MỤC LỤC 1 Những vấn đề lí thuyết 1 1 1 Ernest Hemingway – Cuộc đời và sự nghiệp 1 1 1 1 Đôi nét về cuộc đời 1 1 1 2 Sự nghiệp văn chương mải miết và đa dạng 2 1 1 3 Hệ thống đề tài và đặc điểm sáng tá.Ernest Miller Hemingway sinh ngày 21 tháng 7 năm 1899 tại Oak Park,Illinois. Ba ông là bác sĩ Clarence Edmonds Hemingway, mẹ là ca sĩ giáo viên dạynhạc Grace Hall Hemingway, ông Clarence và bà Grace kết hôn năm 1896, Ernest làngười con đầu tiên của ông bà, con thứ hai trong sáu anh em nhà Hemingway.Sự ra đời của Ernest Hemingway là một sự kiện lớn trong gia đình khi chínhbác sĩ Clarence đã thổi tù và để thông báo về cậu con trai thứ hai. Tên của ông đượcđặt trùng với ông ngoại Ernest Miller Hall người Anh nhập cư và từng là quân nhântham gia cuộc Nội chiến Mĩ. Mẹ của Ernest Hemingway là một người sùng đạo và rấtđộc đoán sự chi phối của bà đối với người con trai đầu tiên đã tác động không ít đếnông khiến ông “thực sự ghét mẹ mình”1 và dần xa cách bà. Ông có thiên hướngnghiêng về ba mình nhiều hơn, nhiều sở thích giống ba như đi săn, câu cá hay cắmtrại, tham gia các môn thể thao, và khi trưởng thành, ông đã có thời gian tham giahàng ngũ quân y của Quân đội Mĩ trong Thế chiến I. Bác sĩ Clarence Hemingway đãtạo nên trong con trai tình yêu với thiên nhiên, và đam mê phiêu lưu khám phá, hìnhảnh người bố làm bác sĩ sau này trở thành cảm hứng cho Hemingway viết chuỗitruyện ngắn về bác sĩ Nick Adams.Thời trung học, Ernest Hemingway đã tham gia nhiều hoạt động thể thao, đồngthời viết lách cho các tờ báo trường, sau khi tốt nghiệp, Hemingway không học đạihọc mà tham gia vào toà báo The Kansas City Star với tư cách là một phóng viên(101917 41918).Ernest Hemingway đã tham gia vào quân đội trong cả hai cuộc chiến tranh thếgiới, với vai trò tài xế quân y trong Thế chiến I vào những năm cuối cuộc chiến (1917 1918) trên hai mặt trận Paris và Italia, ông bị thương vào tháng 71918 và phải trở vềMilan điều trị. Tháng 81942, khi Mĩ nhúng tay vào Thế Chiến II, Ernest Hemingwaytham gia vào hải quân Mĩ, thực hiện nhiệm vụ trên tàu Pilar (con tàu do ông hiến tặngcho quân đội) và sau đó trở thành phóng viên chiến tranh. Trải nghiệm từ hai cuộcchiến tranh thế giới đã ảnh hưởng rất nhiều trong suốt sự nghiệp sáng tác Hemingway.Tháng 11954, khi đang ở Africa, hai tai nạn máy bay liên tiếp xảy ra khiếnErnest Hemingway bị đa chấn thương và bỏng nặng. Ảnh hưởng từ hai vụ tai nạn xảyra lớn đến mức sức khoẻ của Hemingway gần như kiệt quệ, sau này ông còn mắcchứng nghiện rượu, sức khoẻ ngày càng đi xuống. Tháng 111960, Hemingway đếnBệnh viện Mayo Clinic tại Idaho để điều trị cao huyết áp, viêm gan cùng nhiều chứngbệnh khác (về cả thể chất lẫn tinh thần) nơi liệu pháp sốc điện được sử dụng đã ảnhhưởng rất lớn lên khả năng viết, đồng thời khiến tinh thần nhà văn ngày càng suy kiệt.Sau hai tháng điều trị, Ernest Hemingway trở về nhà, chán nản vì không thể viết, ông1 Theo Wallace Stevens.2nỗ lực tự tử ba lần trước khi trở lại Bệnh viện Mayo vào mùa xuân 1961. Cố thuyếtphục các bác sĩ rằng bản thân đủ sức khoẻ để xuất viện mặc sự phản đối của MaryWelsh (người vợ thứ tư), Ernest Hemingway trở về nhà và vài ngày sau (tức ngày271961), ông tự bắnvào đầu bằng súng săn tại nhà riêng ở Ketchum, Idaho, chỉ vài tuần trước sinh nhật lầnthứ 62 của mình, kết thúc cuộc đời của một nhà văn Mĩ vĩ đại.1.1.2. Sự nghiệp văn chương mải miết và đa dạngErnest Hemingway sáng tác rất chăm chỉ và đa dạng thể loại, các tác phẩm củaông trải dài từ truyện ngắn, tiểu thuyết, thơ, kịch đến ký sự, phóng sự, tuỳ bút, nghịluận và cả kịch bản phim (Trần Thị Thuận, 1999, tr.19).Ngay từ khi học trung học tại Oak Park and River Forest (91913 61917),Ernest Hemingway đã cho thấy khả năng thiên bẩm về văn học khi luôn là học sinhnổi bật trong các giờ học tiếng Anh, ông viết cho tờ báo trường Trapeze và từng giữchức vụ biên tập, đồng thời tham gia viết niên giám Tabula của trường. Sau khi tốtnghiệp trung học, ông làm phóng viên cho The Kansas City Star trong khoảng 6 thángvà trở thành một phóng viên ưu tú của toà báo. Thời gian ông viết cho The KansasCity Star không dài nhưng đã góp phần rất lớn định hình phong cách sáng tác màHemingway đã tuân theo suốt cả đời văn của mình lối viết gãy gọn, gắn liền với chủnghĩa tối giản, cách hành văn đơn giản theo chủ trương của toà báo “Use shortsentences. Use short first paragraphs. Use vigorous English. Be positive, notnegative.”2.Sau này, khi tham gia Chiến tranh Thế giới thứ Nhất, những trải nghiệm thực tếcủa Ernest Hemingway đã trở thành nguồn cảm hứng mạnh mẽ cho các sáng tác củaông: trải nghiệm lần đầu chứng kiến cái chết trong Death in the Afternoon (Chết trongbuổi xế chiều, 1932); chuyện tình của Hemingway với Agnes von Kurowsky tại Milantrong thời gian ông điều trị thương tích chiến tranh trở thành nguồn cảm hứng cho AVery Short Story (Một chuyện rất ngắn, 1925) và A Farewell to Arms (Giã từ vũ khí,1929);...Năm 1919, sau những điều trị kéo dài do vết thương chiến tranh, ErnestHemingway trở về sống cùng ba mẹ, đầu năm 1920, ông chuyển đến Toronto làmphóng viên, nhà báo viết cho tờ Toronto Star Weekly, trợ lý biên tập cho The HTXCommonwealth. Ngày 3 tháng 9 năm 1921, Hemingway kết hôn cùng người vợ đầutiên là Hadley Ribardson và chuyển đến Chicago. Từ tháng 121921, ông và vợ rờikhỏi Chicago và chuyển đến Paris (Pháp), tại đây ông đã xuất bản Three Stories andTen Poems (Ba câu chuyện và Mười bài thơ, 1923).Năm 1925, ông xuất bản truyện ngắn đầu tiên trong sự nghiệp văn chương làIn Our Time (Trong thời đại của chúng ta), một năm sau đó cuốn tiểu thuyết The Sun2 Tạm dịch: “Sử dụng những câu văn ngắn. Sử dụng những đoạn mở đầu ngắn. Sử dụng thứ tiếng Anhhùng hồn. Phải khẳng định, không phủ nhận”.3Also Rises (Mặt trời vẫn mọc) in vào tháng 101926 cùng đề tài chiến tranh đã mangông đến gần hơn với độc giả, cho đến 1929, cuốn tiểu thuyết bán tự truyện A Farewellto Arms (Giã từ vũ khí) đem tên tuổi Ernest Hemingway đi khắp thế giới. Sự nghiệpvăn chương của ông tiếp tục phát triển trong suốt những năm sau đó với nhiều tácphẩm chất lượng: Death in the Afternoon (1932), Green Hills of Africa (Đồi xanhchâu Phi, 1935), The Snows of Kilimanjaro (Tuyết trên đỉnh Kilimanjaro, 1936), bộtruyện ngắn nổi tiếng The Fifth Column and the First FortyNine Stories (Cột thứ nămvà 49 truyện đầu tiên, 1938), For Whom the Bell Tolls (Chuông nguyện hồn ai,1939),...Sau khi Thế Chiến II kết thúc, Ernest Hemingway viết bộ ba tác phẩm The Seatại Cuba, mà quyển thứ ba trong đó được xuất bản với nhan đề The Old Man and theSea (Ông già và Biển cả,1952) đã trở thành tác phẩm đỉnh cao trong sự nghiệp sángtác của Ernest Hemingway. Ông già và Biển cả đã mang về cho Ernest Hemingwayhai giải thưởng lớn là Pulitzer 1953 và Nobel Văn học 1954. Sau thời gian này, vớinhiều biến cố xảy ra trong cuộc sống, sức khoẻ của Ernest Hemingway suy yếu dần,tác phẩm được xuất bản của ông chủ yếu là các truyện ngắn gửi in trên tạp chí LifeMagazine, trong đó có The Dangerous Summer (Mùa hè nguy hiểm, 1960). Sau khiông mất, một số tác phẩm được ông viết trong khoảng thời gian cuối đời và các tácphẩm chưa từng xuất bản được công bố bởi gia đình nhà văn, góp thêm vào sự nghiệpvăn học vô cùng lẫy lừng của Ernest Hemingway.1.1.3. Hệ thống đề tài và đặc điểm sáng tácVề đề tài, sáng tác của Ernest Hemingway thường tập trung vào chiến tranh,những cuộc phiêu lưu, cái chết,... Là quân nhân Mĩ trong cả hai cuộc chiến tranh thếgiới, trải nghiệm chiến tranh, ấn tượng về cái chết đã ăn sâu vào sáng tác Hemingway các tác phẩm truyện ngắn, tiểu thuyết của ông hầu hết đều có sự xuất hiện của nhữngyếu tố này. Bên cạnh đó, những ký ức tuổi thơ cũng trở thành chất liệu sáng tác vănchương. Theo PGS.TS. Trần Thị Thuận, thế giới truyện của Hemingway gắn liền vớiđời sống thế sự của nhà văn, các sự kiện, trải nghiệm trong cuộc đời Hemingway đượcông đưa vào trang sách. Cụ thể: thời thơ ấu của Hemingway qua The Doctor and theDoctors Wife (Bác sĩ và vợ, 1925), Indian Camp (Trại người da đỏ, 1925), TenIndians (Mười người da đỏ, 1927),...; viết về chiến tranh A Very Short Story (Mộtchuyện rất ngắn, 1925), The Butterfly and the Tank (Cánh bướm và xe tăng,1938),...về thời hậu chiến như Cross Country Snow (Tuyết ngang miền quê, 1924),Big TwoHearted River (Sông lớn hai lòng, 1925),... ngoài ra, sáng tác Hemingwaycòn lấy chất liệu từ những cuộc phiêu lưu của ông đến nhiều vùng đất khác trên thếgiới như The Short Happy Life of Francis Macomber (Cuộc sống hạnh phúc ngắnngủi của Francis Macomber, 1936), Green Hills of Africa (Đồi xanh châu Phi, 1935),The Snows of Kilimanjaro (Tuyết trên đỉnh Kilimanjaro, 1936),... (Trần Thị Thuận,1999, tr.31).4Về đặc điểm sáng tác, Ernest Hemingway chính là người đề ra và phát triểnNguyên lí Tảng băng trôi (Iceberg Theory) giới thiệu lần đầu tiên trong Death in theAfternoon (Chết trong buổi xế chiều, 1932), Hemingway đã đề cập đến hình ảnh tảngbăng trôi như một nguyên lí sáng tác của mình (Đào Ngọc Chương, 2001, tr.8). Saunày, trong A Moveable Feast (Hội hè miên man, 1964), Hemingway cho biết ý tưởngvề lý thuyết lược bỏ (nền tảng phát triển nguyên lí tảng băng trôi) đã có từ 1923: “Tôiđã bỏ qua cái kết thực sự của Out of Season (1923) mà ông già đã treo cổ tự tử. Điềunày đã được bỏ qua dựa trên lý thuyết mới của tôi rằng bạn có thể bỏ qua bất cứ điềugì. ... Và phần bị bỏ qua sẽ củng cố câu chuyện.” (Dẫn theo Barles M. Oliver, 1999).Sau này, khi nghiên cứu các sáng tác của Ernest Hemingway, các nhà nghiên cứuthường chú ý đến Nguyên lí Tảng băng trôi và xem nó như một nguyên lí nền tảng đểđọc Hemingway.Nguyên lí tảng băng trôi dựa trên trường phái Tối giản phát triển rất mạnh ở Mĩtừ cuối những năm 60, sáng tác Hemingway cũng vì thế gắn liền với Chủ nghĩa Tốigiản (Minimalism), theo Nguyễn Phương Khánh (2015): “Trong văn học Mỹ, ErnestHemingway được xem là người đi đầu của trường phái tối giản... sự thiếu vắng vai tròngười dẫn chuyện, trao quyền tạo dựng cốt truyện cho hàng loạt các đối thoại có thểxem là một trong những đặc trưng của văn phong tối giản Hemingway”. Thời gianđầu khi tham gia vào sáng tác, Ernest Hemingway cộng tác với tòa báo The KansasCity Star với chủ trương lối viết tối giản chính điều này đã định hình cho phongcách sáng tác Hemingway. Văn phong Ernest Hemingway ngắn gọn, dùng các câungắn, những đoạn đối thoại ngắn nhưng đầy chiều sâu, chủ nghĩa tối giản là nền tảngtạo nên “tảng băng trôi” với chiều sâu ý nghĩa cho tác phẩm. Ernest Hemingway đượcsuy tôn là người đã khai sinh ra trường phái này tại Hoa Kì chủ trương tinh giản vănchương đến mức tối đa, chủ yếu tập trung vào câu chuyện của nhân vật.Nhân vật là phương diện rất đáng lưu ý trong sáng tác Ernest Hemingway,nhiều công trình nghiên cứu đã chỉ ra sự liên quan giữa chính bản thân tác giả, nhữnghình mẫu đời thực phản chiếu qua các sáng tác của Hemingway, vừa “mang dấu ấnquan niệm của chính tác giả” vừa “chưa hẳn đã là hoá thân của tác giả nhưng là mặtkia mặt hư cấu nghệ thuật của chủ thể ấy, là cái tôi quan niệm của ErnestHemingway: thoát ly và nhập cuộc” (Đào Ngọc Chương, 2001, tr.19). Các nhân vậttrung trong sáng tác Hemingway được cho là mang đặc trưng của Chủ nghĩa Khắc kỷ(Stoicism).Nhìn chung, khi lấy nguyên lí tảng băng trôi làm nền tảng sáng tác, cả lối viếttheo chủ nghĩa tối giản và chiều sâu trong xây dựng nhân vật đều là những đặc điểmnổi bật trong sáng tác Ernest Hemingway.
Trang 1MỤC LỤC
1 Những vấn đề lí thuyết 1
1.1 Ernest Hemingway – Cuộc đời và sự nghiệp 1
1.1.1 Đôi nét về cuộc đời 1
1.1.2 Sự nghiệp văn chương mải miết và đa dạng 2
1.1.3 Hệ thống đề tài và đặc điểm sáng tác 3
1.2 Truyện ngắn Trại người da đỏ 4
1.3 Nguyên lí “tảng băng trôi” - đặc điểm thi pháp truyền tải quan niệm về thế giới của Ernest Hemingway 5
1.4 Chủ đề tự sát và cú sốc trong sáng tác của Ernest Hemingway 8
1.4.1 Hemingway và tự sát 8
1.4.2 Cú sốc trong sáng tác của Ernest Hemingway 10
2 Vận dụng nguyên lí tảng băng trôi phân tích chủ đề tự sát và cú sốc trong truyện ngắn Trại người da đỏ của Ernest Hemingway 12
2.1 Vấn đề tự sát 12
2.2 Vấn đề cú sốc 15
2.2.1 Người đàn ông da đỏ 15
2.2.2 Nick 17
2.2.3 Bác sĩ Adams 20
KẾT LUẬN 22
TÀI LIỆU THAM KHẢO 23
Trang 21 Những vấn đề lí thuyết
1.1 Ernest Hemingway – Cuộc đời và sự nghiệp
1.1.1 Đôi nét về cuộc đời
Ernest Miller Hemingway - sinh ngày 21 tháng 7 năm 1899 tại Oak Park, Illinois Ba ông là bác sĩ Clarence Edmonds Hemingway, mẹ là ca sĩ - giáo viên dạy nhạc Grace Hall Hemingway, ông Clarence và bà Grace kết hôn năm 1896, Ernest là người con đầu tiên của ông bà, con thứ hai trong sáu anh em nhà Hemingway
Sự ra đời của Ernest Hemingway là một sự kiện lớn trong gia đình khi chính bác sĩ Clarence đã thổi tù và để thông báo về cậu con trai thứ hai Tên của ông được đặt trùng với ông ngoại Ernest Miller Hall - người Anh nhập cư và từng là quân nhân tham gia cuộc Nội chiến Mĩ Mẹ của Ernest Hemingway là một người sùng đạo và rất độc đoán - sự chi phối của bà đối với người con trai đầu tiên đã tác động không ít đến
ông khiến ông “thực sự ghét mẹ mình” 1 và dần xa cách bà Ông có thiên hướng nghiêng về ba mình nhiều hơn, nhiều sở thích giống ba như đi săn, câu cá hay cắm trại, tham gia các môn thể thao, và khi trưởng thành, ông đã có thời gian tham gia hàng ngũ quân y của Quân đội Mĩ trong Thế chiến I Bác sĩ Clarence Hemingway đã tạo nên trong con trai tình yêu với thiên nhiên, và đam mê phiêu lưu khám phá, hình ảnh người bố làm bác sĩ sau này trở thành cảm hứng cho Hemingway viết chuỗi truyện ngắn về bác sĩ Nick Adams
Thời trung học, Ernest Hemingway đã tham gia nhiều hoạt động thể thao, đồng thời viết lách cho các tờ báo trường, sau khi tốt nghiệp, Hemingway không học đại
học mà tham gia vào toà báo The Kansas City Star với tư cách là một phóng viên
Tháng 1/1954, khi đang ở Africa, hai tai nạn máy bay liên tiếp xảy ra khiến Ernest Hemingway bị đa chấn thương và bỏng nặng Ảnh hưởng từ hai vụ tai nạn xảy
ra lớn đến mức sức khoẻ của Hemingway gần như kiệt quệ, sau này ông còn mắc chứng nghiện rượu, sức khoẻ ngày càng đi xuống Tháng 11/1960, Hemingway đến Bệnh viện Mayo Clinic tại Idaho để điều trị cao huyết áp, viêm gan cùng nhiều chứng bệnh khác (về cả thể chất lẫn tinh thần) - nơi liệu pháp sốc điện được sử dụng đã ảnh hưởng rất lớn lên khả năng viết, đồng thời khiến tinh thần nhà văn ngày càng suy kiệt Sau hai tháng điều trị, Ernest Hemingway trở về nhà, chán nản vì không thể viết, ông
1 Theo Wallace Stevens.
Trang 3nỗ lực tự tử ba lần trước khi trở lại Bệnh viện Mayo vào mùa xuân 1961 Cố thuyết phục các bác sĩ rằng bản thân đủ sức khoẻ để xuất viện mặc sự phản đối của Mary Welsh (người vợ thứ tư), Ernest Hemingway trở về nhà và vài ngày sau (tức ngày 2/7/1961), ông tự bắn
vào đầu bằng súng săn tại nhà riêng ở Ketchum, Idaho, chỉ vài tuần trước sinh nhật lần thứ 62 của mình, kết thúc cuộc đời của một nhà văn Mĩ vĩ đại
1.1.2 Sự nghiệp văn chương mải miết và đa dạng
Ernest Hemingway sáng tác rất chăm chỉ và đa dạng thể loại, các tác phẩm của ông trải dài từ truyện ngắn, tiểu thuyết, thơ, kịch đến ký sự, phóng sự, tuỳ bút, nghị luận và cả kịch bản phim (Trần Thị Thuận, 1999, tr.19)
Ngay từ khi học trung học tại Oak Park and River Forest (9/1913 - 6/1917), Ernest Hemingway đã cho thấy khả năng thiên bẩm về văn học khi luôn là học sinh
nổi bật trong các giờ học tiếng Anh, ông viết cho tờ báo trường Trapeze và từng giữ chức vụ biên tập, đồng thời tham gia viết niên giám Tabula của trường Sau khi tốt nghiệp trung học, ông làm phóng viên cho The Kansas City Star trong khoảng 6 tháng
và trở thành một phóng viên ưu tú của toà báo Thời gian ông viết cho The Kansas
City Star không dài nhưng đã góp phần rất lớn định hình phong cách sáng tác mà
Hemingway đã tuân theo suốt cả đời văn của mình - lối viết gãy gọn, gắn liền với chủ
nghĩa tối giản, cách hành văn đơn giản theo chủ trương của toà báo “Use short
sentences Use short first paragraphs Use vigorous English Be positive, not negative.”2
Sau này, khi tham gia Chiến tranh Thế giới thứ Nhất, những trải nghiệm thực tế của Ernest Hemingway đã trở thành nguồn cảm hứng mạnh mẽ cho các sáng tác của
ông: trải nghiệm lần đầu chứng kiến cái chết trong Death in the Afternoon (Chết trong
buổi xế chiều, 1932); chuyện tình của Hemingway với Agnes von Kurowsky tại Milan
trong thời gian ông điều trị thương tích chiến tranh trở thành nguồn cảm hứng cho A
Very Short Story (Một chuyện rất ngắn, 1925) và A Farewell to Arms (Giã từ vũ khí,
1929);…
Năm 1919, sau những điều trị kéo dài do vết thương chiến tranh, Ernest Hemingway trở về sống cùng ba mẹ, đầu năm 1920, ông chuyển đến Toronto làm
phóng viên, nhà báo - viết cho tờ Toronto Star Weekly, trợ lý biên tập cho The HTX
Commonwealth Ngày 3 tháng 9 năm 1921, Hemingway kết hôn cùng người vợ đầu
tiên là Hadley Ribardson và chuyển đến Chicago Từ tháng 12/1921, ông và vợ rời
khỏi Chicago và chuyển đến Paris (Pháp), tại đây ông đã xuất bản Three Stories and
Ten Poems (Ba câu chuyện và Mười bài thơ, 1923)
Năm 1925, ông xuất bản truyện ngắn đầu tiên trong sự nghiệp văn chương là
In Our Time (Trong thời đại của chúng ta), một năm sau đó cuốn tiểu thuyết The Sun
2Tạm dịch: “Sử dụng những câu văn ngắn Sử dụng những đoạn mở đầu ngắn Sử dụng thứ tiếng Anh
hùng hồn Phải khẳng định, không phủ nhận”.
Trang 4Also Rises (Mặt trời vẫn mọc) in vào tháng 10/1926 cùng đề tài chiến tranh đã mang
ông đến gần hơn với độc giả, cho đến 1929, cuốn tiểu thuyết bán tự truyện A Farewell
to Arms (Giã từ vũ khí) đem tên tuổi Ernest Hemingway đi khắp thế giới Sự nghiệp
văn chương của ông tiếp tục phát triển trong suốt những năm sau đó với nhiều tác
phẩm chất lượng: Death in the Afternoon (1932), Green Hills of Africa (Đồi xanh
châu Phi, 1935), The Snows of Kilimanjaro (Tuyết trên đỉnh Kilimanjaro, 1936), bộ
truyện ngắn nổi tiếng The Fifth Column and the First Forty-Nine Stories (Cột thứ năm
và 49 truyện đầu tiên, 1938), For Whom the Bell Tolls (Chuông nguyện hồn ai, 1939),…
Sau khi Thế Chiến II kết thúc, Ernest Hemingway viết bộ ba tác phẩm The Sea tại Cuba, mà quyển thứ ba trong đó được xuất bản với nhan đề The Old Man and the
Sea (Ông già và Biển cả,1952) đã trở thành tác phẩm đỉnh cao trong sự nghiệp sáng
tác của Ernest Hemingway Ông già và Biển cả đã mang về cho Ernest Hemingway
hai giải thưởng lớn là Pulitzer 1953 và Nobel Văn học 1954 Sau thời gian này, với nhiều biến cố xảy ra trong cuộc sống, sức khoẻ của Ernest Hemingway suy yếu dần,
tác phẩm được xuất bản của ông chủ yếu là các truyện ngắn gửi in trên tạp chí Life
Magazine, trong đó có The Dangerous Summer (Mùa hè nguy hiểm, 1960) Sau khi
ông mất, một số tác phẩm được ông viết trong khoảng thời gian cuối đời và các tác phẩm chưa từng xuất bản được công bố bởi gia đình nhà văn, góp thêm vào sự nghiệp văn học vô cùng lẫy lừng của Ernest Hemingway
1.1.3 Hệ thống đề tài và đặc điểm sáng tác
Về đề tài, sáng tác của Ernest Hemingway thường tập trung vào chiến tranh,
những cuộc phiêu lưu, cái chết,… Là quân nhân Mĩ trong cả hai cuộc chiến tranh thế giới, trải nghiệm chiến tranh, ấn tượng về cái chết đã ăn sâu vào sáng tác Hemingway
- các tác phẩm truyện ngắn, tiểu thuyết của ông hầu hết đều có sự xuất hiện của những yếu tố này Bên cạnh đó, những ký ức tuổi thơ cũng trở thành chất liệu sáng tác văn chương Theo PGS.TS Trần Thị Thuận, thế giới truyện của Hemingway gắn liền với đời sống thế sự của nhà văn, các sự kiện, trải nghiệm trong cuộc đời Hemingway được
ông đưa vào trang sách Cụ thể: thời thơ ấu của Hemingway qua The Doctor and the
Doctor's Wife (Bác sĩ và vợ, 1925), Indian Camp (Trại người da đỏ, 1925), Ten Indians (Mười người da đỏ, 1927),…; viết về chiến tranh A Very Short Story (Một chuyện rất ngắn, 1925), The Butterfly and the Tank (Cánh bướm và xe tăng,
1938),…về thời hậu chiến như Cross Country Snow (Tuyết ngang miền quê, 1924),
Big Two-Hearted River (Sông lớn hai lòng, 1925),… ngoài ra, sáng tác Hemingway
còn lấy chất liệu từ những cuộc phiêu lưu của ông đến nhiều vùng đất khác trên thế
giới như The Short Happy Life of Francis Macomber (Cuộc sống hạnh phúc ngắn
ngủi của Francis Macomber, 1936), Green Hills of Africa (Đồi xanh châu Phi, 1935), The Snows of Kilimanjaro (Tuyết trên đỉnh Kilimanjaro, 1936),… (Trần Thị Thuận,
1999, tr.31)
Trang 5Về đặc điểm sáng tác, Ernest Hemingway chính là người đề ra và phát triển
Nguyên lí Tảng băng trôi (Iceberg Theory) - giới thiệu lần đầu tiên trong Death in the Afternoon (Chết trong buổi xế chiều, 1932), Hemingway đã đề cập đến hình ảnh tảng
băng trôi như một nguyên lí sáng tác của mình (Đào Ngọc Chương, 2001, tr.8) Sau
này, trong A Moveable Feast (Hội hè miên man, 1964), Hemingway cho biết ý tưởng
về lý thuyết lược bỏ (nền tảng phát triển nguyên lí tảng băng trôi) đã có từ 1923: “Tôi
đã bỏ qua cái kết thực sự của Out of Season (1923) mà ông già đã treo cổ tự tử Điều này đã được bỏ qua dựa trên lý thuyết mới của tôi rằng bạn có thể bỏ qua bất cứ điều
gì […] Và phần bị bỏ qua sẽ củng cố câu chuyện.” (Dẫn theo Barles M Oliver, 1999)
Sau này, khi nghiên cứu các sáng tác của Ernest Hemingway, các nhà nghiên cứu thường chú ý đến Nguyên lí Tảng băng trôi và xem nó như một nguyên lí nền tảng để đọc Hemingway
Nguyên lí tảng băng trôi dựa trên trường phái Tối giản phát triển rất mạnh ở Mĩ
từ cuối những năm 60, sáng tác Hemingway cũng vì thế gắn liền với Chủ nghĩa Tối
giản (Minimalism), theo Nguyễn Phương Khánh (2015): “Trong văn học Mỹ, Ernest
Hemingway được xem là người đi đầu của trường phái tối giản sự thiếu vắng vai trò người dẫn chuyện, trao quyền tạo dựng cốt truyện cho hàng loạt các đối thoại có thể xem là một trong những đặc trưng của văn phong tối giản Hemingway” Thời gian
đầu khi tham gia vào sáng tác, Ernest Hemingway cộng tác với tòa báo The Kansas
City Star - với chủ trương lối viết tối giản - chính điều này đã định hình cho phong
cách sáng tác Hemingway Văn phong Ernest Hemingway ngắn gọn, dùng các câu ngắn, những đoạn đối thoại ngắn nhưng đầy chiều sâu, chủ nghĩa tối giản là nền tảng tạo nên “tảng băng trôi” với chiều sâu ý nghĩa cho tác phẩm Ernest Hemingway được suy tôn là người đã khai sinh ra trường phái này tại Hoa Kì - chủ trương tinh giản văn chương đến mức tối đa, chủ yếu tập trung vào câu chuyện của nhân vật
Nhân vật là phương diện rất đáng lưu ý trong sáng tác Ernest Hemingway, nhiều công trình nghiên cứu đã chỉ ra sự liên quan giữa chính bản thân tác giả, những
hình mẫu đời thực phản chiếu qua các sáng tác của Hemingway, vừa “mang dấu ấn
quan niệm của chính tác giả” vừa “chưa hẳn đã là hoá thân của tác giả nhưng là mặt kia - mặt hư cấu nghệ thuật - của chủ thể ấy, là cái tôi quan niệm của Ernest Hemingway: thoát ly và nhập cuộc” (Đào Ngọc Chương, 2001, tr.19) Các nhân vật
trung trong sáng tác Hemingway được cho là mang đặc trưng của Chủ nghĩa Khắc kỷ (Stoicism)
Nhìn chung, khi lấy nguyên lí tảng băng trôi làm nền tảng sáng tác, cả lối viết theo chủ nghĩa tối giản và chiều sâu trong xây dựng nhân vật đều là những đặc điểm nổi bật trong sáng tác Ernest Hemingway
1.2 Truyện ngắn Trại người da đỏ
Trại người da đỏ là một truyện ngắn của Ernest Hemingway, được xuất bản lần
đầu tiên vào năm 1924 trên tạp chí văn học Transatlantic Review Trước khi được
Trang 6xuất bản vào năm 1924, 8 trang mở đầu của Trại người da đỏ đã bị xóa, và câu chuyện đã được giảm độ dài xuống còn ⅓.
Một năm sau, vào ngày 5 tháng 10 năm 1925, tác phẩm được tái bản trong một ấn bản
mở rộng tuyển tập truyện ngắn đầu tiên của Hemingway có tựa đề In Our Time Sau
đó, Trại người da đỏ được đưa vào tuyển tập The Fifth Column and the First Nine Stories của Hemingway xuất bản vào tháng 10 năm 1938 và sau đó là các ấn bản The Nick Adams Stories (1972) and The Complete Short Stories of Ernest Hemingway: The Finca Vigía Edition (1987)
Forty-Trại người da đỏ xoay quanh câu chuyện nhân vật một cậu bé tên Nick đi theo
cha mình là bác sĩ, tới khu trại người da đỏ để đỡ đẻ cho một sản phụ chuyển dạ nhiều ngày nhưng vẫn chưa sinh được Người phụ nữ đẻ khó, rên la vô cùng dữ dội Chồng của cô nằm im ở giường trên nơi cô nằm Cha của Nick quyết định dùng cách phẫu thuật cho sản phụ để lấy đứa bé ra Người phụ nữ đau đớn cắn chặt lấy tay chú George trong khi chú và 3 người đàn ông da đỏ cố giữ cô lại Sau đó, cha của Nick tán thưởng
chồng người đàn bà da đỏ bởi “anh ta khá im lặng khi chịu đựng” lúc vợ mình sinh
con và định tới xem vết thương ở đùi cho anh ta, thì phát hiện anh ta vì không chịu đựng nổi, đã tự cắt cổ Câu chuyện kết thúc khi họ rời khỏi trại Nick hỏi cha những câu hỏi về sinh và tử Khi ngồi đằng sau thuyền với cha đang chèo thuyền, cậu đinh ninh rằng mình sẽ không bao giờ chết
1.3 Nguyên lí “tảng băng trôi” - đặc điểm thi pháp truyền tải quan niệm về
thế giới của Ernest Hemingway
Nhắc đến Ernest Hemingway, thì cụm từ được nhắc đến nhiều nhất là khái niệm
“nguyên lí tảng băng trôi” (principle of iceberg) Hình ảnh tảng băng trôi một phần nổi, bảy phần chìm đã trở thành kỹ thuật viết văn đặc trưng, có tác dụng như một chiếc chìa khóa vạn năng giúp khai mở cánh cửa của những câu chuyện được viết bởi nhà văn người Mĩ này
Có thể xem xét “nguyên lí tảng băng trôi” như một hình thức cảm nhận, là sự thể nghiệm về con người, thế giới của tác giả, nằm trong tổng thể thi pháp trong các sáng tác của Ernest Hemingway, đặc biệt là thể loại tiểu thuyết “Nguyên lí tảng băng trôi”
là một sự đóng góp độc đáo của Ernest Hemingway vào muôn hình vạn trạng mô hình cuộc sống đa sắc được cảm nhận từ cái nhìn tinh anh của các nhà văn lớn trên thế giới
Trong một cuộc phỏng vấn do George Plimpton thực hiện năm 1958 trên tờ Paris Review, đăng lại trong công trình Hemingway and His Critis, Hemingway thừa nhận:
“Tôi luôn cố gắng viết theo nguyên lí tảng băng trôi cứ một phần bày ra là có bảy phần tám tảng băng dưới nước” Một tác phẩm văn học cũng giống như một tảng
băng trôi, ở đó có một phần nổi và bảy phần chìm Trong đó, một phần nổi chính là tất
Trang 7cả những gì được nhà văn thể hiện trong văn bản văn học, là con chữ nằm ngay ngắn trên mặt giấy mà bất kỳ ai cũng có thể nhìn thấy Từ những con chữ hiện hữu ấy, người đọc phải tự mình suy ngẫm, dùng tất cả những trải nghiệm, tín ngưỡng, định kiến, cảm xúc, riêng của mình để đi tìm kiếm phần chìm còn lại mới có thể hiểu sâu, hiểu rõ, hiểu được căn cốt mà tác phẩm truyền tải
Trong tác phẩm Chết trong chiều (Death in the afternoon, 1932) Ernest Hemingway cũng đã từng bày tỏ: “Nếu một tác giả văn xuôi biết đúng mực về điều
mình đang viết anh ta có thể lược bỏ những thứ mà anh ta biết và người đọc, nếu nhà văn viết đúng mức thật, sẽ có được cái cảm giác về những điều đó cũng mạnh mẽ như thể nhà văn trình bày chúng” Có thể nói, việc “cố gắng bỏ đi tất cả những thứ không cần thiết” không chỉ đòi hỏi nhà văn phải có năng lực, vốn kiến thức sâu rộng về cuộc
sống cùng khả năng tiết chế trong việc thể hiện “những điều trông thấy” nhằm tạo ra những đối thoại đa chiều từ phía độc giả khi cùng đón nhận tác phẩm Đồng thời, nó còn đặt ra thách thức lớn đối với người đọc, đòi hỏi độc giả phải có vốn sống nhất định mới có thể hiểu được thông điệp mà tác giả muốn truyền tải Và việc tiếp nhận được nhiều hay ít thông điệp còn phụ thuộc vào hiểu biết, kinh nghiệm về đời sống, tư
tưởng, tình cảm cũng như năng lực cảm thụ, tư duy của độc giả Tuy nhiên “sau khi
bạn đọc nam nữ đã đọc được điều đó thì nó sẽ trở thành một phần kinh nghiệm của họ
và như thật sự đã xảy ra” [124, 34 - 35] (Một cuộc phỏng vấn Ernest Hemingway do
George Plimpton thực hiện năm 1958 trên tờ Paris Review, đăng lại trong công trình Hemingway and His Critis)
Cũng trong bài phỏng đã nêu do George Plimpton thực hiện, Hemingway bày tỏ:
“Thứ gì anh biết anh có thể bỏ đi và điều đó chỉ làm tảng băng trôi của anh thêm mạnh mẽ Đó là phần không bày ra Nếu nhà văn bỏ đi một vài thứ bởi vì anh ta không biết nó thế là có một lỗ hổng trong truyện” Như vậy, “nguyên lí tảng băng trôi”
liên quan đến rất nhiều vấn đề: vốn sống, sự hiểu biết, kiến thức, sự quan sát, sự loại bỏ, đặc biệt là mối quan hệ giữa 1 phần nổi và 7 phần chìm Tất cả những vấn đề ấy đều có mối quan hệ mật thiết với nhau trên cơ sở “loại bỏ” Thao tác “loại bỏ” ở đây phải là sự lược đi về kiến thức, mà kiến thức ấy phải là thứ kiến thức trọn vẹn nào đó nằm trong kho dự trữ lớn lao mà tác gia có được Nếu thác tác “loại bỏ” ấy không dựa
trên kiến thức sâu rộng của tác giả, mà bị bỏ đi vì “anh ta không biết nó” thì việc đó
sẽ tạo ra “một lỗ hổng trong truyện” chứ không phải là phần chìm Hiện thực đời
sống phức tạp, dưới bánh xe vận hành của sáng tạo đã chuyển thành những kiến thức
nơi nhà văn và bị lược đi để tạo ra “đúng mức thật”, để người đọc tự mình trải
nghiệm Từ đó, gợi lên sự đồng cảm trong mỗi độc giả về những vấn đề hiện thực đời sống mà tác giả muốn gửi gắm
Trong khi với thao tác lựa chọn, Ernest Hemingway quan tâm nhiều đến phần nổi, ngược lại, trong thao tác “loại bỏ” ông đặc biệt chú ý nhiều đến phần chìm Điều
Trang 8này giúp người đọc có thể lý giải về hiện tượng ngôn ngữ trong các sáng tác của Hemingway Bởi lẽ, đọc truyện ngắn Hemingway, người ta không đắn đo quá nhiều ở một phần nổi vì lối viết của ông có xu hướng tối giản, kiệm lời, ít chi tiết, sự kiện trong cốt truyện, Điều làm cho chúng ta phải dồn toàn bộ sức lực để tiếp cận các tác phẩm của Hemingway nằm ở cái mà ông không nói đến - bảy phần chìm Bởi tác giả không cầm đuốc soi dọc theo tuyến đường của câu chuyện, mà ông chỉ đưa người đọc đến bìa một khu rừng rậm là tác phẩm văn học, nơi mà các lối đi bị khuất lấp sau nhiều tán lá, bắt buộc họ phải tự vạch lá tìm lối đi, tự tìm lấy những ý nghĩa của các giá trị thật sự đã bị khuất lấp, che giấu sau những con chữ
Xuất phát từ việc lược bỏ tất thảy những gì tác giả đã biết rõ về hiện thực cuộc sống, “nguyên lí tảng băng trôi” tạo nên hiệu quả giúp quá trình sáng tác và tiếp nhận trở nên dân chủ hóa Khi người đọc tiếp nhận tác phẩm, những kinh nghiệm từ tác giả được truyền tải như một loại quan niệm của bản thân tác giả về thế giới đến người đọc Như vậy, hình ảnh tảng băng trôi một phần nổi tám phần chìm ấy chính là chính là hình thức cảm nhận về hiện thực, thế giới trong các sáng tác của Hemingway Mối liên hệ giữa thao tác “lược bỏ” với những biểu hiện của sự nhận thức, cảm nhận về hiện thực ấy giúp người đọc có thể lý giải về hiện tượng ngôn ngữ trong các sáng tác của Hemingway Đó là cách ông ẩn đi những mối liên kết giữa các mắt xích trong truyện, những khoảng trắng trong đối thoại và độc thoại, hiện tượng phi cốt truyện hoặc cốt truyện bên trong của cốt truyện, hiện tượng liên văn bản trong cách đọc tác phẩm, Khi đọc văn Hemingway, chúng ta cảm thấy dường như giữa các lời thoại của nhân vật có vẻ thiếu tính liên kết, giữa các tình tiết chuyện phát triển thiếu logic, đứt đoạn, không theo một trật tự nhất nào, nhưng thực chất có một mạch ngầm nối kết tất cả lại với nhau mà độc giả chính là người làm nhiệm vụ khám phá ra mạch ngầm
ấy
Ví dụ như khi đọc truyện ngắn Trại người da đỏ, từ những sự kiện ngắn gọn mà
nhân vật Nick đã chứng kiến: người vợ đau đẻ, người chồng vì không chịu đựng nổi
đã tự sát, đến những lời đối thoại lấp lửng của Nick với ba mình và những lời độc thoại mơ hồ của Nick, người đọc phải tự xâu chuỗi tất cả những điều ấy lại với nhau nhằm hiểu được ý nghĩa về sự sống chết mà Hemingway muốn đề cập trong tác phẩm Chúng tôi sẽ trở lại vấn đề này trong chương viết sau Có thể nói, lối viết cực hạn của Hemingway sẽ làm độc giả khá khó khăn trong bước đầu đón nhận Nhưng khi họ đã thực sự hiểu và “bắt” được những mạch ngầm của “nguyên lí tảng băng trôi”, chắc hẳn, sẽ trở nên vô cùng say mê trước lối viết văn độc đáo của nhà văn người Mĩ tài ba này
Khi đọc một vài truyện ngắn của Hemingway, người đọc sẽ nhận thấy ông hầu như không miêu tả kỹ tâm trạng của nhân vật, mà đơn thuần chỉ chấm phá một vài nét tối giản trong mô tả quang cảnh và hành động Như vậy, độc giả chỉ có thể dựa vào lời
Trang 9thoại của nhân vật mà suy đoán tâm tư Điều này tạo nên sự đắt giá trong nghệ thuật đối thoại của truyện ngắn Hemingway Cách viết này tạo ra nhiều “khoảng trống” trong câu chuyện như nốt lặng trong một bản đàn, buộc độc giả khi tiếp cận tác phẩm, phải tự mình lấp đầy những “khoảng trống” mà nhà văn bỏ lại bằng cảm xúc và vốn kiến thức của bản thân Việc độc giả phải đọc đi đọc lại nhiều lần, tri giác, liên tưởng, cắt nghĩa, tưởng tượng và nghiền ngẫm khiến tác phẩm càng trở nên đầy đặn, sống động, hoàn chỉnh hơn theo thời gian
“Nguyên lí tảng băng trôi” bên cạnh vai trò là một bút pháp văn xuôi còn là một phương tiện giúp nhà văn phản ánh quan niệm của mình về con người, thời đại và
về cả mối quan hệ giữa nhà văn và độc giả Bằng cách để người đọc tham gia vào quá trình sáng tạo của mình, tự giải mã câu chuyện theo trải nghiệm riêng, chân trời văn chương của Hemingway được mở rộng đến vô cùng Vì vậy, theo chúng tôi, khi đọc văn Hemingway, thay vì chúng phải cố gắng đi tìm đáp án đúng nhất mà tác giả đưa
ra, thì chúng ta có thể đi tìm một đáp án phù hợp với chính mình Điều này sẽ giúp chúng ta có một cách đọc chính xác hơn khi thưởng thức các tác phẩm của Ernest Hemingway
1.4 Chủ đề tự sát và cú sốc trong sáng tác của Ernest Hemingway
1.4.1 Hemingway và tự sát
“Ở Mĩ, hành vi tự sát được xem như là một hiện tượng tâm lí - xã hội, cùng
“trường” với trầm cảm, bệnh tâm thần, hội chứng anomie 3 , chủ nghĩa vị kỷ, các hành
vi cô lập xã hội, vấn đề tự ý thức, nỗi buồn chán, sự tuyệt vọng…” (Ryan Ruby, Kiều
the Power of Sentimental Reading in Early National America (2011) - nhà nghiên cứu
Ribard Bell chỉ ra sức ảnh hưởng mạnh mẽ của tác phẩm lên giới trẻ và tạo nên một
“cơn sốt tự tử” ở lứa tuổi thanh thiếu niên, khi nhân vật Werther có những lý luận đầy anh hùng để biện minh cho hành vi tự sát - những lý lẽ này khiến Werther gần như trở thành thần tượng của thế hệ trẻ đang khao khát vượt thoát khỏi đời sống nhiều trắc trở của nước Mĩ buổi sơ khai
Hiệu ứng Werther (Werther Effect) trở nên phổ biến không chỉ trong xã hội Mĩ
mà còn trong văn học Năm 1789, William Hill Brown xuất bản The Power of
Sympathy (Sức mạnh của Sự đồng cảm, 1789) - đây được xem là cuốn tiểu thuyết đầu
3 Anomie: một trạng thái của ý thức đạo đức-tâm lý công cộng hoặc cá nhân, được đặc trưng bởi sự tham nhũng của các chuẩn mực đạo đức, sự sụp đổ của hệ thống giá trị đạo đức Khái niệm anomie được đề Durkheim Emil, với mục đích diễn giải một phản ứng hành vi lệch lạc, ví dụ, ý định tự tử, hành vi bất hợp pháp (Theo Kiều Chinh)
Trang 10tiên của Mĩ, nói về anh chàng Harrington đã yêu một cô gái tên Harriot, tuy nhiên về sau lại phát hiện hai người là anh em ruột, sau khi Harriot chết vì bệnh tật, Harrington
đã tự sát bằng cách tự bắn mình, bên cạnh là cuốn sách Nỗi đau của chàng Werther Đến 1793, The Hapless Orphan (Đứa trẻ mồ côi bất hạnh) được xuất bản ẩn danh, là
“một tiểu thuyết sử thi về dục vọng, tâm lí chán chường và những vụ tự sát” (Bell,
2011) Hai tiểu thuyết này đã đặt nền tảng cho chủ đề tự sát dần lan rộng trong văn học Mĩ, trong số 45 tiểu thuyết Mĩ xuất bản từ 1789 đến 1810, có đến hơn một phần
ba mang chủ đề tự sát - những vụ tự tử được lãng mạn hoá và đưa vào văn chương - vừa tạo nên một làn sóng mạnh mẽ trong cộng đồng thanh thiếu niên Mĩ, vừa tiềm ẩn
nhiều nguy cơ của Hiệu ứng Werther
Có thể thấy, ngay từ thời kỳ đầu, tại Mĩ đã có nhiều tác phẩm văn học đề cập
đến chủ đề tự sát, ngoài những tác phẩm kể trên, có thể nhắc đến Modern Chivalry (1792) của Henry Brackenridge, Ferdinand and Elizabeth (1798) của John Davis hay
The Gamesters (1805) của Leander Anderson Ngoài lĩnh vực xuất bản, chủ đề tự tử
còn xuất hiện trong các tạp chí văn học dưới dạng truyện ngắn trong giai đoạn 1789 -
1810, một số tạp chí có thể kể đến là Massachusetts Magazine, New York Magazine,
đề tự sát trở lại trong văn học nhưng lúc này, các nhà văn “tập trung vào những vụ tự
sát của những tầng lớp thấp, nô lệ da đen, và người da đỏ” (Bell, 2011)
Theo Donaldson (1995), “Death was Hemingway’s great subject, and his great
obsession.” (Tạm dịch: “Cái chết là chủ đề lớn trong sáng tác Hemingway, là nỗi ám ảnh to lớn của ông.”, tr.287) Chủ đề cái chết xuất hiện ngay từ những sáng tác đầu
tiên, và kéo dài đến mãi về sau này Cũng theo Donaldson, trong bảy cuốn tiểu thuyết
đã hoàn thành của Hemingway, có đến sáu kết thúc bằng cái chết của nhân vật chính
Nếu xem xét các tác phẩm Ernest Hemingway đã viết và cuộc đời ông, có thể thấy sự tương đồng trong ý niệm về tự tử và sự gắn bó kỳ lạ của ông đối với hành động tự huỷ diệt này Nhiều thành viên trong gia đình ông đã chết bằng cách tự tử: ba ông là bác sĩ Clarence Hemingway đã tự kết liễu mạng sống của mình, em gái Ursula
và Leicester Hemingway, và sau này là cháu gái Margaux Hemingway Lần đầu tiên Hemingway có ý định tự sát là trên chiến trường Italia, Ernest Hemingway lúc ấy là tài xế quân y, và trong cuộc chiến ông đã bị thương rất nặng, nằm giữa chiến trường, vây quanh là cả đồng đội, hay kẻ thù đều đang bị thương hoặc hấp hối, Ernest Hemingway đã có ý niệm tự tử Chính ám ảnh tự tử này cùng với cái chết của người
ba đã đi vào văn chương Hemingway
Khoảng những năm 1920, Hemingway mắc chứng trầm cảm sau khi ly hôn người vợ đầu tiên là Hadley Ribardson, và phải xa cách với Pauline Pfeiffer (người vợ
Trang 11thứ hai) ông đã cân nhắc rất nghiêm túc về việc tự tử Tuy nhiên, sau giai đoạn này, Ernest Hemingway lại tỏ ra rất thành kiến với việc tự sát - ông đã nhiều lần chỉ trích ông Clarence Hemingway - người ba đã tự tử vào tháng 12/1928, trong một đoạn đã bị
lược bỏ của Green Hills of Africa (Đồi xanh châu Phi, 1935), Ernest viết: “Ông ta tự
bắn vào đầu mình dù việc đó không cần thiết” Ông gần như có một thái độ có thể
xem là thù địch với ba mình sau khi người ba tự tử - “Ba tôi là một kẻ hèn nhát.”
Sigmund Freud giải thích nguồn gốc của cảm giác căm giận này theo phức cảm Oedipus - bởi cái chết vì tự tử của ông Jakob Freud (tháng 10/1896) đã tác động rất
lớn đến Freud và “cho phép ông đi sâu vào tâm hồn mình”, đồng thời “không chỉ trải
qua nỗi đau buồn như mong đợi mà còn bày tỏ sự thất vọng, phẫn uất và thậm chí là thù địch với ba mình trong những giấc mơ” Cái chết của người ba đã ảnh hưởng lớn
đến Ernest Hemingway trong nhìn nhận của ông về cái chết - và về sự tự tử Theo Donaldson (1995), khi bác sĩ Hemingway tự tử, ông đã vô tình tạo nên một “tiền lệ nguy hiểm” cho con trai mình (tr.293) Chính Ernest Hemingway cũng đã dùng súng
săn để tự sát vào ngày 2/7/1961 Sau cái chết của ông, tờ The New York Times số ra ngày hôm sau (tức 3/7/1961) đã đăng một cáo phó với tiêu đề Hemingway’s Prize-
Winning Works Reflected Preoccupation With Life and Death (Tạm dịch: Những sáng tác đoạt giải của Hemingway phản ánh mối quan tâm về sự sống và cái chết)
Trở lại với sự xuất hiện của chủ đề tự sát trong sự nghiệp văn học của Ernest Hemingway, có thể nói, ngay từ khi còn trẻ, ông đã có chủ đích phát triển chủ đề này
trong sáng tác của mình Trong truyện ngắn đầu tiên viết tại trường trung học, The
judgment of Manitou (Sự phán xét của Manitou, 1916), Hemingway viết về Pierre -
một người da đỏ đã cho rằng Dick Haywood - một người da trắng đánh cắp ví của mình và đặt bẫy khiến người này bị bầy sói giết chết, khi phát hiện sai lầm của mình, Pierre đã có hành động “tự phạt” - tự bước vào bẫy và sau đó tự sát bằng súng trường Cùng thời gian này, chủ đề tự sát cũng xuất hiện trong một số bài viết cho tờ báo
trường Trapeze Sau này, trong The Nick Adams Stories (xuất bản riêng lẻ trước đó và
được tập hợp, thêm vào một số truyện ngắn sau khi Ernest Hemingway qua đời), bắt
đầu với Indian Camps (Trại người da đỏ, 1925), cậu bé Nick đã chứng kiến một vụ tự
tử có ảnh hưởng rất lớn thay đổi nhận thức của Nick về cái chết, và sau này là cái chết
“không tự nhiên” của chính ba mình, bác sĩ Adams trong Fathers and Sons (Ba và
con, 1933) Ám ảnh của Ernest Hemingway về cái chết và vụ tự tử của ba ông được
thể hiện rất rõ qua The Nick Adams Stories
1.4.2 Cú sốc trong sáng tác của Ernest Hemingway
Trong văn học, biến cố thường xuất hiện trước khi một sự thay đổi lớn xảy ra - đối với diễn biến cốt truyện hoặc đối với nhận thức của nhân vật Các nhà văn tạo nên biến cố trong tác phẩm bởi nhiều nguyên nhân, hoặc tạo thêm kịch tính cho cốt truyện, hoặc thay đổi nhận thức, tình cảm của nhân vật chịu tác động Cú sốc trong văn học
trên thực tế đã xuất hiện từ rất sớm, vở bi kịch The Bacbae của Euripides, Oedipus
Trang 12trong Thần thoại Hy Lạp, - chính những cú sốc xảy ra đã tác động rất lớn đến các
nhân vật, thậm chí thay đổi hoàn toàn con người họ
Các nghiên cứu về cú sốc trong văn học chưa nhận được nhiều quan tâm, cá
biệt có nghiên cứu Uses of Literature (2008) của Rita Felski đã chú ý đến cú sốc như một “biểu tượng trung tâm của các nghiên cứu đương đại” (tr.105) Theo Felski, sốc
là một phản ứng với những tác động ngoại biên gây “sửng sốt, đau đớn, thậm chí là
khủng hoảng” lên tinh thần Tuy nhiên, không chỉ là cú sốc mà tác giả chủ ý tạo ra để
tác động lên người đọc, cú sốc có thể xảy ra trong câu chuyện, tác động mạnh mẽ lên chính những nhân vật đã chứng kiến nó
Ernest Hemingway từng tham gia vào cả hai cuộc chiến tranh thế giới, vào năm
1918, khi ông cùng các đồng đội phải đến chiến trường nhặt lại “những gì còn lại” của những nữ công nhân đã bị nổ tung bởi bom đạn chiến tranh - lần đầu tiên Hemingway tiếp cận cái chết gần đến thế Trải nghiệm sâu sắc này đã tạo nên một cú sốc ám ảnh
ông một thời gian dài, sau này ông đã miêu tả lại nó trong Death in the Afternoon (Chết trong buổi xế chiều, 1932) Năm 1928, Ernest Hemingway đã chịu ảnh hưởng
rất nặng nề bởi một cú sốc lớn khi bác sĩ Hemingway tự sát, nghiên cứu của Sanderson (1997) đã chỉ ra rằng, những người sống sau một vụ tự tử mang nỗi đau rất lớn và nhận thức dường như sẽ thay đổi hoàn toàn, trong khi như đã nói đến trường hợp của Freud ở phần trước, cái chết do tự sát của người ba có tác động vô cùng kinh khủng đối với người con - và cũng nhiều như sự căm giận và khinh thường dành cho
ba mình, Ernest Hemingway ám ảnh bởi vụ tự tử đó Chính những cú sốc lớn khi đối diện với cái chết hết lần này đến lần khác, cùng những vết thương tinh thần mà chiến tranh để lại đã in dấu trong các sáng tác văn học của Ernest Hemingway
Bên cạnh cú sốc về cái chết, Ernest Hemingway từng trải qua những tổn
thương do chiến tranh mang lại, trong nghiên cứu Literary Representations of Shell
Shock as a Result of World War I in the Works of Virginia Woolf and Ernest Hemingway, Johanna Church (2016) cho rằng, chính chiến tranh đã tác động lên tâm lí
của những nhà văn trở về từ chiến trường như Hemingway, từ đó khiến văn học thấm đẫm những tổn thương tâm lí sâu sắc Những cơn sốc vì chiến tranh được Hemingway
mô tả qua hai tiểu thuyết nổi tiếng là The Sun Also Rises (Mặt trời vẫn mọc, 1926) và
A Farewell to Arms (Giã từ vũ khí, 1929)
Ngoài ra, trong khi phục vụ quân y Hoa Kỳ tại mặt trận Italia, Ernest Hemingway đã bị thương rất nặng khi làm nhiệm vụ, ông chịu nhiều vết bắn nặng và
có một viên đạn đã xé toạc một bên đùi của Hemingway, ông cho biết trong giây phút khi nằm lại chiến trường đó, ông đã có ý định tự tử Sau này, Hemingway nói về cú
sốc đó như sau: “Khi còn trẻ và tham gia vào cuộc chiến, bạn có ảo tưởng to lớn về
sự bất tử Những người khác đều có thể bị giết, trừ bạn ra… Nhưng rồi lần đầu tiên, khi bạn bị thương nặng đến nỗi không thể chịu đựng, bạn sẽ hiểu ngay rằng cái chết
có thể xảy đến, với chính mình.” (Dẫn theo Thomas Putnam, 2006) Đây là một trải
nghiệm đau đớn về vết thương vật lý và chấn thương tinh thần do nó mang lại, dẫn