Microsoft Word V�n hÍc Mù Trái tim thú tÙi (1) docx Mục lục 1 Dẫn nhập 2 2 Ám ảnh thời niên thiếu của Edgar Allan Poe 3 3 Phân tích tác phẩm “Trái tim thú tội” dưới góc nhìn phân tâm học 4 3 1 Tóm tắt.Văn học Mỹ là một nền văn học trẻ, phát triển nhanh chóng, đạt được nhiều thànhtựu vượt bậc và có vị trí quan trọng trong Văn học Thế giới. Từ khi bắt đầu hình thành đếnnay, Văn học Mỹ đã trải qua nhiều đợt phân kỳ, ở mỗi giai đoạn khác nhau, Văn học Mỹbị chi phối bởi những vấn đề khác nhau như sắc tộc, tôn giáo, triết học, chính trị, kinh tế,...Nhưng Văn học Mỹ đã vượt qua những khó khăn đó, cho đến thế kỷ XIX, Văn học Mỹbước vào giai đoạn phát triển vĩ đại với những nhà văn tiên phong như Walt Whitman,Ralph Waldo Emerson , Henry David Thoreau, Nathaniel Hawthorne, Edgar Allan Poe,..và Herman Melville.Edgar Allan Poe được các nhà nghiên cứu, phê bình văn học đánh giá là “ông tổ”của thể loại truyện ngắn kinh dị và truyện trinh thám. Dù cuộc đời của Poe ngắn ngủi,nhưng các sáng tác của ông lại có sức sống vô cùng mãnh liệt và luôn được chào đón chođến tận ngày nay. Phần lớn các tác phẩm của Poe có nhịp điệu trầm, kết thúc đầy bất ngờ,đan xen giữa hiện thực và những yếu tố tâm linh. Xuyên suốt các tác phẩm là mạch cảmxúc u buồn, khổ đau, đặc biệt là nỗi ám ảnh của chứng loạn thần kinh như cái chết, bạo lực.Có thể nói, hiếm có nhà văn nào chọn khai thác những vấn đề kinh dị, rùng rợn, ghê gớmmà lại đi sâu vào thế giới vô thức của con người như Edgar Allan Poe.Vì lẽ đó, với truyện ngắn “Trái tim thú tội” được Poe xuất bản năm 1843, nhóm đãlựa chọn đọc và phân tích dưới góc nhìn Phân tâm học. Hy vọng với nền tảng lý thuyếtPhân tâm học mà nhóm có được sẽ phần nào lý giải được những vấn đề thuộc về vô thứctồn tại trong tác phẩm, cũng như mở ra một cái nhìn khác về chính Poe và các tác phẩmcủa ông.2. Ám ảnh thời niên thiếu của Edgar Allan Poe:Edgar Allan Poe (1809 – 1849) không chỉ được biết đến như là nhà văn, nhà thơ,nhà viết kịch mà đồng thời cũng là một nhà phê bình văn học ở Mỹ. Ông có một gia tài đồsộ bao gồm thơ, truyện ngắn và các lý thuyết phê bình khác. Poe có công gọt giũa thể loạitruyện ngắn, sáng tạo ra tiểu thuyết trinh thám, tạo tiền đề cho sự ra đời của tiểu thuyếtkhoa học giả tưởng, kinh dị và huyễn hoặc rất phổ biến ngày nay.Edgar Allan Poe đã trải qua vô số những bi kịch, mất mát, đau thương trong suốtbốn mươi năm ngắn ngủi của cuộc đời mình. Ông trở thành trẻ mồ côi khi chỉ mới tròn batuổi. Khi trưởng thành, Allan Poe kết hôn với Virginia Clemm, nhưng một thời gian saucô mất vì bệnh lao. Cái chết của Virginia khiến Edgar Allan Poe vô cùng suy sụp, điều nàyđã ảnh hưởng đến các tác phẩm của ông, khi đề tài nổi bật và thường xuyên xuất hiện làhình ảnh người phụ nữ điên loạn hoặc mắc phải một căn bệnh quái ác mà ra đi.Hai năm sau cái chết của cô vợ trẻ, Allan Poe được tìm thấy trong trạng thái nửatỉnh nửa mê, nói chuyện mê sảng, quần áo thì tả tơi ở Baltimore, Maryland. Ngay sau đó,Poe đã được đưa vào bệnh viện nhưng không qua khỏi và mất vào ngày 3 tháng 10 năm1849. Theo hồ sơ bệnh án, sau khi được đưa vào viện trong tình trạng bất tỉnh, sau vài ngày,Poe có tỉnh lại, chân tay run lẩy bẩy, người ra nhiều mồ hôi, lên cơn mê sảng, liên tục nóivề những bóng ma và cãi nhau với một vật thể tưởng tượng nào đó.Cuộc đời ông liên tiếp phải trải qua những mất mát của người thân, đối mặt với sựra đi của những người quan trọng nhất, thân thương nhất khiến tâm lý của ông trở nên bấtan, mọi thứ trước mắt ông trở nên u tối, bi thương. Poe bị dày vò, bị ám ảnh không ngừngbởi cái chết của những người mình thương yêu. Có lẽ đây chính là nguyên nhân mà tácphẩm của ông luôn chứa đựng những gì tăm tối, u uất, ghê rợn nhất, đặc biệt với sự xuấthiện của chết chóc.Dường như Poe luôn sống trong một thế giới bất an, cô đơn, tăm tối, đầy sợ hãi vàcái chết thì lúc nào cũng như đang liền kề. Tất cả mọi thứ qua cái nhìn của Allan Poe đềutrở nên u uất, đầy chết chóc, ông nhìn thấy được vẻ đẹp kì bí của bóng tối, nhìn thấy đượcnhững bí ẩn đáng sợ trong tâm trí con người và đôi khi đó cũng chính là tâm trí của chínhông. Tất cả những thứ ấy đã hình thành nên tấm màn tâm thần hoảng loạn trải dài qua cáctác phẩm của ông.3. Phân tích tác phẩm “Trái tim thú tội” dưới góc nhìn phân tâm học3.1 Tóm tắt “Trái tim thú tội”Tác phẩm mở đầu qua lời kể của nhân vật “tôi” kẻ nung nấu ý định giết người hàngxóm không có thù hằn gì với mình chỉ vì đôi mắt. Sau bảy đêm lẻn vào phòng và quan sátông lão thì nhân vật “tôi” đã kết thúc mọi chuyện ở đêm thứ tám. Sau khi giết chết ông lão,nhân vật “tôi” đã hoàn hảo che giấu tội ác của mình bằng cách giấu xác dưới sàn nhà.Nhưng tội ác cuối cùng cũng đã được phơi bày bởi chính lời thú tội của nhân vật “tôi” vàogiây phút cuối cùng.3.2 Vô thức và chứng bệnh thần kinhTrong quyển “Phân tâm học nhập môn”, nhà phân tâm học S.Freud đã nói rằngnhững người mắc bệnh thần kinh sẽ không hề hay biết gì về điều đó vì đó là sự vô thức củacon người. Cũng như vậy, trong tác phẩm “Trái tim thú tội’’ nhân vật “tôi” hiện lên vớinhững lời thú tội của một tên tội phạm, nhưng cũng chính những dòng ấy cho thấy rằng“tôi” không nhận thức được chứng bệnh của mình: “Đúng Thần kinh bị kích động đầu óccăng thẳng căng thẳng kinh khủng, nhưng đâu đến nỗi tôi điên Cơn bệnh chỉ giúp ngũquan tôi thêm minh mẫn, hoàn toàn không bị hủy hoại, ù lì chút nào.” Nhân vật tự thú ấykhông nhận thấy mình bị điên, còn kể lại quá trình giết người của mình một cách thoải mái,tự cho là minh mẫn. Có thể thấy, những hành động của nhân vật “tôi” thuộc về vô thức conngười.Một câu hỏi đặt ra khi đọc xong tác phẩm “Trái tim thú tội” rằng: Liệu nhân vật“tội” là một tên tội phạm mắc chứng bệnh thần kinh hay không? Muốn biết được điều đóthì buộc chúng ta phải đi sâu vào tìm hiểu những vấn đề bên trong con người. Từ nhữngđiều mà họ biểu hiện ra để lý giải những suy nghĩ sâu trong tâm hồn hay nói cách khác làvùng mờ, vùng vô thức của con người. Bởi suy cho cùng thì vô thức và các triệu chứng củabệnh thần kinh có liên quan mật thiết với nhau. Theo S.Freud “mỗi khi chúng ta đứng trướcmột triệu chứng, chúng ta phải kết luận rằng trong người bệnh có một vài hoạt động vôthức có chứa đựng ý nghĩa của triệu chứng này. Ý nghĩa này phải vô thức thì triệu chứngmới phát hiện ra được.” (Trang 218, 6) Thông qua những lời thú tội của “tôi” để có thể lýgiải được việc tại sao “tôi” lại giết người. Không biết từ khi nào và cũng không biết vì sao“tôi” lại nuôi ý định giết ông lão. Bởi vì, chính bản thân “tôi” thừa nhận rất thích ông lãovà “Lão chưa làm phật lòng tôi, chưa xúc phạm đến tôi lần nào, vàng bạc của lão thì tôichẳng thiết.” Chẳng phải về vật chất, chẳng phải vì lợi ích mà chỉ đơn thuần vì lão có đôimắt giống với đôi mắt của loài kền kền. Kền kền một loài chim gắn liền với cái chết, ở đâycó thể thấy “tôi” như bị ám ảnh bởi cái chết. Chính “tôi” bị ám ảnh bởi ánh mắt đó, “Thứánh mắt màu xanh nhợt nhạt phủ màu trắng đùng đục Bất cứ lúc nào cảm thấy ánh mắtấy xói vào là máu tôi đông cứng lại.” Phải chăng “tôi” sợ ánh mắt ấy bởi sợ rằng ông lãonhìn mình chẳng khác gì nhìn một người chết, sợ sự tồn tại của mình với ông lão chẳngnghĩa lý gì và chỉ đơn thuần là một cái xác không hơn không kém? Có lẽ chính những mốilo âu đó đã ám ảnh “tôi”? Hay chính điều đó ngụy biện cho ham muốn giết người của “tôi”,và đôi mắt ấy chỉ đơn thuần là một dạng biểu thị tâm lý cho việc “tôi” nuôi ý định giếtngười. Ở đây chính sự chán ghét, sợ hãi đôi mắt của ông lão đã vô thức biểu thị ra hammuốn giết người của tôi, từ đó hình thành nên hành vi tội ác.S.Freud từng nói trong quyển Phân tâm học nhập môn: “Những sự thúc đẩy có thểtỏ ra rất trẻ con và vô lý, nhưng luôn luôn có một nội dung kinh hoàng thúc đẩy ngườibệnh phạm những tội ác quan trọng thành ra người bệnh luôn muốn rũ bỏ ý tưởng đó đi,tìm đủ cách để lẩn tránh, chống trả dữ dội.” (Trang 204, 6). Chính vì thế, khi đã vào đượcphòng ông lão nhiều lần, “tôi” rọi đèn vào mắt lão nhưng do lão đang ngủ nên không ra tay“Vì đâu phải lão mà chính đôi mắt quái gở của lão đã trêu tôi cơ mà?”. Đây chính là biểuhiện cho sự chống trả với ý định giết người của “tôi”. Đâu phải vì không nhìn thấy đôi mắtlão mà không giết lão mà chính trong bản thân “tôi” đang đấu tranh, muốn rũ bỏ ý nghĩgiết người ấy mà thôi.Tuy nhiên, sau bảy đêm không ra tay giết người thì vào đêm thứ tám cơ hội đã đến,bởi ông lão đã phát hiện. “Nỗi sợ hãi của lão cứ tăng dần lên mãi.” Trong vô thức lão giàđã sinh ra cảm giác sợ hãi, sợ bởi cái chết đang gần kề lão. Từ đó sinh ra cảm giác chạytrốn, lão đã tự an ủi mình đó chỉ là tiếng gió. Còn chính bản thân nhân vật “ tôi” hắn nóihắn thấu hiểu nỗi lo sợ ấy, bởi “trong tận cùng sâu thẳm, cái tiếng ấy vang vọng khủngkhiếp và nỗi sợ hãi đày đọa, dày vò tôi.” “Tôi” sợ điều gì? Phải chăng sợ chính bản thânmình cũng sợ những ý nghĩ man rợ muốn giết người của bản thân? Nhưng sau cùng cái vôthức muốn giết chóc đã lấn át lý trí, thậm chí còn cảm thấy hưng phấn khi giết chết ônglão.Tuy nhiên khi mọi thứ tưởng chừng hoàn hảo và có thể thành công thoát tội. Trongchính lúc ấy lại xuất hiện những âm thanh kỳ lạ “Đầu nhức buốt, tôi nghe như có tiếngchuông reo bên tai.” Là tiếng chuông, tiếng tim đập của lão già hay chính là tiếng tim đậpcủa bản thân “tôi” tiếng tim đập do sự sợ hãi rằng mình đã tàn ác đến mức nào? Ở đây cóthể thấy sự xung đột giữa phần vô thức với ham muốn chết chóc với phần ý thức phần“người” còn sót lại. Sau thời gian bị vô thức lấn át thì cái ý thức của “tôi” ít ỏi cuối cùngcũng đã quay trở lại, chính điều đó khiến “tôi” phải thú nhận tội ác của mình.
Trang 1Mục lục
1 Dẫn nhập 2
2 Ám ảnh thời niên thiếu của Edgar Allan Poe: 3
3 Phân tích tác phẩm “Trái tim thú tội” dưới góc nhìn phân tâm học 4
3.1 Tóm tắt “Trái tim thú tội” 4
3.2 Vô thức và chứng bệnh thần kinh 5
3.3 Ám ảnh - ảo giác: biểu hiện của chứng bệnh thần kinh 7
3.4 Kẻ song trùng và hành vi tội ác 9
4 Tổng kết: 14
Danh mục tài liệu tham khảo: 16
1 Dẫn nhập Văn học Mỹ là một nền văn học trẻ, phát triển nhanh chóng, đạt được nhiều thành tựu vượt bậc và có vị trí quan trọng trong Văn học Thế giới Từ khi bắt đầu hình thành đến nay, Văn học Mỹ đã trải qua nhiều đợt phân kỳ, ở mỗi giai đoạn khác nhau, Văn học Mỹ bị chi phối bởi những vấn đề khác nhau như sắc tộc, tôn giáo, triết học, chính trị, kinh tế,
Nhưng Văn học Mỹ đã vượt qua những khó khăn đó, cho đến thế kỷ XIX, Văn học Mỹ bước vào giai đoạn phát triển vĩ đại với những nhà văn tiên phong như Walt Whitman, Ralph Waldo Emerson , Henry David Thoreau, Nathaniel Hawthorne, Edgar Allan Poe,
và Herman Melville
Edgar Allan Poe được các nhà nghiên cứu, phê bình văn học đánh giá là “ông tổ” của thể loại truyện ngắn kinh dị và truyện trinh thám Dù cuộc đời của Poe ngắn ngủi, nhưng các sáng tác của ông lại có sức sống vô cùng mãnh liệt và luôn được chào đón cho
Trang 2đến tận ngày nay Phần lớn các tác phẩm của Poe có nhịp điệu trầm, kết thúc đầy bất ngờ, đan xen giữa hiện thực và những yếu tố tâm linh Xuyên suốt các tác phẩm là mạch cảm xúc u buồn, khổ đau, đặc biệt là nỗi ám ảnh của chứng loạn thần kinh như cái chết, bạo lực
Có thể nói, hiếm có nhà văn nào chọn khai thác những vấn đề kinh dị, rùng rợn, ghê gớm
mà lại đi sâu vào thế giới vô thức của con người như Edgar Allan Poe
Vì lẽ đó, với truyện ngắn “Trái tim thú tội” được Poe xuất bản năm 1843, nhóm đã lựa chọn đọc và phân tích dưới góc nhìn Phân tâm học Hy vọng với nền tảng lý thuyết Phân tâm học mà nhóm có được sẽ phần nào lý giải được những vấn đề thuộc về vô thức tồn tại trong tác phẩm, cũng như mở ra một cái nhìn khác về chính Poe và các tác phẩm của ông
2 Ám ảnh thời niên thiếu của Edgar Allan Poe:
Edgar Allan Poe (1809 – 1849) không chỉ được biết đến như là nhà văn, nhà thơ, nhà viết kịch mà đồng thời cũng là một nhà phê bình văn học ở Mỹ Ông có một gia tài đồ
sộ bao gồm thơ, truyện ngắn và các lý thuyết phê bình khác Poe có công gọt giũa thể loại truyện ngắn, sáng tạo ra tiểu thuyết trinh thám, tạo tiền đề cho sự ra đời của tiểu thuyết khoa học giả tưởng, kinh dị và huyễn hoặc rất phổ biến ngày nay
Edgar Allan Poe đã trải qua vô số những bi kịch, mất mát, đau thương trong suốt bốn mươi năm ngắn ngủi của cuộc đời mình Ông trở thành trẻ mồ côi khi chỉ mới tròn ba tuổi Khi trưởng thành, Allan Poe kết hôn với Virginia Clemm, nhưng một thời gian sau
cô mất vì bệnh lao Cái chết của Virginia khiến Edgar Allan Poe vô cùng suy sụp, điều này
đã ảnh hưởng đến các tác phẩm của ông, khi đề tài nổi bật và thường xuyên xuất hiện là hình ảnh người phụ nữ điên loạn hoặc mắc phải một căn bệnh quái ác mà ra đi
Trang 3Hai năm sau cái chết của cô vợ trẻ, Allan Poe được tìm thấy trong trạng thái nửa tỉnh nửa mê, nói chuyện mê sảng, quần áo thì tả tơi ở Baltimore, Maryland Ngay sau đó, Poe đã được đưa vào bệnh viện nhưng không qua khỏi và mất vào ngày 3 tháng 10 năm
1849 Theo hồ sơ bệnh án, sau khi được đưa vào viện trong tình trạng bất tỉnh, sau vài ngày, Poe có tỉnh lại, chân tay run lẩy bẩy, người ra nhiều mồ hôi, lên cơn mê sảng, liên tục nói
về những bóng ma và cãi nhau với một vật thể tưởng tượng nào đó
Cuộc đời ông liên tiếp phải trải qua những mất mát của người thân, đối mặt với sự
ra đi của những người quan trọng nhất, thân thương nhất khiến tâm lý của ông trở nên bất
an, mọi thứ trước mắt ông trở nên u tối, bi thương Poe bị dày vò, bị ám ảnh không ngừng bởi cái chết của những người mình thương yêu Có lẽ đây chính là nguyên nhân mà tác phẩm của ông luôn chứa đựng những gì tăm tối, u uất, ghê rợn nhất, đặc biệt với sự xuất hiện của chết chóc
Dường như Poe luôn sống trong một thế giới bất an, cô đơn, tăm tối, đầy sợ hãi và cái chết thì lúc nào cũng như đang liền kề Tất cả mọi thứ qua cái nhìn của Allan Poe đều trở nên u uất, đầy chết chóc, ông nhìn thấy được vẻ đẹp kì bí của bóng tối, nhìn thấy được những bí ẩn đáng sợ trong tâm trí con người và đôi khi đó cũng chính là tâm trí của chính ông Tất cả những thứ ấy đã hình thành nên tấm màn tâm thần hoảng loạn trải dài qua các tác phẩm của ông
3 Phân tích tác phẩm “Trái tim thú tội” dưới góc nhìn phân tâm học
3.1 Tóm tắt “Trái tim thú tội”
Tác phẩm mở đầu qua lời kể của nhân vật “tôi” - kẻ nung nấu ý định giết người hàng xóm không có thù hằn gì với mình chỉ vì đôi mắt Sau bảy đêm lẻn vào phòng và quan sát ông lão thì nhân vật “tôi” đã kết thúc mọi chuyện ở đêm thứ tám Sau khi giết chết ông lão,
Trang 4nhân vật “tôi” đã hoàn hảo che giấu tội ác của mình bằng cách giấu xác dưới sàn nhà Nhưng tội ác cuối cùng cũng đã được phơi bày bởi chính lời thú tội của nhân vật “tôi” vào giây phút cuối cùng
3.2 Vô thức và chứng bệnh thần kinh
Trong quyển “Phân tâm học nhập môn”, nhà phân tâm học S.Freud đã nói rằng những người mắc bệnh thần kinh sẽ không hề hay biết gì về điều đó vì đó là sự vô thức của con người Cũng như vậy, trong tác phẩm “Trái tim thú tội’’ nhân vật “tôi” hiện lên với những lời thú tội của một tên tội phạm, nhưng cũng chính những dòng ấy cho thấy rằng
“tôi” không nhận thức được chứng bệnh của mình: “Đúng! Thần kinh bị kích động đầu óc căng thẳng căng thẳng kinh khủng, nhưng đâu đến nỗi tôi điên! Cơn bệnh chỉ giúp ngũ quan tôi thêm minh mẫn, hoàn toàn không bị hủy hoại, ù lì chút nào.” Nhân vật tự thú ấy không nhận thấy mình bị điên, còn kể lại quá trình giết người của mình một cách thoải mái,
tự cho là minh mẫn Có thể thấy, những hành động của nhân vật “tôi” thuộc về vô thức con người
Một câu hỏi đặt ra khi đọc xong tác phẩm “Trái tim thú tội” rằng: Liệu nhân vật
“tội” là một tên tội phạm mắc chứng bệnh thần kinh hay không? Muốn biết được điều đó thì buộc chúng ta phải đi sâu vào tìm hiểu những vấn đề bên trong con người Từ những điều mà họ biểu hiện ra để lý giải những suy nghĩ sâu trong tâm hồn hay nói cách khác là vùng mờ, vùng vô thức của con người Bởi suy cho cùng thì vô thức và các triệu chứng của bệnh thần kinh có liên quan mật thiết với nhau Theo S.Freud “mỗi khi chúng ta đứng trước một triệu chứng, chúng ta phải kết luận rằng trong người bệnh có một vài hoạt động vô thức có chứa đựng ý nghĩa của triệu chứng này Ý nghĩa này phải vô thức thì triệu chứng mới phát hiện ra được.” (Trang 218, 6) Thông qua những lời thú tội của “tôi” để có thể lý giải được việc tại sao “tôi” lại giết người Không biết từ khi nào và cũng không biết vì sao
“tôi” lại nuôi ý định giết ông lão Bởi vì, chính bản thân “tôi” thừa nhận rất thích ông lão
và “Lão chưa làm phật lòng tôi, chưa xúc phạm đến tôi lần nào, vàng bạc của lão thì tôi
Trang 5chẳng thiết.” Chẳng phải về vật chất, chẳng phải vì lợi ích mà chỉ đơn thuần vì lão có đôi mắt giống với đôi mắt của loài kền kền Kền kền một loài chim gắn liền với cái chết, ở đây
có thể thấy “tôi” như bị ám ảnh bởi cái chết Chính “tôi” bị ám ảnh bởi ánh mắt đó, “Thứ ánh mắt màu xanh nhợt nhạt phủ màu trắng đùng đục! Bất cứ lúc nào cảm thấy ánh mắt
ấy xói vào là máu tôi đông cứng lại.” Phải chăng “tôi” sợ ánh mắt ấy bởi sợ rằng ông lão nhìn mình chẳng khác gì nhìn một người chết, sợ sự tồn tại của mình với ông lão chẳng nghĩa lý gì và chỉ đơn thuần là một cái xác không hơn không kém? Có lẽ chính những mối
lo âu đó đã ám ảnh “tôi”? Hay chính điều đó ngụy biện cho ham muốn giết người của “tôi”,
và đôi mắt ấy chỉ đơn thuần là một dạng biểu thị tâm lý cho việc “tôi” nuôi ý định giết người Ở đây chính sự chán ghét, sợ hãi đôi mắt của ông lão đã vô thức biểu thị ra ham muốn giết người của tôi, từ đó hình thành nên hành vi tội ác
S.Freud từng nói trong quyển Phân tâm học nhập môn: “Những sự thúc đẩy có thể
tỏ ra rất trẻ con và vô lý, nhưng luôn luôn có một nội dung kinh hoàng thúc đẩy người bệnh phạm những tội ác quan trọng thành ra người bệnh luôn muốn rũ bỏ ý tưởng đó đi, tìm đủ cách để lẩn tránh, chống trả dữ dội.” (Trang 204, 6) Chính vì thế, khi đã vào được phòng ông lão nhiều lần, “tôi” rọi đèn vào mắt lão nhưng do lão đang ngủ nên không ra tay
“Vì đâu phải lão mà chính đôi mắt quái gở của lão đã trêu tôi cơ mà?” Đây chính là biểu hiện cho sự chống trả với ý định giết người của “tôi” Đâu phải vì không nhìn thấy đôi mắt lão mà không giết lão mà chính trong bản thân “tôi” đang đấu tranh, muốn rũ bỏ ý nghĩ giết người ấy mà thôi
Tuy nhiên, sau bảy đêm không ra tay giết người thì vào đêm thứ tám cơ hội đã đến, bởi ông lão đã phát hiện “Nỗi sợ hãi của lão cứ tăng dần lên mãi.” Trong vô thức lão già
đã sinh ra cảm giác sợ hãi, sợ bởi cái chết đang gần kề lão Từ đó sinh ra cảm giác chạy trốn, lão đã tự an ủi mình đó chỉ là tiếng gió Còn chính bản thân nhân vật “ tôi” hắn nói hắn thấu hiểu nỗi lo sợ ấy, bởi “trong tận cùng sâu thẳm, cái tiếng ấy vang vọng khủng khiếp và nỗi sợ hãi đày đọa, dày vò tôi.” “Tôi” sợ điều gì? Phải chăng sợ chính bản thân mình cũng sợ những ý nghĩ man rợ muốn giết người của bản thân? Nhưng sau cùng cái vô
Trang 6thức muốn giết chóc đã lấn át lý trí, thậm chí còn cảm thấy hưng phấn khi giết chết ông lão
Tuy nhiên khi mọi thứ tưởng chừng hoàn hảo và có thể thành công thoát tội Trong chính lúc ấy lại xuất hiện những âm thanh kỳ lạ “Đầu nhức buốt, tôi nghe như có tiếng chuông reo bên tai.” Là tiếng chuông, tiếng tim đập của lão già hay chính là tiếng tim đập của bản thân “tôi” - tiếng tim đập do sự sợ hãi rằng mình đã tàn ác đến mức nào? Ở đây có thể thấy sự xung đột giữa phần vô thức với ham muốn chết chóc với phần ý thức - phần
“người” còn sót lại Sau thời gian bị vô thức lấn át thì cái ý thức của “tôi” ít ỏi cuối cùng cũng đã quay trở lại, chính điều đó khiến “tôi” phải thú nhận tội ác của mình
3.3 Ám ảnh - ảo giác: biểu hiện của chứng bệnh thần kinh
Ảo giác, hoặc ảo ảnh là sự giải thích sai về giác quan - nó làm cho chúng ta nhìn, nghe và cảm thấy những điều vốn không có thật, gây nên cảm giác thật một cách mơ hồ Nhưng ảo giác chỉ thực sự đáng lo ngại khi nó xuất hiện liên tục dai dẳng và cản trở các sinh hoạt thường ngày chúng ta Ảo giác cũng là một dạng biểu hiện của căn bệnh thần kinh - rối loạn tâm thần chẳng hạn như tâm thần phân liệt hoặc rối loạn ảo tưởng Chúng
có thể xảy ra cùng với ảo tưởng, liên quan đến việc cảm, nhìn, nghe thấy thứ gì đó vốn không có ở đó nhưng họ tin nó đã thực sự ở đó, ví dụ như nghe thấy giọng nói không tồn tại ngoài đời thực (ảo giác âm thanh)
Ám ảnh cũng là một dạng biểu thị của những vấn đề không bình thường về thần kinh, có thể hiểu đó là “trạng thái mà trong đó, người ta nghĩ về ai đó hay điều gì đó liên tục hoặc thường xuyên, đặc biệt là theo cách không bình thường” (Từ điển Merriam Webster) Ám ảnh trong thời gian dài sẽ tạo ra tổn thương to lớn trong tâm lí con người,
có thể dẫn đến việc mất kiểm soát và sự trỗi dậy mạnh mẽ của bản năng
Trang 7Ảo giác và ám ảnh là hai trong những vấn đề quan trọng đáng được nhắc tới trong nghiên cứu Phân tâm học Đặc biệt hơn, hai vấn đề này còn là đặc trưng nổi bật trong những truyện ngắn của Edgar Allan Poe, trong đó có “Trái tim thú tội”
Trong “Trái tim thú tội”, ảo giác và ám ảnh xuất hiện xuyên suốt trong tác phẩm, ngay ở phần mở đầu, nhân vật “tôi” cho biết rằng mình là người có ngũ quan minh mẫn, thính giác nghe được tất cả thứ trên cao xuống đất sâu, thậm chí đến cả cõi âm ty thế nhưng đến phần cuối của truyện, những ảo giác đó lại trở thành bằng chứng mạnh mẽ nhất cho sự điên loạn
Ảo giác có sức ảnh hưởng lớn nhất đến với nhân vật “tôi” chính là đôi mắt của lão già hàng xóm - một đôi mắt xanh trên nền trắng đục hệt như đôi mắt kền kền Nhân vật
“tôi” đã khẳng định rằng đôi mắt đó đang nhìn chằm chằm vào thân thể của mình và chực chờ đến xỉa xói da thịt Và dù cho lão già chưa bao giờ làm hại gì đến nhân vật “tôi”, thì cũng không có nghĩa lý gì hết, chính đôi mắt đó đã trở thành lý do không thể thay đổi cho ham muốn được phá hủy ông lão - vật chứa của đôi mắt, một cách tàn nhẫn Chính loại ảo giác mãnh liệt đó đã hình thành nên chuỗi ám ảnh đeo bám, và trở thành thứ điều khiển tất
cả suy nghĩ và hành động biến nhân vật “tôi” trở thành một kẻ sát nhân loạn trí
Một ảo giác khác của nhân vật “tôi” là nụ cười của các sĩ quan khi đến nhà điều tra
về sự mất tích của lão già Nhân vật “tôi” đã cho rằng ba gã đàn ông đó là "kẻ ác" và "họ đang chế nhạo sự kinh dị của anh ấy", điều này khiến chính bản thân nhân vật “tôi” cảm thấy tù túng, khó chịu và bức bối Nhưng trên thực tế, đó chỉ là những ảo giác mà do chính bản thân nhân vật “tôi” tưởng tượng nên và tất nhiên là chẳng có sự cười cợt hay chế nhạo
gì ở đây cả, bởi chính nhân vật “tôi” đã che giấu tội ác của mình vô cùng hoàn hảo, không
hề có một chút sơ hở nào để những tên sĩ quan đó nhìn ra chân tướng
Ảo giác lớn nhất của nhân vật “tôi” chính là âm thanh của “tiếng chuông reo”, đây
là loại ảo giác đặc cấp trở thành nỗi ám ảnh mạnh mẽ đeo bám "Đầu tôi đau nhức, và tôi tưởng tượng ra một tiếng ù tai, nó tiếp tục và trở nên rõ ràng hơn", âm thanh ấy đã không ngừng đeo bám, quấy nhiễu ở trong tâm trí và trở thành những “tiếng ù ù, trầm đục” Âm
Trang 8thanh kỳ dị đó ngày một rõ ràng, từng nhịp từng nhịp như đánh thẳng vào tâm trí và nội tạng của nhân vật “tôi”, như một tảng đá đè nặng khiến thần kinh bị ép căng ra đến mức không thể chịu đựng được nữa Có thể thấy, dù trong khoảng thời gian ngắn nhưng nỗi ám ảnh này lại là yếu tố quyết định cho việc thức tỉnh và thú tội của nhân vật “tôi”
Rõ ràng, ảo giác và ám ảnh là những vấn đề quan trọng nghiên cứu về tâm lí con người, nó một trong những biểu thị của căn bệnh thần kinh Và ở đây, nó là những đặc điểm tiêu biểu trong những tác phẩm truyện ngắn kinh dị của Edgar Allan Poe, trong đó có
“Trái tim thú tội”
3.4 Kẻ song trùng và hành vi tội ác
Thông thường, song trùng được hiểu là những sự vật, hiện tượng tồn tại theo cặp, thể hiện cho một ý nghĩa đối cực Song trùng được biểu hiện ở con người trong trường hợp hai con người có tính cách đối lập, hoặc hai nhân cách đối lập cùng tồn tại bên trong một con người Trong trường hợp hai nhân cách đối lập cùng tồn tại bên trong một con người,
ta gọi đây là hiện tượng nhị hóa cuồng loạn hay phân lập nhân cách Mà hiện tượng này được thể hiện rõ bên trong bản ngã nhận thức và vô thức Đó là một cái tôi khác vừa giống
ta nhưng lại không phải là ta cùng tồn tại trong chính bản thân ta Nghĩa là trong cùng một con người lại tồn tại hai kiểu tính cách mâu thuẫn, đối nghịch, trái ngược Sự mâu thuẫn này đôi khi được chủ thể ý thức rõ ràng hoặc không ý thức được Trong văn học, những nhà văn thường khai thác song trùng ở khía cạnh cùng tồn tại trong cùng một chủ thể, với những tính cách đối lập, lưỡng diện rõ ràng Kẻ song trùng xuất hiện đối nghịch với chủ thể, với những thiên tính ban đầu và mang đến những ác tính, xấu xa, đen tối để lấn át những thiên tính tốt đẹp vốn có
Nhân vật "tôi" trong “Trái tim thú tội” là một kiểu nhân vật song trùng, bởi trong nhân vật này có tồn tại sự phân liệt về nhân cách ghê gớm Ban đầu, nhân vật "tôi" có ấn tượng khá tốt về ông lão hàng xóm "Tôi thích lão già ấy Lão chưa làm phật lòng tôi, chưa
Trang 9xúc phạm đến tôi lần nào, vàng bạc của lão thì tôi chẳng thiết." Mối quan hệ giữa nhân vật
"tôi" và ông lão hàng xóm dường như chỉ là mối quan hệ bình thường, không ai xúc phạm
ai và nhân vật "tôi" cũng thừa nhận mình có phần "thích" ông lão ấy Nhưng chỉ vì đôi mắt xanh của lão - một "ánh mắt màu xanh nhợt nhạt phủ màu trắng đùng đục", một ánh mắt xỉa xói, mổ rỉa vào da thịt "tôi" hệt như con kền kền, tất cả đã khiến máu huyết của nhân vật "tôi" sôi trào và muốn hủy hoại đôi mắt ấy Ngay lập tức, thèm muốn và khao khát thỏa mãn về cái chết từ trong tiềm thức đã khiến nhân vật "tôi" giết chết lão già để hủy hoại đôi mắt ấy Suốt một tuần trước khi giết chết lão già, nhân vật "tôi" đã vô cùng thận trọng, cẩn thận và kín đáo trong việc cư xử và hành động để không bị phát hiện Mỗi đêm, nhân vật
"tôi" đều lẻn vào phòng ngủ của ông lão, để nhìn ngắm đôi mắt nhắm nghiền khi đang say giấc của ông lão Một đôi mắt nhắm nghiền, không mang thứ màu xanh nhợt nhạt như xỉa xói vào thân thể và máu của nhân vật "tôi" khiến cho phần tôi” nào được thỏa mãn "Nhưng lần nào đôi mắt lão cũng nhắm nghiền cả Thế thì làm sao hạ thủ được? Vì đâu phải lão
mà chính đôi mắt quái gở của lão đã trêu tôi cơ mà?" Rõ ràng, nhân vật "tôi" chỉ bị đắm chìm trong ham muốn hủy hoại đôi mắt của ông lão chứ không phải chính bản thân ông lão Và ta cũng có thể thấy được rằng, dường như có hai con người đang đấu tranh, vật lộn, giằng xé bên trong nhân vật "tôi" Một nhân cách của tình yêu, thiện lương đối chọi với một nhân cách, tiếng nói của quỷ dữ Một nhân cách bị ràng buộc bởi đạo đức và pháp luật, còn một nhân cách nguyên thủy bị chi phối bởi dục vọng
Hiện tượng nhị hóa trong nhân cách còn được thể hiện ở chỗ, đôi lúc hành động và suy nghĩ của nhân vật “tôi” điên cuồng, ghê gớm như một kẻ tâm thần, đôi lúc lại cẩn trọng,
tỉ mỉ “Đúng! Thần kinh bị kích động đầu óc căng thẳng, căng thẳng kinh khủng, nhưng đâu đến nỗi tôi điên! Cơn bệnh chỉ giúp ngũ quan tôi thêm minh mẫn…” Ngay ở những dòng đầu tiên, ta có thể nhận thấy một trạng thái căng thẳng đang diễn ra trong đầu óc của nhân vật “tôi”, nhưng nhân vật “tôi” lại không cho đó là “điên”, đó chỉ là một “cơn bệnh” giúp nhân vật “tôi” thêm minh mẫn và sáng suốt Đến khi nhìn thấy đôi mắt của lão già hàng xóm, nhân vật “tôi” cảm thấy các mạch máu trên khắp cơ thể như đang đông cứng lại
và chỉ còn biết đứng chờ con mắt đó xỉa xói, cấu rỉa đi từng mảnh da thịt trên thân thể mình
Trang 10Một trạng thái hoang tưởng khiến cho nỗi hận thù dành cho đôi mắt đáng thương cứ không ngừng tăng lên và mỗi khi nhìn thấy đôi mắt ấy, nhân vật “tôi” không tài nào bình tĩnh được Sự hoang tưởng, ám ảnh đã khiến ham muốn được phá hủy, giết chóc tồn tại sâu trong vô thức của nhân vật “tôi” trỗi dậy mạnh mẽ hình thành nên tội ác Nhưng dù khao khát, nhân vật “tôi” vẫn ẩn nhẫn chờ đợi đến một tuần lễ, và dùng một tuần lễ đó để quan sát, lên kế hoạch sao cho hành vi sát nhân diễn ra một cách hoàn hảo
Đến đêm thứ tám, ngày mà nhân vật "tôi" quyết định sẽ thực hiện sự "trừng phạt" dành cho đôi mắt ấy Một sự khoan khoái tồn tại trong nhân vật "tôi" khi đang đi dần đến thành quả chiến thắng Không hề có sự run rẩy, hối hận hay chùn bước vì hành vi sắp sửa giết người của mình, trái lại, đó là sự minh mẫn, tỉnh táo và hưng phấn Khi sắp sửa thực hiện tội ác, nhân vật "tôi" nghe thấy một tiếng rên đau đớn của lão già "Đó là âm trầm run rẩy phát xuất tận đáy lòng người ta bàng hoàng tê dại Tôi biết rõ cái tiếng ấy Nhiều đêm đúng nửa khuya, khi cả thế gian đã ngủ kỹ, cái tiếng ấy chợt vọt lên trong lồng ngực của tôi trong tận cùng sâu thẳm, cái tiếng ấy vang vọng khủng khiếp và nỗi sợ hãi đày đọa, dày vò tôi." Dường như đó là "tiếng chuông" nhân đạo cuối cùng mà nhân vật "tôi" nghe thấy trước khi thực hiện hành vi sát nhân của mình
Nhân vật "tôi" tự gọi mình là "thần chết" - người có thể tự do, dễ dàng lấy đi sinh mệnh của ai đó, chứng tỏ nhân vật "tôi" cũng cho mình cái quyền được hủy hoại đôi mắt đáng hận kia của lão già Và khi ánh sáng mỏng manh chiếu thẳng vào đôi mắt kền kền ấy
"Con mắt mở lớn, căng tròn xoe khiến tôi điên tiết Tôi đã thấy rõ nó với đầy đủ các đặc điểm màu xanh chết giả và lớp màng đục đục gớm ghiếc Tất cả cứ khiến tôi lạnh rủn đến tận xương tủy." Đôi mắt hiện rõ mồn một trước mặt nhân vật "tôi" với đầy đủ những đặc điểm mà nhân vật "tôi" căm ghét, khiến cho "tôi không thể thấy bộ mặt và hình dáng của lão, vì, tựa như bản năng, tôi đã chiếu tia sáng đúng ngay cái chỗ đáng nguyền rủa ấy." Mọi thứ xung quanh đều trở nên vô nghĩa, nhân vật "tôi" chỉ tập trung vào đôi mắt đó, như một “vị thần chết” mang trong mình quyền năng đến để hủy hoại đôi mắt ấy, khiến nó biến mất khỏi cuộc đời này mãi mãi