TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ =====000===== TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC PHÉP BIỆN CHỨNG VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN VÀ VẬN DỤNG PHÂN TÍCH MỐI LIÊN HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ BẢO VỆ MÔI TR.
Trang 1KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
=====000=====
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
PHÉP BIỆN CHỨNG VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN
VÀ VẬN DỤNG PHÂN TÍCH MỐI LIÊN HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG SINH THÁI
Sinh viên thực hiện:
Số thứ tự: Mã sinh viên:
Lớp:
Lớp tín chỉ:
Giảng viên hướng dẫn:
Hà Nội - 4/2022
Trang 2MỤC LỤC DANH MỤC VIẾT TẮT
LỜI MỞ ĐẦU 3
I LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÉP BIỆN CHỨNG VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN VÀ CÁC KHÁI NIỆM LIÊN QUAN 5
1 Phép duy vật biện chứng 5
2 Mối liên hệ phổ biến 6
3 Tăng trưởng kinh tế 8
4 Bảo vệ môi trường sinh thái 9
II PHÂN TÍCH MỐI LIÊN HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ SỰ AN NGUY CỦA MÔI TRƯỜNG SINH THÁI 10
1 Bản chất tăng trưởng kinh tế trong thị trường tự do nhất quyết xung sẽ ảnh hưởng tiêu cực tới môi trường sinh thái 10
2 Sự ảnh hưởng của tăng trưởng kinh tế đến bảo vệ môi trường trong các hoạt động cụ thể 11
2.1 Hoạt động khai thác 11
2.2 Hoạt động sản xuất 12
2.3 Hoạt động vận chuyển 13
2.4 Hoạt động xử lý rác thải 14
3 Sự ảnh hưởng của công việc bảo vệ môi trường tới tăng trưởng kinh tế.14 III GIẢI PHÁP CHO VẤN ĐỀ CÂN BẰNG GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 15
KẾT LUẬN 17 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 3DANH MỤC VIẾT TẮT
(Gross Domestic Products)
(Gross National Products)
(Per Capita Income)
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Thế giới mà chúng ta đang sống chính là một mạng lưới rộng lớn nơi có hàng vạn mối liên hệ, gắn kết bền chặt, đó mối liên hệ giữa tự nhiên với tự nhiên, giữa tự nhiên và xã hội, hoặc giữa xã hội và xã hội, Thiếu đi hay có bất
cứ yếu tố nào suy giảm đều gây ra sự mất cân bằng trong sự vận hành của thế giới Môi trường – một mắt xích thiết yếu – cũng không nằm ngoài những yếu tố quan trọng đó
Nhưng con người có thực sự ý thức và hiểu rõ được tầm quan trọng của môi trường khi mà mỗi ngày, hàng loạt thông tin tiêu cực ảnh hưởng đến môi trường liên tục xuất hiện? Hiện nay, trái đất ngôi nhà chung của chúng ta với gần 8 tỷ người đang sinh sống, đang phải oằn mình gánh chịu những hậu quả nặng nề, tình trạng ô nhiễm, suy thoái môi trường ngày càng gay gắt Với tốc độ phá hoại môi trường như hiện nay của con người, môi trường của chúng ta đang dần bị suy thoái, mối liên kết của các mạng lưới sự sống đang dần bị phá vỡ Kinh tế đang tăng trưởng ngày càng nhanh, một mặt nó nâng cao đời sống của người dân, nhưng mặt khác, nó đang gây một sức ép mạnh mẽ lên môi trường tự nhiên Cũng như các nước đang phát triển khác, để đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế trong thời gian trước mắt, chúng ta đang phải đánh đổi sự bền vững của các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong thời gian dài Các mạng lưới đang dần mất đi sức mạnh của nó
Từ cuối thế kỷ XX, chủ đề liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái đã luôn là chủ đề rất nóng hổi Vào thời điểm này, cộng đồng khoa học thế giới đã xác định được sự thay đổi khí hậu gây ra phần lớn là do tác động của con người, và sự biến đổi này đã có những ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của chúng ta Vì vậy, phân tích vấn đề này bằng phương pháp biện chứng duy vật là phương pháp tất yếu cho mỗi nhà chính trị gia, nhằm đưa ra chính sách và chủ trương phát triển
Cũng chính vì thế, em quyết định chọn đề tài này để nghiên cứu, “Phép
biện chứng về mối liên hệ phổ biến và vận dụng phân tích mối liên hệ giữa
Trang 5tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái” Em mong muốn có thể
tìm hiểu một cách sâu hơn, cũng như đóng góp một phần công sức nho nhỏ của mình vào công cuộc tìm kiếm con đường phát triển đất nước, đưa Việt Nam lên ngang tầm với những nước phát triển trên thế giới
Sau khi đọc tham khảo những nghiên cứu với chủ đề tương tự, em nhận thấy phần lớn mọi người phân tích theo phương hướng khoanh vùng kinh tế hoặc theo chiều dọc lịch sử phát triển kinh tế Tuy vậy em chưa nhận thấy được
ai gợi tả được độ tác động và gắn bó của sự tăng trưởng kinh tế tới môi trường Qua bài tiểu luận này, em muốn phân tích theo khía cạnh ngược lại, chia thành các hoạt động phân đoạn của một sản phẩm để xét sự liên hệ giữa hai yếu tố, để mọi người nhận ra độ nghiêm trọng và phức tạp của vấn đề
Kết cấu tiểu luận gồm 3 mục:
I Lý luận chung về phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến và các khái niệm liên quan
II Phân tích mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế và sự an nguy của môi trường sinh thái
III Giải pháp cho vấn đề cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường
Trang 6I LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÉP BIỆN CHỨNG VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN VÀ CÁC KHÁI NIỆM LIÊN QUAN
1 Phép duy vật biện chứng
Phép biện chứng duy vật do C Mác và Ph.Ăngghen xây dựng trên cơ sở kế
thừa có phê phán hạt nhân hợp lý trong phép biện chứng của G.W.Ph.Hêghen, là phép biện chứng dựa trên nền tảng của chủ nghĩa duy vật, xuất phát từ biện chứng khách quan của tự nhiên và xã hội
Theo Ph.Ăngghen :“Phép biện chứng chẳng qua chỉ là môn khoa học về
những quy luật phổ biến của sự vận động và sự phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy” (C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, NXB Chính trị
Quốc gia, Hà Nội, 2002, t.20, tr.20)
Khi nhấn mạnh vai trò của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, Ph.Ăngghen
còn đưa ra một định nghĩa khác về phép biện chứng duy vật: “Phép biện chứng
là khoa học về sự liên hệ phổ biến” Khi nhấn mạnh vai trò của nguyên lý về sự
phát triển trong phép biện chứng mà C.Mác đã kế thừa từ triết học của Hêghen, V.I.Lênin cho rằng, trong số những thành quả đó thì thành quả chủ yếu là phép biện chứng, tức là học thuyết về sự phát triển, dưới hình thức hoàn bị nhất, sâu sắc nhất và không phiến diện, học thuyết về tính tương đối của nhận thức của con người, nhận thức này phản ánh vật chất luôn luôn phát triển không ngừng
*
Đặc trưng cơ bản và vai trò của phép biện chứng duy vật
Xét từ góc độ kết cấu nội dung, phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác-Lênin có hai đặc trưng cơ bản sau:
Một là, phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác-Lênin là phép biện
chứng được xác lập trên nền tảng của thế giới quan duy vật khoa học
Hai là, trong phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác Lênin có sự
thống nhất giữa nội dung của thế giới quan (duy vật biện chứng) với phương pháp luận (biện chứng duy vật) do đó, nó không dừng lại ở sự giải thích thế giới
mà còn là công cụ để nhận thức thế giới và cải tạo thế giới Mỗi nguyên lý, quy luật trong phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác-Lênin không chỉ là sự
Trang 7giải thích đúng đắn về tính biện chứng của thế giới mà còn là phương pháp luận khoa học của việc nhận thức và cải tạo thế giới Với những đặc trưng cơ bản trên
mà phép biện chứng duy vật giữ vai trò là nội dung đặc biệt quan trọng trong thế giới quan và phương pháp luận triết học của chủ nghĩa Mác-Lênin, tạo nên tính khoa học và tính cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin, đồng thời nó cũng là thế giới quan và phương pháp luận chung nhất của hoạt động sáng tạo trong các lĩnh vực nghiên cứu khoa học
2 Mối liên hệ phổ biến
Trong phép biện chứng duy vật, mối liên hệ là phạm trù triết học dùng để chỉ sự quy định, sự tác động qua lại, sự chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật,
hiện tượng hay giữa các mặt của một sự vật, của một hiện tượng trong thế giới
Ví dụ như trong tự nhiên tồn tại mối liên hệ giữa động vật và thực vật, giữa thực vật và khí hậu,… Mối liên hệ gồm các tính chất cơ bản như: tính khách quan của các mối liên hệ, tính phổ biến của các mối liên hệ, tính đa dạng, phong phú của mối liên hệ
Tính khách quan của các mối liên hệ: Theo quan điểm biện chứng duy vật, các mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng của thế giới là có tính khách quan Sự
quy định, tác động và chuyển hóa lẫn nhau của các sự vật, hiện tượng hoặc trong bản thân chúng là cái vốn có của nó, tồn tại độc lập không phụ thuộc vào ý chí con người; con người chỉ có khả năng nhận thức và vận dụng các mối liên hệ đó trong hoạt động thực tiễn của mình
Tính phổ biến của mối liên hệ: Phép biện chứng duy vật khẳng định không
có bất cứ sự vật, hiện tượng hay quá trình nào tồn tại một cách riêng lẻ, cô lập
tuyệt đối với các sự vật, hiện tượng hay quá trình khác mà trái lại chúng tồn tại trong sự liên hệ, ràng buộc, phụ thuộc, tác động, chuyển hóa lẫn nhau Không có bất cứ sự vật, hiện tượng nào không phải là một cấu trúc hệ thống, bao gồm các yếu tố cấu thành với những mối liên hệ bên trong của nó, tức là bất cứ một tồn tại nào cũng là một hệ thống mở tồn tại trong mối liên hệ với hệ thống khác, tương tác và làm biến đổi lẫn nhau
Trang 8Tính đa dạng, phong phú của mối liên hệ: Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin khẳng định mối liên hệ còn có tính phong phú, đa dạng Tính chất này
được biểu hiện ở chỗ: các sự vật, hiện tượng hay quá trình khác nhau đều có những mối liên hệ cụ thể khác nhau, giữ vị trí, vai trò khác nhau đối với sự tồn tại và phát triển của nó; mặt khác, cùng một mối liên hệ nhất định của sự vật nhưng trong những điều kiện cụ thể khác nhau, ở những giai đoạn khác nhau trong quá trình vận động, phát triển của sự vật thì cũng có tính chất và vai trò khác nhau Do đó, không thể đồng nhất tính chất, vị trí, vai trò cụ thể của các mối liên hệ khác nhau đối với mỗi sự vật, hiện tượng trong những điều kiện xác định
Mối liên hệ phổ biến dùng để chỉ tính phổ biến của các mối liên hệ của các
sự vật, hiện tượng của thế giới, đồng thời cũng dùng để chỉ các mối liên hệ tồn tại ở nhiều sự vật, hiện tượng của thế giới Trong đó, những mối liên hệ phổ biến nhất là những mối liên hệ ở mọi sự vật, hiện tượng của thế giới, đó là mối liên
hệ giữa các mặt đối lập, lượng và chất, khẳng định và phủ định, cái chung và cái riêng, bản chất và hiện tượng…
Trên thực tế, mối liên hệ biểu hiện rất phong phú, đa dạng; cùng một sự vật, hiện tượng có nhiều mối liên hệ khác nhau chi phối Đồng thời, có một mối liên hệ nào đó có thể chi phối được nhiều sự vật, hiện tượng Bên cạnh mối liên
hệ phổ biến, căn cứ vào tính chất, đặc trưng của từng mối liên hệ, có thể phân loại thành các mối liên hệ sau: mối liên hệ bên trong và bên ngoài, mối liên hệ trực tiếp và gián tiếp, mối liên hệ chủ yếu và thứ yếu, mối liên hệ cơ bản và không cơ bản, mối liên hệ cụ thể, mối liên hệ chung,… Mỗi loại mối liên hệ nêu
ra trên đây có vai trò khác nhau đối với sự vận động và phát triển của sự vật; chẳng hạn, mối liên hệ bên trong là sự tác động qua lại, sự quy định, sự chuyển hoá lẫn nhau giữa các yếu tố, các thuộc tính, các mặt trong một sự vật, hiện tượng Mối liên hệ này giữa vai trò quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng đó Còn mối liên hệ bên ngoài là mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng với nhau, không giữ vai trò quyết định đối với sự tồn tại, vận
Trang 9động và phát triển của sự vật, hiện tượng Nó thường phải thông qua mối liên hệ bên trong mới có thể tác động đối với sự tồn tại, vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng
Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến là cơ sở lý luận của quan điểm toàn diện, quan điểm lịch sử - cụ thể
Điển hình như từ tính khách quan và tính phổ biến của các mối liên hệ đã cho thấy trong hoạt động nhận thức và thực tiễn cần phải có quan điểm toàn diện Quan điểm toàn diện đòi hỏi trong nhận thức và xử lý các tình huống thực tiễn phải xem xét sự vật, hiện tượng trong mối quan hệ biện chứng qua lại giữa các bộ phận, các yếu tố, giữa các mặt của chính sự vật, hiện tượng và sự tác động qua lại giữ sự vật, hiện tượng đó với các sự vật, hiện tượng khác Trên cơ
sở đó mới có nhận thức đúng về sự vật, hiện tượng và xử lý có hiệu quả các vấn
đề của đời sống thực tiễn Như vậy, quan điểm toàn diện đối lập với quan điểm
phiến diện, siêu hình trong nhận thức và thực tiễn V.I.Lênin cho rằng: “Muốn thực sự hiểu được sự vật, cần phải nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các mặt, tất cả các mối liên hệ và “quan hệ giao tiếp” của sự vật đó”.
Từ tính chất đa dạng, phong phú của các mối liên hệ cho thấy trong hoạt động nhận thức và thực tiễn thì đồng thời phải kết hợp quan điểm toàn diện với quan điểm lịch sử - cụ thể Quan điểm lịch sử - cụ thể yêu cầu việc nhận thức và
xử lý các tình huống trong hoạt động thực tiễn cần phải xét đến những tinh chất đặc thù của đối tượng nhận thức và tình huống phải giải quyết khác nhau trong thực tiễn Phải xác định rõ vị trí, vai trò khác nhau của mối liên hệ cụ thể trong những tình huống cụ thể để từ đó có được những giải pháp đúng đắn và có hiệu quả trong việc xử lý các vấn đề thực tiễn Như vậy, trong nhận thức và thực tiễn không những cần phải tránh và khắc phục quan điểm phiến diện, siêu hình mà còn phải tránh và khắc phục quan điểm chiết trung, ngụy biện
Trang 103 Tăng trưởng kinh tế
Quy mô của một nền kinh tế thể hiện bằng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng sản phẩm quốc gia (GNP), hoặc tổng sản phẩm bình quân đầu người
hoặc thu nhập bình quân đầu người (Per Capita Income, PCI).
Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Products, GDP) hay tổng sản
phẩm trong nước là giá trị tính bằng tiền của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được sản xuất, tạo ra trong phạm vi một nền kinh tế trong một thời gian nhất định (thường là một năm tài chính)
Tổng sản phẩm quốc gia (Gross National Products, GNP) là giá trị tính
bằng tiền của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được tạo ra bởi công dân một nước trong một thời gian nhất định (thường là một năm) Tổng sản phẩm quốc dân bằng tổng sản phẩm quốc nội cộng với thu nhập ròng
Tổng sản phẩm bình quân đầu người là tổng sản phẩm quốc nội chia cho dân số Tổng thu nhập bình quân đầu người là tổng sản phẩm quốc gia chia cho dân số
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của GDP hoặc GNP hoặc thu nhập bình quân đầu người trong một thời gian nhất định Tăng trưởng kinh tế thể hiện sự thay đổi về lượng của nền kinh tế Tuy vậy ở một số quốc gia, mức độ bất bình đẳng kinh tế tương đối cao nên mặc dù thu nhập bình quân đầu người cao nhưng nhiều người dân vẫn sống trong tình trạng nghèo khổ
4 Bảo vệ môi trường sinh thái
Môi trường sinh thái là một mạng lưới chỉnh thể, hữu cơ, có mối liên hệ chặt chẽ với nhau giữa đất, nước không khí và cơ thể sống trong phạm vi toàn cầu Sự rối loạn bất ổn định ở khâu nào đó trong hệ thống sẽ gây ra hệ quả nghiêm trọng Con người và xã hội xuất thân từ tự nhiên, là một bộ phận của thiên nhiên Môi trường cung cấp cho ta không gian để sống, nguồn tài nguyên
để sản xuất và cũng chính là nơi chứa đựng rác thải Vì vậy, bảo vệ môi trường cũng là bảo vệ sự sống của chúng ta Bảo vệ môi trường sinh thái là giữ cho môi trường luôn trong lành, sạch đẹp, đảm bảo cân bằng sinh thái, cải thiện môi
Trang 11trường, đồng thời ngăn chặn, khắc phục hậu quả xấu do con người và thiên nhiên tạo ra, khai thác và sử dụng hợp lí nguồn tài nguyên Đây chính là nhiệm
vụ trọng yếu, cấp bách của mỗi quốc gia, là sự nghiệp của toàn dân, là trách nhiệm của bất kì tổ chức cá nhân nào Có bảo vệ tốt thì cuộc sống chúng ta mới phát triển tốt đẹp bền vững và lâu dài
II PHÂN TÍCH MỐI LIÊN HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ
SỰ AN NGUY CỦA MÔI TRƯỜNG SINH THÁI
Theo phép biện chứng duy vật, không có một sự vật, hiện tượng nào tồn tại, phát triển riêng rẽ Xuất phát từ bản thân tính biện chứng của thế giới mỗi sự vật, hiện tượng là một thể thống nhất, không có sự vật hiện tượng nào tồn tại một cách cô lập, biệt lập mà chúng là một thể thống nhất
Không thuộc ngoại lệ, tăng trưởng kinh tế và môi trường sinh thái có một
mối liên kết chặt chẽ không thể tách rời Chính phủ đã phải dựa vào nghiên cứu
về tác động qua lại này để quy hoạch và đề ra các chính sách ảnh hưởng cả hai Phần lớn các trường hợp, những ảnh hưởng này từ tăng trưởng kinh tế lại không may là tiêu cực Sự liên kết này sẽ được thể hiện ở các mặt sau đây:
1 Bản chất tăng trưởng kinh tế trong thị trường tự do nhất quyết xung sẽ ảnh hưởng tiêu cực tới môi trường sinh thái
Tăng trưởng kinh tế như nói trên được biểu thị bằng tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội Điều này có nghĩa là hoạt động sản xuất diễn ra với cường độ và tần số càng lớn thì tăng trưởng càng lớn Phần lớn các quốc gia và lãnh thổ trên thế giới đánh đồng sự tăng trưởng này với thước đo cho sự phát triển đất nước,
độ hiệu quả của bộ máy chính phủ điều chế kinh tế Tuy vậy, nhiều nhà kinh tế
đã thông thái tách định nghĩa này với “phát triển kinh tế” khi nhận ra “tăng trưởng” này không tích cực hay bền vững Đất nước có thể tăng trưởng trong khi chất lượng sống của nhân dân không phát triển theo, công nghệ kĩ thuật chưa chắc đã phát triển cùng, dân trí vẫn có thể giảm Sự phát triển kinh tế nhất thiết phải là công cụ cho mục tiêu cơ bản nhất: cuộc sống hạnh phúc nhất có thể cho con người, một cộng đồng khoẻ mạnh, bền vững về mặt tài chính, dân trí cao,…