1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Chương 2 trinh tiết và tình dục trước hôn nhân

18 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chương 2 Trinh Tiết Và Tình Dục Trước Hôn Nhân
Trường học Đại học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Xã hội học
Thể loại Bài nghiên cứu
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 30,09 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHƯƠNG 2 TRINH TIẾT VÀ TÌNH DỤC TRƯỚC HÔN NHÂN Chương này thảo luận về sự thay đổi trong cách nhìn nhận về trinh tiết và tình dục trước hôn nhân diễn ra trong những thập kỷ qua ở Việt Nam trên cơ sở c[.]

Trang 1

CHƯƠNG 2 : TRINH TIẾT VÀ TÌNH DỤC TRƯỚC HÔN NHÂN

Chương này thảo luận về sự thay đổi trong cách nhìn nhận về trinh tiết và tình dục trước hôn nhân diễn ra trong những thập kỷ qua ở Việt Nam trên cơ sở các số liệu nghiên cứu năm 2003 và các tài liệu tham khảo và báo chí trong những năm gần đây Mặt khác , 2 vấn

đề được đề cập ở đây là trinh tiết và tình dục trước hôn nhân vốn không tách rời nhau về mặt logic nhưng để lại theo những thay đổi trong quan niệm của xã hội Việt Nam

1 Sơ lược về các nghiên cứu về trinh tiết và tình dục trước hôn nhân

- Nhìn lại về lịch sử của nhân loại, tầm quan trọng của trinh tiết

và tình dục trước hôn nhân cũng như cách kiểm soát đã biến đổi theo thời gian và không gian

- Vấn đề này sẽ biến đổi theo không gian và thời gian cụ thể ở chỗ: có lúc nó mang ý nghĩa kinh tế nhưng có có khi khía cạnh đạo đức gắn liền với chúng mới là điều quan trọng của xã hội

- Xã hội bấy giờ cách kiểm soát trinh tiết và tình dục trước hôn nhân cũng biến thiên từ những hình phạt thể xác, bị coi

thường, đàm tiếu trong đau khổ

- Cho đến khi AIDS xuất hiện thì vấn đề trinh tiết lại được đề cao như một trong những rào chắn khiến con người thoát khỏi bệnh tật

- Ở Việt Nam từ xưa đến nay, trinh tiết và tình dục trước hôn nhân là 2 vấn đề luôn được xã hội quan tâm nhiều nhất Tuy nhiên ý nghĩa và cách kiểm soát của chúng cũng bị biến thiên theo dòng lịch sử Và người dân ở thời kì này cũng không quan tâm đến sự biến thiên của 2 vấn đề này Do đó mà việc nghiên cứu hay so sánh cái cũ và cái mới hầu như không tồn tại cho đến giữa năm 1990

- Vấn đề trinh tiết ở thời kì này được khắc họa rõ nét ở tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du Vào thời của Nguyễn Du thì

2 chữ trinh tiết và giọt máu trinh là điều quan trọng nhất đối với một người con gái Mặc dù người con gái đó xó xinh đẹp, công dung ngôn hạnh như Thúy Kiều nhưng lại để mất đi trinh tiết của mình thì mọi phẩm chất đều trở thành vô nghĩa Lý do khiến cho trinh tiết của người con gái thời bấy giờ “ đáng giá ngàn vàng ” vì nó gắn liền với giá trị kinh tế như nhận xét của Engels được trích dẫn ở phần trên hoặc với khía cạnh đạo đức

mà suy cho cùng cũng là để duy trì giá trị vật chất của nó

- Dưới nhiều khía cạnh khác nhau, quá trình hình thành các diễn ngôn về trinh tiết và tình dục trước hôn nhân có thể coi

Trang 2

như sản phẩm của các xã hội gia trưởng Gagnon đã mỉa mai :“ Trong xã hội gia trưởng , giá trị đối với hôn nhân của người phụ

nữ phụ thuộc vào sự còn hay mất của màng trinh” Điều này cho thấy giá trị hôn nhân không chỉ có ý nghĩa kinh tế mà còn gắn liền với phẩm hạnh người phụ nữ Gagnon đã mỉa mai rằng

tỉ lệ phụ nữ còn trinh khi kết hôn là chỉ báo về tình trạng đạo đức của xã hội

Ví dụ:

+ Vào những năm cuối của thế kỷ 20 trinh tiết của các cô gái Trung Quốc cũng vẫn bị gắn liền với giá trị vật chất Số tiền

mà gia đình chú rể phải chuẩn bị cho đám cưới và mua sắm đồ dùng cho đối tân hôn phụ thuộc vào việc cô dâu còn trinh hay không

+ Trong nghiên cứu của mình ở Vũ Hán năm 1985 , Xiao Zhou phát hiện ra rằng cha mẹ của một số chàng trai khuyến khích con trai của họ quan hệ tình dục với người yêu bằng cách khóa trái đôi trẻ trong phòng Điều này khiến cho các cô gái mất trinh trước khi cưới

và khiến nhà trai giảm được số tiền cưới đi Trong các cô gái tham gia cuộc nghiên cứu thì bốn mươi sáu trong số 100 cô gái của Xiao Zhou đã mất trinh trong trường hợp đó

- Ở Việt Nam thì vấn đề thực nghiệm này chỉ mới xuất hiện tử nửa thứ hai của thập kỉ 1990 với sự tìm hiểu quan niệm và hành vi liên quan đến trinh tiết và tình dục trước hôn nhân của

nữ thanh niên ở đô thị miền Bắc kể từ khi Đổi mới

- Nghiên cứu của Tine Gammeltoft là nghiên cứu đặc sắc bởi sông dựng lại được lịch sử của vấn đề từ các nguồn khác nhau

để khẳng định được sự thay đổi của vấn đề trinh tiết và tình dục trước hôn nhân

- Qua nghiên cứu của Tine Gammeltoft đã có cảm hứng và tiếp tục nghiên cứu về vấn đề đang bị mờ dần theo năm tháng Tác giả đã đề nghị 245 người tham gia nghiên cứu dựa trên việc chia sẽ suy nghĩ và những trải nghiệm liên quan đến tình dục trước hôn nhân của bản thân họ hoặc sự chứng kiến của họ Thông qua chủ đề, những trải lòng của 245 vị khách mời, nhiều thế hệ, giới tính , địa phương khác nhau đã giúp tác giả hình dung và đi tiếp con đường trinh tiết và tình dục trước hôn nhân

* Các nghiên cứu liên quan đến vấn đề trinh tiết và tình dục trước hôn nhân của Việt Nam :

1 Tình dục trước hôn nhân : nghiên cứu so sánh thanh niên Hà Nội, Thượng Hải và Đài Loan( Tác giả : Vũ Mạnh Lợi – Viện Xã hội học, Viện khoa học xã hội Việt Nam

Trang 3

Đề tài nghiên cứu này chủ yếu phân tích vào sự ảnh hưởng của hiện đại hóa ảnh hưởng đến hành vi tình dục ngoài hôn nhân thông qua các biến số : thành phố, tuổi, giới tính, học vấn, tình trạng kinh tế, và tình trạng việc làm

2.Quan hệ ngoài hôn nhân trong gia đình Việt Nam hiện nay ( Tác giả Nguyễn Việt Hương)

Bài nghiên cứu phân tích những vấn đề về quan hệ ngoài hôn nhân thông qua :

- Việc nhìn nhận vấn đề quan hệ hôn nhân ảnh hưởng bởi tư tưởng Nho giáo, việc đàn ông có nhiều vợ và có nhiều mối quan hệ ngoài luồng là điều có thể chấp nhận

- Các mối quan hệ ngoài hôn nhân thường là : vợ hoặc chồng ngoại tình, chồng có quan hệ với gái mại dâm và việc phụ nữ

có con ngoài giã thú,

- Tóm lại, theo như tác giả phân tích được, vấn đề quan hệ ngoài hôn nhân ở gia đình Việt Nam ngày càng phổ biến Và cách mà con người ta giải quyết chúng là các biện pháp như ly thân, ly dị Bên cạnh những cách giải quyết bình đẳng thì đâu

đó vẫn còn tồn tại của bạo lực ngoài bởi các mối quan hệ ngoài hôn nhân đưa lại

2 Trinh tiết – sự ám ảnh bất tận

Trong phần này, tác giả đã tập trung vào sự thay đổi quan niệm trinh tiết của người dân Việt Nam từ thời kì chiến tranh cho đến thời bình Thông qua hình thức đặt câu hỏi – trả lời với nhiều đối tượng ở nhiều lứa tuổi, ngành nghề khác nhau, tác giả đã vẽ lên một bức tranh quan niệm trinh tiết chi tiết, sống động, cho thấy sự phát triển của xã hội đã làm thay đổi tư duy, lối sống, văn hóa của nhiều thế

hệ

Trinh tiết là sinh mạng chính trị

Trong thời kì cả nước cùng kháng chiến chống Mỹ, tình yêu to lớn và được đặt lên hàng đầu chính là tình yêu cách mạng, đó cũng là lẽ dĩ nhiên bởi nếu cách mạng không thành công, dân tộc ta không được giải phóng thì tình yêu đôi lứa cũng đâu còn ý nghĩa gì Nhưng điều

đó không có nghĩa tình yêu đôi lứa bị xem nhẹ, mặt khác đó là động lực cho hàng ngàn, hàng vạn thanh niên trai tráng xông vào mưa bom bão đạn, họ lấy tuổi trẻ, sinh mạng để đổi lấy điều mà tất cả đang khao khát: đôi lứa được sum họp Điều này được thể hiện vô

cùng rõ nét trong bộ phim “Chung một dòng sông” (viết từ năm

1958, quay phim đầu năm 1959), hai nhân vật Hoài và Vận bị chia cắt ở hai đầu Nam – Bắc giống như tình hình đất nước ta vào thời điểm đó; cả hai cùng vượt qua nguy hiểm, cám dỗ, dùng tình yêu

Trang 4

làm kim chỉ nam để cuối cùng có thể gặp lại nhau khi đất nước được thống nhất.

Hay như câu chuyện tình thời chiến giữa ông Lê Hồng Tư và bà

Nguyễn Thị Châu, trải qua 14 năm chia cách, có lúc sinh tử không rõ những cả hai đều tự định ra trong lòng lời hẹn ước chờ nhau về

“Ngày tôi ở Hà Nội, có chị bạn người Đà Nẵng ôm tôi khóc nói Lê Hồng Tư hy sinh rồi, đừng đợi nữa, nên xây dựng gia đình đi Tôi nói anh chưa có hy sinh đâu, em vẫn chờ anh về” – bà Châu kể lại, qua

đó ta có thể thấy tình yêu thời chiến hay tình yêu của những thế hệ

đi trước mang một màu sắc đơn thuần nhưng vô cùng mạnh mẽ, không bị tác động bởi những yếu tố thực dụng như ngày nay

Vào những năm chiến tranh khói lửa, thư tay là phương thức liên lạc duy nhất, là sợi dây kết nối của những cặp yêu xa, và chắc hẳn

nhiều người không thể quên câu chuyện Tướng Hy và hơn 500 bức thư từ lửa đạn, ông và vợ cưới nhau chưa được bao lâu thì phải chia

xa để tướng Hy lên đường kháng chiến chống Pháp rồi lại chống Mỹ, phải đến 24 năm sau cả hai mới được đoàn tụ, và khoảng thời gian này chỉ có thư tay là nơi gửi gắm tình cảm, sự nhớ nhung và động viên cho đôi vợ chồng Những thiếu nữ có người yêu là bộ đội, thời

gian xa nhau có thể lên đến hàng năm, hàng chục năm chẳng ai có thể biết trước, vậy nên trinh tiết dường như là một lời hẹn thề, một ước định của những cặp yêu nhau

Trinh tiết trở thành thước đo sự chung thủy, thước đo giá trị đạo đức của người phụ nữ bởi lẽ người ta chỉ trao nhau trinh tiết khi đã nên

vợ nên chồng

“Em tươi tắn như mùa xuân thứ nhất/ Nhưng thủy chung như một sắc mai già/ Đôi mắt mở to, dịu dàng thấm mát/ Sau rất nhiều gian khổ đi qua” – Tình yêu và báo động, tác giả Bằng Việt.

Từ những câu chuyện được kể lại, ta có thể dễ dàng nhận ra tình yêu lúc này không chỉ là câu chuyện riêng của 2 người mà là việc chung của cả một cộng đồng, ai yêu ai thì phải báo cáo lại với chi bộ thì mới được công nhận là một tình yêu đẹp, trong sáng, chân chính Hành động bỏ người này quen người khác sẽ bị khiển trách, đặc biệt nếu là bỏ nhau vì người con trai là bộ đội, là đối tượng được ra nước ngoài học tập thì sự khiển trách càng nặng nề

Người ở tiền tuyến chiến đấu vì tình yêu, người ở hậu phương chờ đợi trong tình yêu, vậy nên không sai khi nói Trinh tiết chính là sinh mạng của chính trị, cũng chính là cốt lõi của tình yêu thời chiến

Trinh tiết của phụ nữ là niềm tự hào của đàn ông

Trang 5

Sau khi kết thúc những năm tháng khốc liệt, chia cách bởi chiến tranh, Việt Nam trở lại thời bình và có những cải cách mạnh mẽ Sự cải cách kinh tế kéo theo sự thay đổi về văn hóa,

tư tưởng xã hội, giờ đây tình yêu đôi lứa không còn chịu sự quản lí của chi bộ, cộng đồng mà nó được cá nhân hóa đúng với bản chất vốn có của nó Nhưng sự ám ảnh về trinh tiết thì vẫn ở đó, trinh tiết không chỉ là minh chứng cho sự trong trắng

mà nó còn mang một ý nghĩa tinh thần khác, chính là “niềm tự hào của đàn ông”

Nếu muốn biết “niềm tự hào” này có thể quan trọng đến mức

nào, hãy cũng xem bộ phim “Vợ Ba” của đạo diễn trẻ Nguyễn Phương Anh – một bộ phim lấy bối cảnh vùng trung du Việt Nam vào thế kỷ 19 Ở bộ phim này tôi muốn nhắc đến 2 nhân vật, đó là Mây (nhân vật chính – người vợ thứ ba của địa chủ Hùng) và Tuyết (vợ của anh con trai cả của địa chủ Hùng), cả 2

cô gái đều lấy chồng khi mới 14, 15 tuổi thông qua hình thức mai mối Sau ngày cưới của Mây và địa chủ Hùng, một tấm vải trắng nhiễm đỏ được treo lên cây nêu và đặt trang trọng ngay giữa sân nhà, hình ảnh này nhằm tuyên bố với tất cả mọi người

là Mây còn trinh và địa chủ Hùng chính là người đàn ông đầu tiên của cô Còn với Tuyết, sau ngày cưới của cô và anh con trai cả, không có tấm vải trắng nào được treo lên bởi vì anh con trai không yêu Tuyết và đêm tân hôn không muốn làm tình với Tuyết; gia đình địa chủ Hùng đã gọi bố mẹ đẻ Tuyết đến để trả lại con gái cùng gấp 3 lần số của hồi môn Rõ ràng đây là lỗi của anh con trai nhưng xã hội thời đó lại quy trách nhiệm lên Tuyết, bằng chứng là câu nói của bố Tuyết: “Con đã làm gì

để cả gia đình phải chịu cảnh này Có mỗi một trách nhiệm đó

mà con cũng không làm được sao.”, Tuyết giờ đây không còn

là niềm tự hào của đàn ông cũng không còn là niềm tự hào của gia đình, giờ đây Tuyết chỉ là bát nước hắt đi không lấy lại của gia đình bố mẹ đẻ.

Không thể không thừa nhận văn hóa Á Đông hay có thể nói văn hóa phong kiến về vấn đề trinh tiết, tình dục trước hôn nhân đã ảnh hưởng một cách mạnh mẽ vào suy nghĩ của chúng ta cho

dù xã hội đã phát triển và thay đổi rất nhiều Chúng ta có thể nhận thấy điều đó qua những câu chuyện thực tế xung quanh hay trên phim ảnh, nhiều người đàn ông, gia đình không chấp nhận một người vợ, một người con dâu không còn trong trắng cho dù với bất kì nguyên nhân nào Chính quan niệm lần đầu phải có máu đỏ đã vô tình khiến nhiều cô gái bị hiểu nhầm là không còn trinh trắng mặc dù họ chưa từng quan hệ với bất kì

Trang 6

ai trước đó, còn những người đàn ông thì lại tưởng rằng mình bị lừa dối và phải đổ vỏ cho một người khác Chẳng ai đúng mà cũng chẳng ai sai

“Thằng Vinh này có thể ra ngoài quen hàng trăm cô gái, nhưng

vợ nó tuyệt đối chỉ có thể có nó là người đàn ông duy nhất trong cuộc đời mà thôi”

3.Quan điểm tình dục là một phần không thể thiếu của tình yêu

Một khi tình dục đã là điều đương nhiên, là một bản năng, thì có hay không đã không còn là vấn đề của đạo đức Tình yêu chân thành và

có trách nhiệm chính là điều kiện cho quan hệ tình dục Đạo đức được thể hiện ở tính tự nguyện và ý thức trách nhiệm của hai người, chứ không phải là sự kìm hãm ham muốn tình dục để giữ gìn và thực hiện truyền thống về hôn nhân Đó là quan điểm của không ít người trẻ tuổi ngày nay, thậm chí là cả với những người ở những thế hệ lớn tuổi hơn, khi họ cho rằng quan hệ tình dục trước hôn nhân là một điều vẫn có thể chấp nhận được, nếu như đó là một mối quan hệ có trách nhiệm

Tuy nhiên, vì các thiết chế chính thức vẫn theo đuổi lí tưởng đạo đức truyền thống về tình dục và tình yêu, nên ngày nay vẫn có không ít các cô gái bị giằng xé giữa các chuẩn mực về trinh tiết và hôn nhân mà họ được dạy từ bé là phải tuân thủ Bên cạnh đó cũng không ít người bày tỏ thái độ khá cương quyết trong việc từ bỏ các chuẩn mực đó và đưa ra các tuyên ngôn mới về tình dục và tình yêu: Tình yêu không thể thiếu tình dục Họ không tỏ ra luyến tiếc hay bị dằn vặt vì đã hiến dâng trinh tiết cho người mình yêu, cũng như không coi việc hiến dâng trinh tiết cho người yêu là một chiến lược

để đạt lấy hôn nhân Từ khi nhận thức được kiến thức sinh học về trinh tiết và các giá trị xung quanh nó, họ không chấp nhận được việc giá trị đạo đức của mình bị gắn liền với một bộ phận cơ thể Những thay đổi xã hội, nhất là quan hệ giới đã có ảnh hưởng rất lớn đến quan niệm và hành vi tình dục, và những tiến bộ trong bình

Trang 7

đẳng nam nữ đã nới lỏng sự kiểm soát đối với tình dục của phụ nữ và cho phép họ khẳng định quyền của mình trong hưởng thụ tình dục

Như vậy, dù có thể ở mức độ ít phổ biến, nhưng các cô gái Việt Nam ngày nay cũng khẳng định rằng tình yêu mà không có tình dục mới là điều khó tin Việc giữ gìn trinh tiết đã trở thành huyền thoại chẳng thuyết phục được ai Họ thậm chí cũng không thực sự lo lắng nếu như quan hệ không dẫn tới hôn nhân nữa Sự thỏa mãn nhu cầu

cá nhân, mặt khác, lại là một giá trị họ đề cao chẳng kém gì hôn nhân Họ ý thức được sự phán xét của xã hội và cả hậu quả tiêu cực

có thể xảy ra đối với tình yêu, nhưng họ vẫn vững tin ở quyết định của mình Họ không giống như những khuôn mẫu yếu đuối, cả tin, nhẹ dạ mà truyền thông và dư luận vẫn gán cho những cô gái “dại dột” trao thân cho người yêu Họ vẫn có ham muốn tình dục, họ khẳng định rằng mình không phải là những kẻ ngốc nghếch dễ bị lừa Như vậy, tình dục đã hoàn toàn tách khỏi hôn nhân để có chỗ đứng riêng của mình trong đời sống của lớp trẻ ngày nay

* VẤN ĐỀ SỐNG THỬ TRƯỚC HÔN NHÂN:

*Khái niệm:

Sống thử là tình trạng hai người khác giới sống chung với nhau như vợ chồng mà không đăng kí kết hôn theo quy định của pháp luật

*Phân biệt sống thử và QHTD trước hôn nhân:

Về hình thức, sống thử nói về hành động QHTD với người yêu Còn QHTD trước hôn nhân thì có thể xảy ra với nhiều đối tượng Về bản chất, sống thử được hhifnh thành xuất phát từ mong muốn được chia sẻ không chỉ là về nhu cầu sinh lí mà còn về tình cảm của hai người Còn QHTD trước hôn nhân có thể chỉ xuất phát từ nhu cầu sinh lý

Trang 8

*Nhận diện sống thử:

Về tính nhân sinh: Sống thử là một trong những hoạt động của con người

Về tính lịch sử: Sống thử đã xuất hiện từ khá lâu ở các nước phương Tây nhưng ở Việt Nam thì mới xuất hiện từ những năm 90 trở lại đây

Về tính giá trị: Sống thử nhằm bù đắp thêm tình cảm, làm mất

đi cảm giác cô đơn, đem lại lợi ích về kinh tế và đáp ứng về các nhu cầu tình cảm cũng như tình dục

*Phân loại sống thử:

a) Phân loại theo chủ thể:

- Sinh viên: Sống thử theo mốt, phong trào;

- Công nhân: Sống thử để tiết kiệm;

- Công chức và những người thành đạt: Sống thử vì nhu cầu tình cảm

b) Phân loại theo hình thức:

- Sống thử vì nhu cầu tình cảm;

- Sống thử theo mốt, theo phong trào;

- Sống thử vì lợi ích kinh tế

*Nguyên nhân dẫn đến việc sống thử:

Việc sống thử mặc dù tồn tại khách quan nhưng nó lại có nguyên nhân từ quy luật tâm sinh lí chủ quan của mỗi người Có thể

có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến việc sống thử nhưng nguyên nhân chủ yếu bao gồm các yếu tố như sau:

Trang 9

a) Sống thử để tiết kiệm hơn:

Đây là nguyên nhân mà những người trong hay ngoài cuộc đều cho là quan trọng nhất Xét về khía cạnh kinh tế thì đây là nguyên nhân rất hợp lí đối với cuộc sống của sinh viên và công nhân Trong khi giá cả thị trường đang leo thang và các mặt hàng tiêu dùng ngày càng tăng giá mà có người cùng chia sẻ gánh nặng về kinh tế thì đó

là một việc hết sức hợp lí Một số cặp đôi có ý chí và định hướng cho tương lai của mình một cách rõ rệt, họ có sự nhận thức đúng đắn về việc sống thử

VD: Đi học về cả hai người đều mệt mỏi và đói, nhưng nếu cả hai cùng nấu ăn thì sẽ nhanh hơn và vui vẻ hơn để không còn cảm thấy mệt nhọc Khi thời gian cho công việc đã xong thì đó là lúc họ dành thời gian cho nhau để nuôi nấng tình cảm cho nhau nhưng vẫn giữ khoảng cách để tạo sự vui vẻ cho cả hai người Thường thì những cặp đôi mà đã xác định được như vậy thì sau khi sống thử họ sẽ tiến đến hôn nhân và có một cuộc sống hạnh phúc Theo thống kê thì trong các đôi đã từng sống thử thì có khoảng 15% các đôi tiến đến mục tiêu cao hơn, đó là hôn nhân

Nhưng nhìn về thực tế thì đó chưa hoàn toàn là nguyên nhân căn bản để các cặp đôi dọn đến ở chung với nhau Vì thay bằng sự lựa chọn sống với người yêu thì nam giới hoàn toàn có thể tìm những người bạn cùng giới với mình để chia sẻ gánh nặng đó Các đôi uyên ương khi mới yêu nhau thì họ dành tất cả thời gian cho người mình yêu, họ ở bên nhau cả ngày nhưng như thế thì vẫn chưa đủ Vì vậy nguyên nhân sống thử để tiết kiệm được hầu hết những người trong cuộc đưa ra, song thực chất đó không phải là nguyên nhân mấu chốt

để họ dọn đến ở với nhau Hầu hết các cặp đôi cho đây là lí do chính,

Trang 10

một phần vì họ vẫn còn e ngại sự xăm soi của người đời, nói lí do đó

có vẻ được nhiều người thông cảm cho họ

Như vậy, nếu biết tận dụng đúng mặt tích cực của lí do “sống thử để tiết kiệm” thì đây cũng là một cơ hội cho các cặp đôi có thể bớt đi gánh nặng về kinh tế cho cá nhân họ, cho gia đình và xã hội

b) Sống thử vì cần có nhiều thời gian bên nhau:

Trong muôn vàn những lí do mà các đôi tình nhân sống thử đưa

ra thì đây có thể là lí do quan trọng và thực tế nhất Khi mới yêu nhau thì hầu hết mỗi người đều cảm thấy hạnh phúc khi được ở bên người mình yêu, họ gần nhau ban ngày thôi là chưa đủ, vì vậy mà đã dọn về ở với nhau để có thể ở với nhau cả về ban đêm mặc những ngăn cản của bạn bè xung quanh và sự soi xét của hàng xóm láng giềng,… Đặc biệt là đối với sinh viên, tình cảnh xa nhà, không phải chịu sự kiểm soát từ cha mẹ và phải hoàn toàn quyết định trong việc chi tiêu, sinh hoạt, chi phối thời gian,… đã dẫn đến tình trạng không làm chủ được bản thân, cảm thấy thiếu thốn tình cảm và cần được quan tâm, chăm sóc… Vì vậy đã vội vàng yêu và bắt đầu cuộc sống sinh viên bằng cách sống thử để được quan tâm chăm sóc và chia sẻ trong cuộc sống Cũng có nhiều bộ phận sinh viên muốn sống thử là

để tự khẳng định mình, khẳng định tình cảm của mình và coi đó như tiền đề để tiến tới hôn nhân

Hầu hết các cặp đôi khi yêu nhau đều cho rằng càng sống gần nhau thì họ sẽ càng hiểu và yêu nhau hơn Cũng chính vì lí do này

mà các đôi yêu nhau đã không ngại dọn đến ở với nhau

c) Sống thử theo trào lưu:

Ngày đăng: 25/02/2023, 10:36

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w