1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Phân tích và bình luận về trách nhiệm và nghĩa vụ của người đại điện trong quản trị công ty theo pháp luật việt nam

13 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích và bình luận về trách nhiệm và nghĩa vụ của người đại diện trong quản trị công ty theo pháp luật Việt Nam
Trường học Đại Học Quốc Gia Hà Nội - Khoa Luật
Chuyên ngành Luật kinh tế
Thể loại Bài tập lớn
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 186,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT BÀI TẬP LỚN MÔN HỌC QUẢN TRỊ CÔNG TY ĐỀ TÀI PHÂN TÍCH VÀ BÌNH LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM VÀ NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI ĐẠI ĐIỆN TRONG QUẢN TRỊ CÔNG TY THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM Năm 20[.]

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT _

BÀI TẬP LỚN

MÔN HỌC QUẢN TRỊ CÔNG TY

ĐỀ TÀI :

PHÂN TÍCH VÀ BÌNH LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM

VÀ NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI ĐẠI ĐIỆN TRONG QUẢN

TRỊ CÔNG TY THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Năm 2022

Trang 2

MỤC LỤC.

LỜI MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 2

1 KHÁI NIỆM VÀ THẨM QUYỀN CỦA NGƯỜI ĐẠI DIỆN THEO PHÁP LUẬT 2 2.CHỈ ĐỊNH NGƯỜI ĐẠI DIỆN THEO PHÁP LUẬT 3

3 NGƯỜI ĐẠI DIỆN THEO PHÁP LUẬT CỦA DOANH NGHIỆP 3

4.TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI ĐẠI DIỆN THEO PHÁP LUẬT CỦA DOANH NGHIỆP 5

5 XÂY DỰNG CƠ CHẾ PHÂN CHIA QUYỀN, NGHĨA VỤ GIỮA NHỮNG NĐDTPL 6

6 PHƯƠNG HƯỚNG KHĂC PHỤC QUAN HỆ NGƯƠI ĐẠI DIỆN 7

KẾT LUẬN 8

TÀI LIÊU THAM KHẢO 9

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Chủ thể của quan hệ pháp luật rất đa dạng ngoài cá nhân còn

có pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác và Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Và không phải lúc nào các chủ thể đó cũng có thể tự mình tham gia vào quan hệ pháp luật , lúc đó cần phải có một người thay mặt chủ thể thực hiện các giao dịch đó Chính vì vậy mà

Bộ luật Việt Nam đã dành một chương để quy định về đại diện trong quan hệ pháp luật

Đây là một chế định truyền thống của Luật , thể hiện sự linh hoạt, mềm dẻo trong cách thức tham gia quan hệ pháp luật của các chủ thế Trong phạm vi bài nghiên cứu, em xin trình bày một số vấn

đề lý luận cũng như thực tiễn liên quan đến vấn đề đại diện trong quan hệ pháp luật , từ đó đưa đên những nhận thức đúng đắn, rõ ràng về chế định này

Chính vi vây, em xin chọn và phân tích đề tài : Phân tích và

bình luận về trách nhiệm và nghĩa vụ của người đại điện trong quản trị công ty theo pháp luật Việt NaM

Trang 4

NỘI DUNG

1 KHÁI NIỆM VÀ THẨM QUYỀN CỦA NGƯỜI ĐẠI DIỆN THEO PHÁP LUẬT

Khoản 1 Điều 137 Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 ngày 24/11/2015 (BLDS) nêu rõ rằng người đại diện theo pháp luật của pháp nhân bao gồm: (i) Người được pháp nhân chỉ định theo điều lệ; (ii) Người có thẩm quyền đại diện theo quy định của pháp luật; và (iii) Người do Tòa án chỉ định trong quá trình tố tụng tại Tòa án Người đại diện theo pháp luật có quyền nhân danh doanh nghiệp thực hiện hai chức năng là xác lập và thực hiện giao dịch dân sự của doanh nghiệp trong phạm vi đại diện được nêu trong điều lệ của pháp nhân hay theo quy định của pháp luật (khoản 1 Điều 134 BLDS

và khoản 1 Điều 141 BLDS) và trong trường hợp không xác định được

cụ thể phạm vi đại diện theo các căn cứ trên thì người đại diện theo pháp luật có quyền xác lập, thực hiện mọi giao dịch dân sự vì lợi ích của doanh nghiệp, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác (khoản

2 Điều 141 BLDS)

Khoản 1 Điều 12 LDN 2020 quy định “người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là cá nhân đại diện cho doanh nghiệp thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch của doanh nghiệp, đại diện cho doanh nghiệp với tư cách người yêu cầu giải quyết việc dân sự, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài, Tòa án và các quyền, nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật”

Từ định nghĩa này có thể thấy:

Trang 5

Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp nhất thiết phải

là một cá nhân;

Người đại diện theo pháp luật đại diện cho doanh nghiệp thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ các giao dịch của doanh nghiệp

Người đại diện theo pháp luật là người đại diện cho doanh nghiệp trong tố tụng tại Tòa án và trước Trọng tài

Bất cập của định nghĩa nêu trên là chỉ nhắc đến việc thực hiện giao dịch nhân danh doanh nghiệp mà vô tình lại bỏ quên chức năng xác lập giao dịch nhân danh doanh nghiệp - vốn là một trong các quyền hạn then chốt của chế định người đại diện theo pháp luật Dù biết định nghĩa này quy định mở là người đại diện theo pháp luật được thực hiện “các quyền, nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật”, tức là được thực hiện quyền xác lập giao dịch nêu trong BLDS, song việc không nêu một cách cụ thể quyền hạn này trong văn bản luật chuyên ngành này cũng là một điều đáng tiếc

2.CHỈ ĐỊNH NGƯỜI ĐẠI DIỆN THEO PHÁP LUẬT

Theo quy định tại khoản 1 Điều 137 BLDS, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân bao gồm:

Người được pháp nhân chỉ định theo điều lệ;

Người có thẩm quyền đại diện theo quy định của pháp luật; Người do Tòa án chỉ định trong quá trình tố tụng tại Tòa án Khoản 2 Điều 12 LDN 2020 nêu rõ “điều lệ công ty quy định cụ thể số lượng, chức danh quản lý và quyền, nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp” Khoản 7 Điều 12 LDN 2020 cũng quy định mở theo hướng “Tòa án, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng khác có quyền chỉ định người đại diện theo pháp luật tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật”

Trang 6

Như vậy, người đại diện theo pháp luật được chỉ định trong điều

lệ của công ty (thường dưới dạng chức danh quản lý nào của công ty

sẽ giữ vai trò là người đại diện theo pháp luật thay vì chỉ định định danh một cá nhân cụ thể ), theo quy định của pháp luật hoặc do Tòa

án, cơ quan có thẩm quyền tố tụng khác chỉ định theo quy định của pháp luật

Khoản 5 và khoản 6 Điều 12 LDN 2020 cũng ngầm định thẩm quyền cử/thay thế người đại diện theo pháp luật của chủ sở hữu của công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) một thành viên, Hội đồng thành viên của công ty TNHH hai thành viên trở lên và Hội đồng quản trị của công ty cổ phần Cần lưu ý thêm rằng, họ, tên, địa chỉ liên lạc, quốc tịch, số giấy tờ pháp lý của cá nhân là người đại diện theo pháp luật của công ty là một nội dung bắt buộc trên giấy chứng nhận đăng

ký doanh nghiệp (khoản 3 Điều 28 LDN 2020)

3 NGƯỜI ĐẠI DIỆN THEO PHÁP LUẬT CỦA DOANH NGHIỆP

1 Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là cá nhân đại diện cho doanh nghiệp thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch của doanh nghiệp, đại diện cho doanh nghiệp với tư cách người yêu cầu giải quyết việc dân sự, nguyên đơn, bị đơn, người

có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài, Tòa án và các quyền, nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật

2 Công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần có thể có một hoặc nhiều người đại diện theo pháp luật Điều lệ công ty quy định cụ thể số lượng, chức danh quản lý và quyền, nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp Nếu công ty có nhiều hơn một người đại diện theo pháp luật thì Điều lệ công ty quy định cụ thể quyền, nghĩa vụ của từng người đại diện theo pháp luật Trường hợp việc phân chia quyền, nghĩa vụ của từng người đại diện theo pháp luật chưa được quy định rõ trong Điều lệ công ty thì mỗi người đại diện theo pháp luật của công ty đều là đại diện đủ thẩm

Trang 7

quyền của doanh nghiệp trước bên thứ ba; tất cả người đại diện theo pháp luật phải chịu trách nhiệm liên đới đối với thiệt hại gây ra cho doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về dân sự và quy định khác của pháp luật có liên quan

3 Doanh nghiệp phải bảo đảm luôn có ít nhất một người đại diện theo pháp luật cư trú tại Việt Nam Khi chỉ còn lại một người đại diện theo pháp luật cư trú tại Việt Nam thì người này khi xuất cảnh khỏi Việt Nam phải ủy quyền bằng văn bản cho cá nhân khác cư trú tại Việt Nam thực hiện quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật Trường hợp này, người đại diện theo pháp luật vẫn phải chịu trách nhiệm về việc thực hiện quyền và nghĩa vụ đã ủy quyền

4 Trường hợp hết thời hạn ủy quyền theo quy định tại khoản 3 Điều này mà người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp chưa trở lại Việt Nam và không có ủy quyền khác thì thực hiện theo quy định sau đây:

a) Người được ủy quyền tiếp tục thực hiện các quyền và nghĩa

vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp tư nhân cho đến khi người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp trở lại làm việc tại doanh nghiệp;

b) Người được ủy quyền tiếp tục thực hiện các quyền và nghĩa

vụ của người đại diện theo pháp luật của công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh cho đến khi người đại diện theo pháp luật của công ty trở lại làm việc tại công ty hoặc cho đến khi chủ sở hữu công ty, Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị quyết định cử người khác làm người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp

5 Trừ trường hợp quy định tại khoản 6 Điều này, đối với doanh nghiệp chỉ còn một người đại diện theo pháp luật và người này vắng mặt tại Việt Nam quá 30 ngày mà không ủy quyền cho người khác thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật

Trang 8

của doanh nghiệp hoặc chết, mất tích, đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bị tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù, đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc, bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, bị Tòa án cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định thì chủ sở hữu công ty, Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị cử người khác làm người đại diện theo pháp luật của công ty

6 Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn có hai thành viên, nếu

có thành viên là cá nhân làm người đại diện theo pháp luật của công

ty chết, mất tích, đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bị tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù, đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc, trốn khỏi nơi cư trú, bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, bị Tòa án cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định thì thành viên còn lại đương nhiên làm người đại diện theo pháp luật của công ty cho đến khi có quyết định mới của Hội đồng thành viên về người đại diện theo pháp luật của công ty

7 Tòa án, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng khác có quyền chỉ định người đại diện theo pháp luật tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật

4.TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI ĐẠI DIỆN THEO PHÁP LUẬT CỦA DOANH NGHIỆP

1 Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp có trách nhiệm sau đây:

a) Thực hiện quyền và nghĩa vụ được giao một cách trung thực, cẩn trọng, tốt nhất nhằm bảo đảm lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp;

Trang 9

b) Trung thành với lợi ích của doanh nghiệp; không lạm dụng địa vị, chức vụ và sử dụng thông tin, bí quyết, cơ hội kinh doanh, tài sản khác của doanh nghiệp để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác;

c) Thông báo kịp thời, đầy đủ, chính xác cho doanh nghiệp về doanh nghiệp mà mình, người có liên quan của mình làm chủ hoặc

có cổ phần, phần vốn góp theo quy định của Luật này

2 Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp chịu trách nhiệm cá nhân đối với thiệt hại cho doanh nghiệp do vi phạm trách nhiệm quy định tại khoản 1 Điều này

5 XÂY DỰNG CƠ CHẾ PHÂN CHIA QUYỀN, NGHĨA VỤ GIỮA NHỮNG NĐDTPL

Mô hình doanh nghiệp có nhiều NĐDTPL được xem như “con dao hai lưỡi” Trong trường hợp Điều lệ công ty không quy định rõ phạm vi thẩm quyền đại diện của từng NĐDTPL, thì tất cả những NĐDTPL đều có thẩm quyền đại diện như nhau trong các giao dịch của công ty Trường hợp này dẫn đến tình trạng những NĐDTPL sẽ đùn đẩy trách nhiệm cho nhau, từ chối đại diện cho công ty trong các giao dịch phức tạp hoặc có mức độ rủi ro cao, về lâu dài có thể dẫn đến tổn thất cho doanh nghiệp thậm chí ảnh hưởng đến uy tín

và hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp khi có những quyết định cần phải được đưa ra và thực hiện một cách kịp thời Mặt khác, sự thiếu rõ ràng về thẩm quyền đại diện cụ thể của từng NĐDTPL cũng có thể dẫn đến sự chồng chéo về thẩm quyền giữa những NĐDTPL, hoặc nguy cơ “lạm quyền” ký các giao dịch vượt quá thẩm quyền cho phép để trục lợi, gây thất thoát, thiệt hại cho Công

ty Ngược lại, việc quy định rõ thẩm quyền của mỗi NĐDTPL của công

ty sẽ giúp hạn chế sự chồng chéo về thẩm quyền giữa những NĐDTPL, nâng cao hiệu quả quản trị công ty Đồng thời, ràng buộc trách nhiệm của NĐDTPL đối với lĩnh vực được phân công đại diện

Trang 10

Qua đó có thể xác định và xử lý trách nhiệm cá nhân của mỗi NĐDTPL trong trường hợp có sai phạm

Tuy nhiên, để cơ chế phân chia quyền, nghĩa vụ phát huy hiệu quả thực sự thì các công ty cần phải phân định rõ ràng, công khai, minh bạch về vai trò và thẩm quyền đại diện của mỗi NĐDTPL trong Điều lệ và quy chế hoạt động của công ty Đồng thời phải có cơ chế giám sát chặt chẽ việc thực hiện thẩm quyền đại diện được phân công của mỗi NĐDTPL của công ty Vì vậy, khi lựa chọn cơ cấu tổ chức có nhiều hơn một NĐDTPL trong doanh nghiệp mình, thì doanh nghiệp cần hiểu rõ quy định của pháp luật về vấn đề này và chủ động xây dựng một cơ chế phân chia quyền, nghĩa vụ giữa những NĐDTPL cho phù hợp, tránh bị động và gặp phải những tình huống rủi ro cho doanh nghiệp cũng như rủi ro cho chính những NĐDTPL Khi xây dựng mô hình phân chia quyền, nghĩa vụ các doanh nghiệp cần lưu ý một số vấn đề sau:

Thứ nhất, Điều lệ và các quy chế quản trị nội bộ của doanh

nghiệp cần quy định rõ chức danh, nhiệm vụ, quyền hạn của những NĐDTPL và xác định rõ thẩm quyền của những người cùng là NĐDTPL của doanh nghiệp nhưng khác nhau về chức danh quản lý, điều hành, cụ thể:Phân định thẩm quyền của những NĐDTPL trong việc ký kết hợp đồng/giao dịch theo tiêu chí từng lĩnh vực cụ thể (NĐDTPL phụ trách chung, NĐDTPL phụ trách mảng bán lẻ/sản xuất/nhân sự, v.v ) hoặc theo chức năng (NĐDTPL phụ trách đối nội/ NĐDTPL phụ trách đối ngoại, v.v );Xác định rõ các hợp đồng/giao dịch cần phải được sự chấp thuận của tất cả những NĐDTPL hay chỉ cần một người;

Xác định rõ hiệu lực của hợp đồng/giao dịch của công ty đối với người thứ ba trong trường hợp một NĐDTPL phản đối văn bản mà NĐDTPL khác đã ký kết;

Trang 11

Xác định rõ trách nhiệm liên đới hay riêng lẻ của những NĐDTPL; Cơ chế giám sát lẫn nhau giữa những NĐDTPL

Thứ hai, cần xác định rõ trách nhiệm của từng NĐDTPL trong

phạm vi được phân chia quyền, nghĩa vụ và xây dựng cơ chế để phối hợp hiệu quả

Thứ ba, cần xây dựng cơ chế giám sát việc thực hiện quyền

của NĐDTPL Theo đó, cần giám sát việc thực thi quyền của mỗi NĐDTPL, thông qua Ban Kiểm soát – cơ quan giám sát nội bộ độc lập, thành viên HĐQT độc lập và thiết lập cơ chế giám sát trực tiếp từ các

cổ đông công ty

6 PHƯƠNG HƯỚNG KHĂC PHỤC QUAN HỆ NGƯƠI ĐẠI DIỆN.

Đối với những người đại diện theo uỷ quyền, khi sử dụng quyền kháng cáo, không nên cho rằng quyền kháng cáo bản án, quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của toà án cấp sơ thẩm để yêu cầu toà án cấp trên trực tiếp giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm là quyền trực tiếp của mình, mà quyền đó là quyền được đương

sự ủy quyền Mọi hành vi tố tụng của luật sư đều phải nhân danh người ủy quyền cho mình, nhân danh đương sự Cần đặt quy định này trong tổng thể chung, trong các điều luật có liên quan.Đối với Tòa án, các Thẩm phán, khi nhận được đơn kháng cáo cần áp dụng quy định chung của pháp luật tại các Điều 244 và 246 để xác định tính không hợp lệ của đơn kháng cáo và không chấp nhận đơn.Trên thực tế phát sinh rất nhiều tranh chấp liên quan đến vấn đề đại diện Những tình huống được đưa ra trong bài nghiên cứu chỉ là một phần nhỏ nhằm giúp hiểu rõ hơn về chế định đại diện trong quan hệ pháp luật dân sự

Ngày đăng: 25/02/2023, 10:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w