ĐOÀN KINH TẾ

Trang 26

1 Sự cần thiết phải phát triển dịch vụ tài chính trong tập đoàn kinh tế

1.1 Vai trò hỗ trợ các hoạt động kinh doanh của tập đoàn

Tập đoàn kinh tế thường có quy mô rất lớn về vốn, hoạt động đa ngành, đa lĩnh vực Mỗi tập đoàn kinh tế đều có định hướng ngành chủ đạo, lĩnh vực kinh doanh mũi nhọn, bên cạnh các đơn vị sản xuất, thường có các tổ chức tài chính, ngân hàng, bảo hiểm Xu hướng chung là các tổ chức tài chính, ngân hàng ngày càng được chú ý hơn vì đó là đòn bẩy cho sự phát triển của tập đoàn kinh tế

Trong tập đoàn kinh tế, nguồn vốn được huy động từ các công ty thành viên

và được tập trung đầu tư vào những công ty, những dự án có hiệu quả nhất, khắc phục tình trạng vốn bị phân tán ở từng công ty nhỏ Nguồn vốn tập trung sẽ là cơ sở cho việc thành lập các "Holding company" - đóng vai trò như một công ty tài chính của tập đoàn Đây là công ty thực hiện chức năng huy động vốn từ các công ty thành viên và điều hòa vốn đầu tư vào những lĩnh vực cần phát triển Khai thác các nguồn vốn nội bộ thông qua sự lưu chuyển vốn giữa các đơn vị thành viên của tập đoàn hoặc giữa công ty mẹ với các công thành viên dưới các hình thức khác nhau như tín dụng nội bộ, trao đổi các tài sản, đầu tư nội bộ, điều hòa vốn giúp sử dụng tối ưu nguồn lực tài chính của tập đoàn Việc huy động vốn trong các tập đoàn kinh

tế có vai trò đặc biệt quan trọng đối với quá trình hình phát triển tập đoàn vì tập đoàn có vững mạnh hay không phụ thuộc vào năng lực tài chính của tập đoàn, trong khi đó năng lực tài chính lại phụ thuộc trước hết vào các nguồn vốn huy động được Nếu hoạt động huy động vốn và cơ chế tạo vốn không đáp ứng được yêu cầu về tài chính của từng doanh nghiệp thành viên sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của tập đoàn Cơ chế huy động vốn không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của các doanh nghiệp trong ngắn hạn mà còn đối với sự tồn tại phát triển dài hạn của tập đoàn

Do vậy, để có thể đạt được mục tiêu huy động vốn cho đầu tư phát triển, các tập đoàn phải gắn mình vào hệ thống tài chính tiền tệ thông qua các định chế tài chính trong tập đoàn Các định chế này chính là cầu nối tập đoàn với thị trường tài chính Các định chế tài chính trong tập đoàn thực hiện kinh doanh các dịch vụ tài chính sẽ tạo thế chủ động cho tập đoàn trong công cuộc thu hút vốn và sử dụng có hiệu quả nguồn tài chính của tập đoàn Để các định chế tài chính trong tập đoàn có thể trở thành công cụ tài chính đắc lực của tập đoàn, đảm bảo huy động và thu xếp nhu cầu vốn cho tập đoàn với chi phí hợp lý, nâng cao hiệu quả luân chuyển các dòng tài chính trong nội bộ tập đoàn thì các định chế tài chính này phải đa dạng hóa

Trang 27

hoạt động kinh doanh dịch vụ tài chính mà mình cung cấp, nâng cao chất lượng dịch vụ, nâng cao tiềm lực tài chính và sức cạnh tranh của các định chế này trên thị trường tài chính Có như vậy, các định chế tài chính trong tập đoàn mới thực hiện được chức năng là phục vụ tập đoàn như mục tiêu thành lập, đồng thời thực hiện chức năng của trung gian tài chính trên thị trường tài chính

Do đó, các tập đoàn có phát triển mạnh hay không phụ thuộc vào năng lực tài chính của tập đoàn Phát triển các dịch vụ tài chính trong tập đoàn kinh tế là một hướng đi quan trọng trong việc nâng cao tiềm lực tài chính cho tập đoàn nhằm hỗ trợ các hoạt động kinh doanh của tập đoàn Mặt khác, kinh doanh dịch vụ tài chính nhằm đa dạng hóa các hoạt động kinh doanh của tập đoàn

1.2 Vai trò nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của tập đoàn

Thông qua phát triển dịch vụ tài chính, các đơn vị cung cấp dịch vụ tài chính thu được phí và thu hút được khách hàng Do đó, đơn vị cung cấp dịch vụ có điều kiện nâng cao hiệu quả kinh doanh, góp phần vào sự tồn tại và phát triển của đơn vị, giúp cho đơn vị đáp ứng tốt hơn các nhu cầu của thị trường

Mặt khác, phát triển các dịch vụ tài chính làm tăng khả năng cạnh tranh của đơn vị cung ứng dịch vụ Trong môi trường cạnh tranh hiện nay, các tổ chức cung cấp dịch vụ tài chính nào có dịch vụ mới hơn, hiện đại hơn, giá cả hợp lý, chất lượng tốt đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của khách hàng sẽ có sức thu hút khách hàng hơn Chính vì vậy, đa dạng hoá các dịch vụ tài chính, nâng cao chất lượng dịch vụ, cải tiến phương thức cung cấp dịch vụ nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của tất cả khách hàng sẽ tạo cho đơn vị cung cấp dịch vụ có ưu thế nổi trội và đứng vững trong cạnh tranh Để có thể đứng vững trên thị trường trong nước và khu vực trong điều kiện cạnh tranh diễn ra ngày càng gay gắt, không còn cách nào khác

là các đơn vị cung cấp dịch vụ tài chính phải nhanh chóng tìm ra các giải pháp để phát triển dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu của chính bản thân các tập đoàn kinh tế và nhu cầu của xã hội Có như vậy, các đơn vị này mới mong tồn tại và phát triển Hơn nữa, trước yêu cầu thực tế của xu thế toàn cầu hoá, phát triển dịch vụ tài chính trong điều kiện hội nhập sẽ tạo ra cơ hội tiếp thu và vận dụng những thông lệ quốc tế vào điều kiện cụ thể của từng nước, tạo cơ hội cho các tổ chức cung cấp các loại hình dịch vụ tài chính học hỏi được những kinh nghiệm quản lý, tiếp thu những công nghệ hiện đại, dịch vụ đa dạng, phong phú của các tổ chức tài chính nước ngoài thông qua việc trao đổi hợp tác giữa các bên Việc phát triển dịch vụ tài chính

Trang 28

trong quá trình hội nhập kinh tế sẽ tạo ra một môi trường cạnh tranh gay gắt nhưng bình đẳng, nền kinh tế sẽ có thêm nhiều các chủ thể cung cấp dịch vụ tài chính, tạo

ra các kênh chu chuyển vốn hiệu quả, đáp ứng nhu cầu sử dụng dịch vụ này cho sự tăng trưởng kinh tế, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Chính điều đó sẽ tác động trở lại cho hệ thống các nhà cung cấp dịch vụ tài chính trong nước, giúp các tổ chức này phát triển hơn

2 Chỉ tiêu đánh giá sự phát triển dịch vụ tài chính trong tập đoàn kinh tế

2.1 Tính đa dạng của loại hình dịch vụ

Đa dạng hóa các loại hình dịch vụ là quá trình cải biến, sáng tạo ra nhiều sản phẩm dịch vụ từ những sản phẩm, dịch vụ truyền thống có sẵn, đồng thời cải biến

và nhập ngoại từ những dịch vụ đồng loại, sao cho phong phú về chủng loại, đa dạng về mẫu mã từ những dịch vụ cơ bản đến những dịch vụ giá trị gia tăng để nâng cao sức cạnh tranh với các đối thủ trên thị trường

Đa dạng hóa các loại hình dịch vụ tài chính thể hiện ở số lượng dịch vụ tài chính được cung cấp bởi một đơn vị kinh doanh mà ở đây là các tập đoàn kinh tế, các loại hình dịch vụ tài chính được cung cấp bởi một đơn vị càng nhiều thì càng chứng tỏ dịch vụ tài chính của đơn vị đó càng phát triển Sự đa dạng các dịch vụ tài chính hiện nay đang được thể hiện thông qua sự cung cấp của các TĐKT:

Dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ liên quan tới bảo hiểm

(i) Bảo hiểm trực tiếp (kể cả đồng bảo hiểm):

(A) nhân thọ (B) phi nhân thọ (ii) Tái bảo hiểm và tái nhượng bảo hiểm;

(iii) Trung gian bảo hiểm, như môi giới và đại lý;

(iv) Dịch vụ phụ trợ cho bảo hiểm, như tư vấn, dịch vụ đánh giá xác xuất và rủi ro và dịch vụ giải quyết khiếu nại

Ngân hàng và các dịch vụ tài chính khác (trừ bảo hiểm)

(v) Nhận tiền gửi hoặc đặt cọc và các khoản tiền có thể thanh toán khác của công chúng;

(vi) Cho vay dưới các hình thức , bao gồm tín dụng tiêu dùng, tín dụng thế chấp, bao tiêu nợ và tài trợ các giao dịch thương mại;

Trang 29

(vii) Thuê mua tài chính;

(viii) Mọi dịch vụ thanh toán và chuyển tiền, bao gồm thẻ tín dụng, thẻ thanh toán và báo nợ, séc du lịch và hối phiếu ngân hàng;

(ix) Bảo lãnh và cam kết;

(x) Kinh doanh tài khoản của mình hoặc của khách hàng, dù tại sở giao dịch

và trên thị trường không chính thức, hoặc các giao dịch khác về:

(A) công cụ thị trường tiền tệ ( gồm séc, hóa đơn, chứng chỉ tiền gửi); (B) ngoại hối;

(C) các sản phẩm tài chính phái sinh, bao gồm nhưng không hạn chế các hợp đồng kỳ hạn (futures) hoặc hợp đồng chọn (options);

(D) các sản phẩm dựa trên tỷ giá hối đoái và lãi suất, gồm các sản phẩm như hoán vụ (swarps), hợp đồng tỷ giá kỳ hạn;

(E) chứng khoán có thể chuyển nhượng;

(F) các công cụ có thể chuyển nhượng khác và tài sản tài chính, kể cả kim khí quý

(xi) Tham gia vào việc phát hành mọi loại chứng khoán, kể cả bảo lãnh phát hành và chào bán như đại lý (dù công khai hoặc theo thỏa thuận riêng) và cung cấp dịch vụ liên quan tới việc phát hành đó;

(xii) Môi giới tiền tệ;

(xiii) Quản lý tài sản, như tiền mặt hoặc quản lý danh mục đầu tư , mọi hình thức quản lý đầu tư tập thể, quản lý quỹ hưu trí, dịch vụ bảo quản, lưu giữ và tín thác;

(xiv) Các dịch vụ thanh toán và quyết toán tài sản tài chính, bao gồm chứng khoán, các sản phẩm tài chính phái sinh và các công cụ thanh toán khác;

(xv) Cung cấp và chuyển thông tin về tài chính, xử lý dữ liệu tài chính và phần mềm liên quan của các nhà cung cấp dịch vụ tài chính khác;

(xvi) Các dịch vụ về tư vấn, trung gian môi giới và các dịch vụ tài chính phụ trợ khác liên quan

Hầu hết các sản phẩm dịch vụ tài chính do các đơn vị cung ứng trên thị trường hiện nay đều có tính năng tương tự nhau Do vậy, bên cạnh việc đa dạng các

Trang 30

loại hình dịch vụ, các đơn vị cung cấp dịch vụ cần phải có được sự tinh tế trong nhận biết nhu cầu để mang lại tiện ích dù nhỏ nhưng rất thiết thực

2.2 Số lượng khách hàng sử dụng dịch vụ

Số lượng khách hàng sử dụng dịch vụ là tổng số lượng khách hàng đăng ký

sử dụng và thực hiện các giao dịch tài chính (ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm) do tập đoàn cung cấp trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm Như vậy, trong khoảng thời gian nhất định đó, một khách hàng có thể đăng ký và sử dụng dịch vụ một hoặc nhiều lần Tốc độ tăng trưởng số lượng khách hàng biểu hiện mức độ phát triển, sự tăng trưởng và quy mô của tập đoàn Sự gia tăng số lượng khách hàng sử dụng dịch vụ tài chính chứng tỏ sự thoả mãn, hài lòng của khách hàng khi sử dụng dịch vụ Dịch vụ được tạo ra nhằm đáp ứng được nhu cầu của khách hàng và lấy yêu cầu của khách hàng làm căn cứ để cải thiện dịch vụ, nếu khách hàng cảm thấy không hài lòng về chất lượng dịch vụ thì đương nhiên họ sẽ rời bỏ dịch vụ đó, nếu như chất lượng của dịch vụ ngày càng cải thiện, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng thì khách hàng sẽ chấp nhận sử dụng dịch vụ và gắn bó lâu dài với tập đoàn cung cấp

Số lượng khách hàng sử dụng dịch vụ càng nhiều chứng tỏ dịch vụ đó đang thu hút được sự quan tâm và làm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng, càng chứng tỏ dịch vụ ấy đang phát triển và phát triển một cách đúng hướng

2.3 Chất lượng dịch vụ

Đây là yếu tố quan trọng quyết định khả năng cạnh tranh của dịch vụ tài chính trên thị trường, tạo nên danh tiếng, uy tín lâu dài cho tập đoàn, thu hút khách hàng Chất lượng của một sản phẩm dịch vụ tài chính thể hiện ở khả năng thoả mãn nhu cầu, kỳ vọng, mong đợi của khách hàng trong suốt quá trình sử dụng dịch vụ

đó

Như vậy chất lượng dịch vụ chính là sự khác biệt giữa kỳ vọng, mong đợi của khách hàng và thực tế dịch vụ đó mang lại trong quá trình khách hàng sử dụng dịch vụ đó Nếu mong đợi của khách hàng lớn hơn sự thực hiện của dịch vụ đó thì chất lượng dịch vụ đó là kém và ngược lại là chất lượng dịch vụ đó cao Chất lượng dịch vụ thông qua các đặc tính cơ bản như: Tính vượt trội, tính đặc trưng của sản phẩm, tính cung ứng, tính thỏa mãn nhu cầu, tính tạo ra giá trị

Chất lượng của dịch vụ tài chính phụ thuộc vào tiềm lực tài chính của chủ thể cung cấp dịch vụ tài chính Tiềm lực tài chính của chủ thể cung cấp dịch vụ có

Trang 31

mạnh thì doanh nghiệp mới có khả năng đầu tư cho phát triển sản phẩm, cho nghiên cứu triển khai và thiết kế dịch vụ mới Chất lượng của dịch vụ tài chính còn phụ thuộc vào khả năng tiếp cận và ứng dụng công nghệ mới, hiện đại vào quá trình cung cấp sản phẩm dịch vụ Ngoài ra, nó còn phụ thuộc vào trình độ lực lượng lao động trong doanh nghiệp cung ứng dịch vụ tài chính, vào phương thức cung cấp dịch vụ và khả năng tiếp thị marketing về sản phẩm dịch vụ tài chính trên thị trường

2.4 Tỷ trọng thu từ dịch vụ tài chính trong tổng thu nhập của tập đoàn

Doanh thu từ dịch vụ tài chính là toàn bộ các khoản thu nhập mà doanh nghiệp đó thu được trong một thời kỳ nhất định, bao gồm doanh thu từ hoạt động kinh doanh dịch vụ ngân hàng, dịch vụ chứng khoán, dịch vụ bảo hiểm Tỷ trọng thu từ dịch vụ gtài chính trong tổng thu nhập của doanh nghiệp phản ánh mức độ phát triển hoạt động kinh doanh của đơn vị qua các kỳ kinh doanh Đó là một trong các chỉ tiêu kết quả kinh doanh mà mọi doanh nghiệp quan tâm và được xây dựng trên các báo cáo kế toán, thống kê

Thu từ dịch vụ tài chính chiếm tỷ trọng lớn hay nhỏ trong tổng doanh thu của tập đoàn phụ thuộc vào số lượng giao dịch cũng như giá trị mỗi giao dịch được khách hàng thực hiện, nguồn thu này tăng lên dẫn đến sự phát triển doanh thu của tập đoàn Tốc độ tăng của thu từ dịch vụ tài chính không chỉ biểu hiện lượng tiền

mà tập đoàn thu được tăng lên mà còn đồng nghĩa với việc tăng số lượng giao dịch (đối với các dịch vụ ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm) được thực hiện trên thị trường, tăng lượng khách hàng sử dụng dịch vụ, từ đó giúp tập đoàn trang trải các khoản hao phí, mở rộng thị phần kinh doanh, tạo điều kiện bảo toàn vốn để phát triển hoạt động kinh doanh

Tỷ trọng thu từ dịch vụ tài chính trong tổng thu nhập của tập đoàn càng cao chứng tỏ các dịch vụ tài chính đang đóng vai trò ngày càng to lớn trong sự phát triển hoạt động kinh doanh của tập đoàn, ngày càng tạo ra giá trị gia tăng cho tập đoàn Phát triển dịch vụ tài chính là cách thức có hiệu quả nhất để thay đổi cơ cấu kết quả hoạt động kinh doanh của tập đoàn Tập đoàn kinh doanh theo cách thức truyền thống, thu từ dịch vụ tài chính chỉ chiếm một tỷ trọng rất nhỏ Với điều kiện thị trường ngày càng phức tạp, để đảm bảo phân tán và giảm thiểu rủi ro, đa dạng hóa lĩnh vự kinh doanh, thúc đẩy nâng cao tiết kiệm, tập trung vào đầu tư vốn nhằm

hỗ trợ các hoạt động kinh doanh của tập đoàn, nếu chỉ dựa vào nguồn thu từ các hoạt động kinh doanh thông thường sẽ rất bấp bênh Chính vì vậy, các tập đoàn cần

Trang 32

đẩy nhanh phát triển dịch vụ tài chính để gia tăng nguồn thu dịch vụ trong cơ cấu thu nhập của mình

3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển dịch vụ tài chính trong tập đoàn kinh tế

3.1 Các yếu tố thuộc môi trường bên ngoài

3.1.1 Môi trường kinh tế

Nền kinh tế càng phát triển tạo ra nhiều tích luỹ, đồng thời sự tăng trưởng kinh tế sẽ kéo theo nhu cầu vốn cho các doanh nghiệp Chính hai nhu cầu này đã tạo

ra một điều kiện hết sức thuận lợi cho các dịch vụ tài chính phát triển, bởi các dịch

vụ tài chính nó có thể hỗ trợ, điều tiết vòng quay của vốn, mang vốn của người dư thừa cho người đang có nhu cầu sử dụng số vốn đó

Mặt khác, sự phát triển kinh tế đồng nghĩa với việc phát triển các giao dịch thương mại, từ đó ích thích sự phát triển các dịch vụ tài chính Quá trình trao đổi mậu dịch, đặc biệt trong nền kinh tế hiện đại, đòi hỏi việc thanh toán phải nhanh chóng, đơn giản, hiện đại và an toàn Tăng trưởng và phát triển kinh tế ổn định, bền vững sẽ tạo ra nhu cầu sử dụng các loại dịch vụ tài chính khác nhau ngày càng tăng

Nếu đồng tiền mất giá, lạm phát gia tăng làm cho lãi suất thực tế giảm đi, người dân có xu hướng không tích luỹ và tiết kiệm bằng đồng nội tệ mà chuyển sang tích luỹ bằng vàng, ngoại tệ hay bất động sản là những thứ ít sinh lời, do đó nhu cầu sử dụng các dịch vụ tài chính sẽ giảm đi

Mặt khác, lạm phát luôn đi kèm với thất nghiệp và trì trệ sản xuất Các doanh nghiệp phải thu hẹp sản xuất, thậm chí phá sản Điều này làm giảm số lượng khách hàng có nhu cầu sử dụng dịch vụ tài chính Sự phát triển dịch vụ tài chính trong các tập đoàn kinh tế cũng không nằm ngoài quy luật này

Hay nói tóm lại nền kinh tế càng phát triển thì dịch vụ tài chính càng phát triển, nền kinh tế càng kém phát triển thì dịch vụ tài chính càng ít cơ hội hơn để phát triển hơn Nó ảnh hưởng đến sự sụt giảm về số lượng khách hàng sử dụng dịch

vụ, doanh thu cung cấp dịch vụ, và chất lượng dịch vụ mang lại cũng thấp dần đi nếu nền kinh tế kém phát triển và ngược lại đối với nền kinh tế phát triển

3.1.2 Môi trường chính trị - xã hội

Môi trường chính trị - xã hội bao gồm các yếu tố, như: chính trị, trình độ dân trí, thói quen, phong tục tập quán, thu nhập… Khi môi trường chính trị ổn định,

Trang 33

không có bất ổn, các cá nhân và tổ chức có thể yên tâm thực hiện tăng đầu tư, mở rộng sản xuất, từ đó các đơn vị cung cấp dịch vụ tài chính mới phát triển

Trình độ dân trí là khả năng tiếp cận và sử dụng dịch vụ của người dân cũng như nhận thức được các tiện ích của dịch vụ Nếu người dân ít hiểu biết về các tiện ích của dịch vụ, họ sẽ không hiểu cái lợi của việc sử dụng dịch vụ và làm hạn chế quá trình phát triển các dịch vụ tài chính

Người Việt Nam có thói quen sử dụng tiền mặt trong giao dịch mua bán, phần đông người dân chưa quen với việc thanh toán không dùng tiền mặt ngay cả đối với người dân thành thị

Thu nhập của người dân cũng ảnh hưởng lớn tới sự phát triển của dịch vụ tài chính Dịch vụ tài chính không thể phát triển nếu người dân thu nhập thấp, đời sống gặp nhiều khó khăn Nhân tố này tác động không nhỏ tới quá trình phát triển dịch

vụ của dịch vụ tài chính

Tóm lại, môi trường chính trị - xã hội ổn định sẽ tạo điền kiện cho kinh tế phát triển, kinh tế phát triển thì dịch vụ tài chính sẽ phát triển và ngược lại, một nền chính trị bất ổn thì sẽ dẫn đến sự khó khăn trong sự phát triển của kinh tế nói chung

và dịch vụ tài chính nói riêng

3.1.3 Môi trường pháp lý

Mọi hoạt động kinh doanh đều cần có một môi trường pháp lý thuận lợi, đồng bộ tạo điều kiện cho sự phát triển của dịch vụ tài chính nói riêng và các hoạt động kinh doanh nói chung Các quyết định của nhà nước hoặc sẽ tạo điều kiện cho

sự phát triển các dịch vụ tài chính của các tập đoàn kinh tế hoặc sẽ kìm hãm sự phát triển của dịch vụ tài chính do các tập đoàn kinh tế cung cấp

Bởi lẽ, hệ thống khung pháp luật mà Nhà nước thiết lập nhằm quy định các nguyên tắc hoạt động cơ bản của thị trường dịch vụ tài chính nói chung và dịch vụ tài chính trong các tập đoàn nói riêng là căn cứ để các đối tượng tham gia vào thị trường dịch vụ tài chính tiến hành mua bán, trao đổi các dịch vụ tài chính Dịch vụ tài chính có phát triển được hay không cũng phải phụ thuộc rất nhiều vào môi trường pháp lý có tính minh bạch, rõ ràng của nhà nước

3.1.5 Môi trường cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế

Môi trường cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế là một điều kiện cho sự phát triển dịch vụ tài chính của các tập đoàn kinh tế trong sự phát triển chung của

Trang 34

thị trường dịch vụ tài chính của quốc gia Thị trường dịch vụ tài chính Việt Nam trong những năm qua đã được hình thành và có tốc độ tăng trưởng khá cao, đang từng bước hội nhập với thị trường dịch vụ tài chính khu vực và thế giới, tạo nên môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt Số lượng các chủ thể cung cấp dịch vụ ngày càng gia tăng, ngoài chủ thể trong nước còn có các chủ thể nước ngoài Sự tham gia của mọi thành phần kinh tế vào việc cung cấp dịch vụ làm cho thị trường dịch vụ tài chính ngày càng trở lên sôi động Giá cả dịch vụ càng ngày càng được tự do hoá và cạnh tranh giữa các chủ thể cung cấp dịch vụ thông qua giá cả dịch vụ cũng quyết liệt hơn Một môi trường kinh doanh bình đẳng, ổn định, minh bạch, thông thoáng sẽ tạo điều kiện cho các chủ thể cung cấp dịch vụ phát triển các dịch vụ tài chính hiệu quả hơn

Hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra khá sâu sắc Hội nhập toàn cầu sẽ đưa đến sự tự do hoá về dịch vụ trong đó có dịch vụ tài chính Ngoài tác dụng thúc đẩy kinh tế phát triển hơn từ đó kích thích sự phát triển các dịch vụ tài chính, tự do hoá còn là điều kiện trực tiếp cho sự gia tăng cung cấp dịch vụ này, nguyên nhân là do: + Tự do hoá làm tăng số lượng chủ thể cung cấp dịch vụ tài chính, các công ty nước ngoài như ngân hàng, bảo hiểm sẽ xâm nhập thị trường nội địa bằng việc thành lập các chi nhánh để cung cấp dịch vụ

+ Phương thức cung cấp dịch vụ cũng được đa dạng hoá dưới nhiều hình thức: Cung cấp qua biên giới, cung cấp cho người nước ngoài, thiết lập đại diện thương mại tại một nước hoặc di chuyển tạm thời thể nhân sang một nước khác

để cung cấp dịch vụ tại chính nước đó Chính sự đa dạng này đã làm tăng khả năng cung cấp cho tất cả các chủ thể trong một môi trường cạnh tranh quốc tế diễn ra mạnh mẽ và bình đẳng hơn Kết quả là nhiều loại hình dịch vụ tài chính mới được cung cấp cho xã hội với chất lượng ngày càng cao Khách hàng càng ngày càng có nhiều cơ hội để lựa chọn nhà cung cấp đáp ứng được mong muốn của mình

+ Sự trao đổi, học hỏi công nghệ, kinh nghiệm lẫn nhau giữa chủ thể cung cấp dịch vụ là điều kiện để kích thích sự phát triển của khu vực này

3.1.6 Xu hướng phát triển khoa học công nghệ

Sự bùng nổ mạnh mẽ của công nghệ viễn thông và tin học đã và đang tác động vào mọi mặt của đời sống Đó là nền tảng cho việc phát triển các dịch vụ mới trong thanh toán, điều chuyển tiền tệ một cách nhanh chóng, thuận tiện

Sự phát triển của khoa học công nghệ là cơ sở cho việc hiện đại hoá công

Trang 35

nghệ trong lĩnh vực dịch vụ tài chính (chủ yếu là công nghệ thông tin, đặc biệt là các phần mềm chuyên dụng) Với những tiến bộ vượt bậc của khoa học công nghệ, trong tương lai không xa, nhu cầu của khách hàng về việc sử dụng các dịch vụ tài chính (trong đó có dịch vụ tài chính mà các tập đoàn cung cấp) không chỉ dừng lại như hiện nay mà đòi hỏi phải có các dịch vụ đa dạng, phong phú, tiện lợi, hiện đại với chất lượng cao và giá cả phù hợp Chính nhu cầu này của khách hàng đòi hỏi các đơn vị cung cấp dịch vụ tài chính phải luôn luôn đổi mới công nghệ, phát triển các dịch vụ mới nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng

3.2 Các yếu tố thuộc môi trường nội bộ

3.2.1 Tiềm lực tài chính của các chủ thể cung cấp dịch vụ

Tiềm lực tài chính của các chủ thể trước hết là quy mô vốn tự có của đơn vị,

là một trong các yếu tố đầu vào quan trọng nhất của doanh nghiệp, là điều kiện cần thiết để tiến hành các hoạt động kinh doanh Đồng thời, vốn là điều kiện cần để doanh nghiệp đổi mới công nghệ, đầu tư cơ sở hạ tầng cung cấp dịch vụ và là điều kiện đảm bảo quyền lợi của các khách hàng mua dịch vụ tài chính khi có rủi ro xảy

ra đối với đơn vị cung cấp dịch vụ

Mặt khác, tình hình tài chính của chủ thể cung cấp dịch vụ còn nói lên tiềm lực tài chính của họ có vững mạnh hay không Một chủ thể cung cấp dịch vụ tài chính có tình hình tài chính lành mạnh, công khai minh bạch là cơ sở niềm tin cho khách hàng khi tham gia mua dịch vụ Đặc biệt trong quá trình hội nhập kinh tế quốc

tế, khi môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt thì các chủ thể cung cấp dịch vụ tài chính phải có một tiềm lực tài chính vững mạnh mới hy vọng nâng cao khả năng cạnh tranh, phát triển được các dịch vụ tài chính mới đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng

3.2.2 Cơ sở vật chất, kỹ thuật, công nghệ

Cơ sở vật chất kỹ thuật, công nghệ là điều kiện cần thiết đảm bảo khả năng cung cấp dịch vụ của các chủ thể, cho phép đánh giá quy mô của các chủ thể cung cấp dịch vụ Một chủ thể cung cấp dịch vụ tài chính có cơ sở vật chất kỹ thuật tốt sẽ

có điều kiện thuận lợi để mở rộng khả năng cung cấp dịch vụ đồng thời tạo được niềm tin cho khách hàng khi tham gia mua dịch vụ

Nếu một nền công nghệ càng hiện đại thì dịch vụ tài chính càng phát triển, bởi công nghệ là phần không thể thiếu trong các giao dịch tài chính, giao dịch nhanh, chính xác hay chậm, sai sót chính là do yếu tố công nghệ quyết định

Trang 36

Nếu công nghệ càng cũ kỹ, hay đã lạc hậu thì đương nhiên dịch vụ tài chính càng khó có cơ hôi phát triển bởi khách hàng sẽ chuyển sang sử dụng các sản phẩm thay thế tương tự như dịch vụ tài chính của các đơn vị khác cung cấp khác có tính hiện đại và chính xác cao, nhanh và an toàn hơn

Chính vì vậy các chủ thể cung cấp dịch vụ tài chính có thể ứng dụng các công nghệ hiện đại vào trong quá trình cung cấp dịch vụ tài chính, tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng Đặc biệt, phát triển thêm nhiều tiện ích nâng cấp cơ sở vật chất đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển dịch vụ tài chính

3.2.3 Mô hình tổ chức, cơ chế quản lý và cung cấp dịch vụ

Để dịch vụ tài chính có thể cung cấp một cách nhanh chóng, phong phú, khả năng quản lý dịch vụ một cách thống nhất trên toàn mạng lưới thì mô hình tổ chức,

cơ chế quản lý và cung cấp dịch vụ đóng vai trò rất quan trọng Do các chủ thể cung cấp dịch vụ tài chính là các đơn vị thành viên của tập đoàn, mô hình tổ chức của các chủ thể này phải phù hợp đảm bảo cho các chủ thể cung cấp dịch vụ được quyền chủ động trong việc nghiên cứu, triển khai và áp dụng các loại dịch vụ tài chính mới trong quá trình cung cấp dịch vụ, tránh hiện tượng chồng chéo với các ban chức năng của tập đoàn trong quá trình ban hành cơ chế quản lý và cung cấp dịch vụ Tập đoàn chỉ đóng vai trò định hướng chiến lược, tạo điều kiện cho các đơn vị cung cấp dịch vụ phát triển các dịch vụ mới

Cơ chế quản lý dịch vụ giữa đơn vị cung cấp dịch vụ với các đại lý, chi nhánh phải thật rõ ràng minh bạch Đây là điều kiện để xác định chính xác các loại chi phí trong quá trình kinh doanh dịch vụ - vốn là một yếu tố tác động tới khả năng phát triển các dịch vụ mới Trên cơ sở chi phí để sản xuất và quản lý dịch vụ thấp, giá cả dịch vụ sẽ có sức cạnh tranh cao, là điều kiện để sản phẩm dịch vụ có sức cạnh tranh trên thị trường

3.2.4 Công tác Marketing của đơn vị cung cấp dịch vụ

- Hoạt động marketing có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của dịch vụ tài chính trong các đơn vị cung cấp dịch vụ Trong công tác marketing hiện đại bao gồm 5 yếu tố: product (sản phẩm); price (giá cả); place (kênh phân phối mạng lưới); promotion (khuyến thị) và person (con người) thì sản phẩm dịch vụ phong phú đa dạng có chất lượng cao là yếu tố đầu tiên nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm dịch vụ trên thị trường Vì vậy, nâng cao chất lượng của dịch vụ, đa dạng hoá các

Trang 37

sản phẩm là điều kiện để phát triển các dịch vụ tài chính trong các tập đoàn kinh tế Muốn vậy doanh nghiệp phải thường xuyên nghiên cứu thị trường, nắm bắt được thị hiếu của khách hàng đối với sản phẩm dịch vụ từ đó thiết kế những sản phẩm mới phù hợp với nhu cầu khách hàng

- Giá cả dịch vụ là một yếu tố không thể thiếu được của chiến lược marketing, tạo nên sức cạnh tranh của sản phẩm dịch vụ Để giá cả thực sự trở thành một công cụ cạnh tranh đắc lực của doanh nghiệp thì việc xây dựng chính sách giá

cả hợp lý với từng đối tượng khách hàng, vùng miền là cần thiết đối với đơn vị cung cấp dịch vụ và cũng là một yếu tố quan trọng đánh giá khả năng phát triển dịch vụ tài chính trên thị trường

- Phương thức cung cấp dịch vụ quyết định khả năng tiếp cận dịch vụ của khách hàng Phương thức cung cấp dịch vụ hợp lý (mạng lưới cung cấp rộng lớn, đa dạng hoá kênh phân phối dưới các hình thức khác nhau) sẽ giúp cho người cung cấp trong việc quản lý, giám sát, đồng thời thuận lợi cho người sử dụng dịch vụ, thu hút được nhiều khách hàng tham gia mua dịch vụ

- Công tác quảng cáo, khuyến mại, chăm sóc khách hàng có ảnh hưởng lớn tới nhu cầu sử dụng dịch vụ của khách hàng Hiện nay, các dịch vụ tài chính đang

có sự cạnh tranh rất lớn, các đơn vị cung cấp dịch vụ này phải đặc biệt chú trọng tới công tác chăm sóc khách hàng, khuyến mại, xúc tiến bán hàng trực tiếp thông qua các hội nghị khách hàng và các chiến dịch quảng bá rầm rộ, đó là điều kiện tốt để khách hàng trung thành với doanh nghiệp

- Trình độ nhân sự cung cấp dịch vụ tài chính: Đây là yếu tố quan trọng nhất quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Các dịch vụ tài chính phát triển hay không còn chịu ảnh hưởng bởi trình độ của người lao động trong doanh nghiệp

Đó là đội ngũ những cán bộ quản lý đóng vai trò quan trọng trong việc đề ra các chiến lược kinh doanh và phát triển sản phẩm dịch vụ Vị trí này đòi hỏi các cán bộ quản lý phải có trình độ, nhanh nhạy với thị trường, hiểu biết và dám nghĩ, dám làm,

có như vậy mới đưa ra được những quyết định chính xác cho việc đầu tư, phát triển các dịch vụ tài chính hiện đại, phù hợp với nhu cầu khách hàng Mặt khác, vai trò của người lao động trực tiếp tham gia vào quá trình cung cấp dịch vụ cũng không kém phần quan trọng bởi chính họ quyết định chất lượng của dịch vụ Đó là trình độ của các nhân viên, là thái độ phục vụ khách hàng Trình độ của nhân viên sẽ tác động tới

sự an toàn, tính chính xác của các giao dịch tài chính, còn thái độ phục vụ của họ sẽ tạo cho khách hàng thêm tin tưởng và gắn bó với việc sử dụng dịch vụ

Trang 38

IV KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ TÀI CHÍNH TRONG CÁC TẬP ĐOÀN KINH TẾ TRÊN THẾ GIỚI

1 Kinh nghiệm phát triển dịch vụ tài chính trong các tập đoàn kinh tế

1.1 Tập đoàn Samsung

Tập đoàn Samsung được thành lập vào năm 1938 tại Hàn Quốc, là tập đoàn xuyên quốc gia với 305 chi nhánh hoạt động trên toàn cầu, hiện nay là một trong những tập đoàn hàng đầu ở Hàn Quốc với 29 công ty con hoạt động chủ yếu trên 5 lĩnh vực là công nghiệp điện tử, công nghiệp nặng và cơ khí, công nghiệp hoá chất, dịch vụ tài chính, thương mại, du lịch, khách sạn, kinh doanh tổ hợp thể thao, xuất bản… Samsung hiện có hơn 400.000 nhân viên, tổng doanh thu của Samsung năm

2008 khoảng 173,4 tỷ đô, tổng giá trị tài sản đạt 252,5 tỷ đô

Trong tập đoàn, các công ty cung cấp dịch vụ tài chính gồm: Công ty bảo hiểm nhân thọ (Samsung Life Insurance); Công ty bảo hiểm hoả hoạn và hàng hải (Samsung Fire and Marine Insurance); Công ty thẻ (Samsung Card); Công ty chứng khoán (Samsung Securities); Công ty quản lý vốn uỷ thác đầu tư (Samsung Investment Trust Management); Công ty đầu tư mạo hiểm (Samsung Venture Investment) Hàng năm các định chế này đóng góp trên 25% tổng doanh thu của tập đoàn Năm 2002, các định chế này được thống nhất lại dưới hình thức Tập đoàn tài chính Samsung Có thể kể đến một số định chế tài chinh nổi bật của Samsung như sau:

- Công ty thẻ: Được thành lập năm 1988, đến nay là một trong những công ty thẻ hàng đầu Hàn Quốc, có tới 15 triệu chủ thẻ trên 1000 đại lý, doanh số giao dịch hàng năm hơn 3 tỷ Won Doanh thu năm 2012 là 15,135 tỷ Won, lợi nhuận 1.686 tỷ won và tổng tài sản là 72,760 tỷ Won Phạm vi hoạt động của công ty là phát hành các loại thẻ tín dụng, thẻ thanh toán, dịch vụ tiền mặt và các dịch vụ hỗ trợ như các dịch vụ có liên quan đến du lịch, cho vay thông qua phát hành thẻ, chiết khấu chứng

từ, tài trợ đổi mới công nghệ

- Công ty chứng khoán: Thành lập năm 1982 có chức năng kinh doanh chứng khoán, trái phiếu, chứng từ có giá, quản lý quỹ đầu tư, mua bán thương phiếu và các giấy tờ thương mại Hiện nay, công ty đứng thứ nhất trong số các công ty chứng khoán tại Hàn Quốc về hiệu quả hoạt động Công ty có 113 chi nhánh trong nước và

5 chi nhánh tại nước ngoài Doanh thu năm 2011 của công ty là 1.088 tỷ Won

- Công ty quản lý vốn uỷ thác đầu tư: Được thành lập tháng 09/1998 Vốn

Trang 39

điều lệ là 73,2 tỷ Won Cổ đông lớn nhất của công ty là Công ty chứng khoán và Công ty Bảo hiểm Samsung Hiện công ty đứng vị trí hàng đầu về quản lý vốn đầu

tư tại Hàn Quốc, quản lý trên 41,5 nghìn tỷ Won vốn uỷ thác Lĩnh vực hoạt động của công ty là nhận uỷ thác đầu tư, quản lý vốn uỷ thác, quản lý các quỹ và tư vấn đầu tư Thị phần hoạt động chiếm trên 15,14% tại Hàn Quốc Doanh thu năm 2011 của công ty là 32,4 triệu USD

1.2 Tập đoàn LG (Lucky Goldstar)

Được thành lập năm 1947, đến nay, LG là tập đoàn lớn thứ hai ở Hàn Quốc với 44 công ty thành viên hoạt động trong 4 lĩnh vực chính là hoá chất và năng lượng, điện tử và viễn thông, dịch vụ tài chính và các dịch vụ khác LG là tập đoàn xuyên quốc gia với 300 chi nhánh và hơn 140.000 nhân viên hoạt động trên toàn thế giới Tính đến cuối năm 2011, tổng doanh thu của LG là 70.000 tỷ Won

Để kinh doanh các dịch vụ tài chính, trong Tập đoàn LG có các định chế tài chính sau:

- Công ty Chứng khoán và Đầu tư LG (LG Investment & Securities, tên viết tắt là LGIS): Được thành lập năm 1969, là một trong những công ty chứng khoán hàng đầu ở Hàn Quốc với 107 đại lý, phòng giao dịch trong nước, 03 chi nhánh ở HongKong, NewYork và London, 02 văn phòng khu vực ở Tokyo và Thượng Hải Vốn cổ đông lớn nhất của LGIS bao gồm các công ty thành viên trong Tập đoàn LG như công ty điện tử LG, công ty quốc tế LG, công ty thiết kế và xây dựng LG Số nhân viên của công ty trên toàn thế giới là 2.565 người LGIS có vốn điều lệ 638 triệu USD, tổng tài sản có cuối năm 2011 là 5,1 tỷ USD và doanh thu là 759 triệu USD LGIS là cổ đông chiếm cổ phần chi phối của một số định chế tài chính khác trong Tập đoàn LG: Công ty quản lý vốn uỷ thác đầu tư LG (LG Investment Trust Management Co., Ltd), Công ty kỳ hạn (LG Futures Co., Ltd), Công ty dịch vụ tài chính LG (LG Capital Services Co., Ltd)

- Công ty quản lý vốn uỷ thác đầu tư LG (LG Investment Trust Management): Được thành lập năm 1988, vốn điều lệ là 23 triệu USD, doanh thu là

19 triệu USD, có 62 nhân viên Hình thức ban đầu của công ty là công ty tư vấn tài đầu tư LG, đến năm 1996 đổi tên thành công ty quản lý vốn uỷ thác đầu tư LG Nội dung hoạt động của công ty là cung cấp dịch vụ quản lý vốn, uỷ thác đầu tư, quản lý quỹ đầu tư, tư vấn đầu tư, đầu tư tài sản bên Nợ - Có, chuyên nghiên cứu kinh tế thế giới, kinh tế quốc gia và thị trường tài chính, chứng khoán

Trang 40

- Công ty dịch vụ tài chính LG (LG Capital Services Co., Ltd): Được thành lập năm 1988 với hoạt động ban đầu là công ty thẻ LG - LG Credit Card Co., Ltd, cung cấp các dịch vụ liên quan đến thẻ tín dụng (có 2 loại thẻ có tiếng trên thị trường Hàn Quốc là LG 2030 và LG Lady) Số cổ đông của công ty khi mới thành lập là 140.000 đến nay đã tăng lên 10 triệu cổ đông Công ty là một trong những tổ chức tài chính hàng đầu của Hàn Quốc với 31 chi nhánh, 26 văn phòng đại diện với hơn 3.500 nhân viên Các dịch vụ chủ yếu LG Capital Services cung cấp là thẻ tín dụng, cho vay trả góp, tài trợ tiêu dùng, bảo lãnh, cho thuê, đầu tư tài chính… Tổng tài sản của công ty ở mức xấp xỉ 8.000 tỷ Won, vốn điều lệ là 4.536 tỷ Won

1.3 Tập đoàn GE (General Electric Corporation)

- Tập đoàn GE được thành lập năm 1878 tại NewYork (Mỹ) với tên ban đầu

là Edison Electric Corporation, đến năm 1892 sát nhập với Thomson Electric Corporation thành lập Tập đoàn GE như ngày nay GE là tập đoàn xuyên quốc gia hoạt động trên 100 nước trên thế giới GE sản xuất động cơ máy bay, các thiết bị công nghiệp, dịch vụ truyền thống, y tế, dịch vụ tài chính… Doanh thu năm 2012 của tập đoàn là 131,7 tỷ USD, tổng tài sản là 575 tỷ USD, nằm trong top 500 công

ty hàng đầu thế giới

- Tổng công ty Tài chính GE là doanh nghiệp do Tập đoàn GE sở hữu 100% vốn, chuyên cung cấp các dịch vụ tín dụng thương mại, tín dụng tiêu dùng, quản lý tài sản và bảo hiểm, factoring, tư vấn xử lý nợ và cấu trúc tài chính Tổng công ty này có tổng tài sản trên 425 tỷ USD, hoạt động ở hơn 47 nước khác nhau, là một trong số nhà phát hành trái phiếu lớn nhất trên thế giới

2 Bài học kinh nghiệm đối với việc phát triển dịch vụ tài chính trong các tập đoàn kinh tế ở Việt Nam

Sự phát triển dịch vụ tài chính trong các tập đoàn kinh tế trên thế giới đã để lại một số kinh nghiệm đối với các tập đoàn ở Việt Nam như sau:

Thứ nhất, các tập đoàn kinh tế trong quá trình hình thành và phát triển mở

rộng hoạt động sản xuất thường kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực, khi phát triển đến mức độ nhất định sẽ mở rộng sang lĩnh vực tài chính Việc phát triển các dịch

vụ tài chính thông qua việc xây dựng hệ thống các định chế tài chính trong các tập đoàn kinh tế là một tất yếu khách quan trong quá trình hình thành và phát triển tập đoàn Để đáp ứng nhu cầu về vốn phục vụ cho việc đầu tư phát triển tập đoàn, ngoài việc huy động các nguồn lực trong nội bộ tập đoàn còn cần phải huy động các

Ngày đăng: 25/02/2023, 18:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1- Bộ Tài chính (2003), "Giải pháp phát triển dịch vụ Tài chính - Kế toán trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế", Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp phát triển dịch vụ Tài chính - Kế toán trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả: Bộ Tài chính
Nhà XB: Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Hà Nội
Năm: 2003
5- Minh Châu (2005), "Tập đoàn kinh tế và một số vấn đề về xây dựng tập đoàn kinh tế ở Việt Nam", Nhà xuất bản Bưu điện, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập đoàn kinh tế và một số vấn đề về xây dựng tập đoàn kinh tế ở Việt Nam
Tác giả: Minh Châu
Nhà XB: Nhà xuất bản Bưu điện, Hà Nội
Năm: 2005
6- Chính phủ nước CHXHCNVN (2001), "Quyết định số 158/2001/QĐ- TTg ngày 18/10/2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt chiến lược phát triển Bưu chính - Viễn thông Việt Nam đến năm 2020", Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 158/2001/QĐ-TTg ngày 18/10/2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt chiến lược phát triển Bưu chính - Viễn thông Việt Nam đến năm 2020
Tác giả: Chính phủ nước CHXHCNVN
Nhà XB: Chính phủ nước CHXHCNVN
Năm: 2001
10- Tập đoàn Viễn thông Quân đội, "Báo cáo thường niên các năm 2002- 2012”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thường niên các năm 2002-2012
Tác giả: Tập đoàn Viễn thông Quân đội
Nhà XB: Tập đoàn Viễn thông Quân đội, Hà Nội
Năm: 2002-2012
11- Tổng công ty cổ phần bảo hiểm Quân đội (MIC), "Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh các năm 2007-2012", Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh các năm 2007-2012
Tác giả: Tổng công ty cổ phần bảo hiểm Quân đội (MIC)
Nhà XB: Tổng công ty cổ phần bảo hiểm Quân đội (MIC)
12- David Cox (1997), Nghiệp vụ Ngân hàng hiện đại, Nhà xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiệp vụ Ngân hàng hiện đại
Tác giả: David Cox
Nhà XB: Nhà xuất bản
Năm: 1997
13- TS. Hồ Diệu (1998), Các định chế Tài chính, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các định chế Tài chính
Tác giả: Hồ Diệu
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội
Năm: 1998
16- Frederic S.Mishkin (2001), Tiền tệ, ngân hàng và thị trường tài chính, Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiền tệ, ngân hàng và thị trường tài chính
Tác giả: Frederic S. Mishkin
Nhà XB: Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật, Hà Nội
Năm: 2001
17- TS Nguyễn Hữu Tài (2002), Giáo trình lý thuyết Tài chính - Tiền tệ, Nhà xuất bản thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lý thuyết Tài chính - Tiền tệ
Tác giả: Nguyễn Hữu Tài
Nhà XB: Nhà xuất bản thống kê, Hà Nội
Năm: 2002
18- PGS.TS Nguyễn Văn Thanh (2007), Tập bài giảng Marketing dịch vụ, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập bài giảng Marketing dịch vụ
Tác giả: Nguyễn Văn Thanh
Nhà XB: Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Năm: 2007

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w