1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT TIỂU LUẬN CUỐI KÌ PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP PHÁT SINH TRONG QUÁ TRÌNH GIAO KẾT HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG Họ và tên Nguyễn Phúc Dũng MSV 16071022 K7LKD Môn học Kỹ n[.]
Trang 11
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TIỂU LUẬN CUỐI KÌ PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP PHÁT SINH TRONG QUÁ TRÌNH
GIAO KẾT HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG
Họ và tên: Nguyễn Phúc Dũng
MSV: 16071022- K7LKD
Môn học: Kỹ năng giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng
Lớp học phần: BSL2030 LKD
Giảng viên: PGS.TS.Lê Thị Thu Thủy
Hà Nội – 2021
Trang 22
Mục lục
Mở đầu 3
1 Tình thế cấp thiết của đề tài: 3
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
3 Phương pháp nghiên cứu: 3
4 Kết cấu của bài tiểu luận 3
Phần 2: phần nội dung 4
Chương 1: những vấn đề lý luận về giao kết hợp đồng tín dụng 4
Chương 2: Thực trạng pháp luật về giải quyết tranh chấp giao kết hợp đồng tín dụng 5
Chương 3: các khuyến nghị để cải thiện về pháp luật giải quyết tranh chấp phát sinh trong giao kết hợp đồng 12
Kết luận 13
Tài liệu tham khảo 13
Trang 33
Mở đầu
1 Tình thế cấp thiết của đề tài:
Trong những năm qua, Việt Nam đã và đang có những bước đi hết sức quan trọng trê con đường hội nhập kinh tế quốc tế Việc gia nhập tổ chức thương mại thế giới đã thúc đẩy cho nền kinh tế Việt Nam đa ngành nghề ngày càng phát triển, mở rộng thị trường trong và ngoài nước hưng đồng thời cũng đặt ra thách thức vô cùng to lớn đối với doanh nghiệp khi
họ phải cạnh tranh nhau với các doanh nghiệp nước ngoài, trong đó, ngân hàng là một trong những lĩnh vực chịu ảnh hưởng nhiều nhất Trong hoạt động ngân hàng thì cho vay là hoạt động mang lại nhiều nguồn thu nhưng cũng là hoạt động mang lại nhiều tiềm ẩn rủi ro rất lớn Những cuộc khủng hoảng tín dụng ở các nước khác trên thế giới là lời cảnh tỉnh cho Việt Nam trong việc kiểm soát tín dụng nhất là giao kết hợp đồng tín dụng- một trong những yêu cầu cao nhất trong tín dụng Trong giao kết hợp đồng tín dụng có rất nhiều vấn
đề phải quan tâm nhưng tôi quyết định chọn vấn đề giải quyết tranh chấp trong giao kết hợp đồng tín dụng làm đề tài tiểu luận của mình
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu vào các quy định của pháp luật hiện hành của Việt Nam về giao kết hợp đồng tín dụng, cụ thể là thực tiễn áp dụng pháp luật trên các ngân hàng thương mại
Đồng thời qua việc nghiên cứ về việc giao kết hợp đồng tín dụng, tôi mong sẽ chỉ ra được những bất cập còn tồn đọng
2.2 Phạm vi nghiên cứu
Gồm pháp luật như dân sự, hành chính, hình sự,…
3 Phương pháp nghiên cứu:
Các phương pháp bài luận sử dụng là phân tích, tổng hợp
4 Kết cấu của bài tiểu luận
Bài tiểu luận gồm 3 phần
Chương 1: những vấn đề lý luận về giao kết hợp đồng tín dụng
Trang 44
Chương 2: thực trạng về giao kết hợp đồng tín dụng
Chương 3: những đề xuất cần cải thiện trong giao kết hợp đồng tín dụng
Phần 2: phần nội dung
Chương 1: những vấn đề lý luận về giao kết hợp đồng tín dụng
Thứ nhất khái niệm về hợp đồng
Từ trước đến nay, hợp đồng luôn chiếm một vị trí quan trọng trong pháp luật Việt Nam, hầu hết do các giao dịch trong xã hội đều liên quan đến hợp đồng Theo điều 385 bộ luật Dân sự 2015 thì : “ Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ đối với nhau”
Thứ hai, Tín dụng theo nghĩa là chủ thể thỏa thuận các chủ thể khác được sử dụng một số vốn nhất định của mình ( dưới hình thức hàng hóa hoặc tiền tệ) và số vốn ày bao giờ cũng được hoàn trả trong một khoảng thời gian nhất định dựa trên cơ sở có sự tín nhiệm
Thứ ba, về hợp đồng tín dụng là một dạng của hợp đồng vay tài sản Do đó, đầu tiên ta cần phải hiểu về định nghĩa của hợp đồng cho vay tài sản nói chung Theo diều 463 bộ luật dân
sự 2015 thì “ hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay, khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên vay tài sả cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật quy định”
Còn về quan điểm hợp đồng tín dụng thì ta có thể hiểu: hợp đồng tín dụng ngân hàng là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa tổ chức tín dụng ( gọi là bên cho vay) và khách hàng vay vốn ( gọi là bên đi vay), nhằm xác lập quyền và nghĩa vụ nhất định giữa các bên theo quy định của pháp luật, theo đó bên cho vay cam kết cho bên vay một khoản tiền nhất định để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định với nguyên tắc hoàn trả cả gốc lẫn lãi Về mặt bản chất, hợp đồng tín dụng được coi khi các bên có sự tham gia nhằm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự Mỗi chủ thể tham gia đều có mục đích , động cơ nhắm tới lợi ích nhất định Vì vậy khi giao kết hợp đồng tín dụng, các bên
có thể tự do bày tỏ ý chí của mình theo nguyên tắc và trình tự nhất định, cùng thỏa thuận
để đi đến thống nhất thành ý chung và nếu ý chí cung phù hợp với quy định của pháp luật thì hợp đồng đó coi là có hiệu lực pháp luật, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên
Trang 55
Thứ tư, về giao kết hợp đồng tín dụng, ta cần xét đầu tiên giao kết hợp đồng tín dụng là một dạng giao kết hợp đồng nói chung Giao kết hợp đồng là Các bên bày tỏ với nhau ý chí về việc xác lập, thay đổi hay chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng trên cơ
sở tuân theo nguyên tắc do pháp luật quy định
Tự do giao kết hợp đồng, nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội Nội dung của nguyên tắc thể hiện hai vế có tầm quan trọng hàng đầu trong giao kết hợp đồng: tự do nhưng không được trái với các đòi hỏi mà pháp luật quy định: không được trái pháp luật, trái đạo đức xã hội
Chương 2: Thực trạng pháp luật về giải quyết tranh chấp giao kết hợp đồng tín dụng 2.1 pháp luật về giao kết hợp đồng tín dụng
Thứ nhất, Giao kết hợp đồng tín dụng cũng là giai đoạn quyết định xem việc có tiến tới xác lập hợp đồng hay không và liên quan tới thời điểm có hiệu lực hợp đồng Trước tiên,
là việc biểu hiện ý chí của mình trước bằng cách bày tỏ cho phía bên kia biết ý muốn tham gia giao kết với người đó một hợp đồng tín dụng Bên đề nghị phải đưa ra những điều khoản của hợp đồng một cách cụ thể và rõ ràng Việc đề nghị giao kết hợp đồng được thực hiện bằng cách khác nhau Quy trình giao kết hợp đồng tín dụng phải đảm bảo yếu tố:
- Ý chí muốn xác lập hợp đồng của mỗi bên được biểu hiện ra bên ngoài
- Có sự thống nhất giữa các bên
Việc đề nghị giao kết hợp đồng được thực hiện bằng nhiều cách khác nhau Bên đề nghị
có thể gặp mặt trực tiếp với người được đề nghị trao đổi, thỏa thuận hoặc có thể thông qua điện thoại, chuyển công văn, giấy tờ qua đường bưu điện Thông thường, bên đề nghị giao kết hợp đồng tín dụng là các tổ chức, cá nhân có nhu cầu vay vốn và văn bản đề nghị chính
là đơn xin vay, được gửi kèm theo các giấy tờ tài liệu chứng minh tư cách chủ thể và khả năng tài chính hay phương án sử dụng vốn vay Các tài liệu này do bên vay gửi cho tổ chức tín dụng để xem xét, thẩm định và được coi như bằng chứng đề nghị giao kết họp đồng tín dụng Thực tiễn giao kết hợp đồng tín dụng ở Việt Nam trong những năm gần đây cho thấy,
có nhiều trường hợp bên chủ động đề nghị giao kết hợp đồng tín dụng lại chính là tổ chức tín dụng chứ không phải khách hàng Phương thức này được một số tổ chức tín dụng chủ động thực hiện nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh và mở rộng thị trường tín dụng
Trang 66
Những tổ chức tín dụng đã từng đi tiên phong trong việc lựa chọn phương thức này chính
là các ngân hàng cổ phần, ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam
Thông thường ở đây, văn bản đề nghị là thư chào mời được tổ chức tín dụng gửi cho các
tổ chức, cá nhân có khả năng tài chính mạnh, có uy tín trên thưong trường và có nhu cầu vay vốn thường xuyên (gọi là những khách hàng tiềm năng) mà tổ chức tín dụng lựa chọn
là bên đối tác
Bên đề nghị có thể thay đổi hoặc rút đề nghị trong các trường hợp sau:
Bên được đề nghị chưa nhận được đề nghị
Bên đề nghị có nêu rõ điều kiện được thay đổi hoặc rút lại đề nghị trong các trường hợp sau:
- Bên được đề ghị chưa nhận được đề nghị
- Bên đề nghị có điều kiện được thay đổi hoặc rút lại đề nghị và điều kiện đó đã đến Ngoài ra, đề nghị giao kết hợp đồng được coi là chấm dứt khi bên nhận được đề nghị trả lời không chấp nhận hoặc trả lời chậm
Thứ hai, chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng tín dụng là việc bên được đề nghị nhận lời
và đồng ý tiến hành việc giao kết hợp đồng với bên đề nghị Về nguyên tắc, bên được đề nghị phải trả lời ngay về việc có giao kết hợp đồng hay không Trong những trường hợp, cần phải có thời gian để bên được đề nghị cân nhắc, suy nghĩ mà các bên đã ấn định thời hạn trả lời thì bên được đề nghị phải trả lời trong thời hạn đó Nếu sau thời hạn nói trên, bên được đề nghị mới trả lời về vệc chấp nhận giao kết hợp đồng thì lời chấp nhận đó được coi như một lời đề nghị mới của bên chậm trả lời Nếu việc trả lời được chuyển qua đường bưu điện thì ngày gửi đi theo dấu của bưu điện được coi là thời điểm trả lời Căn cứ vào thời điểm đó để bên đã đề nghị xác định việc trả lời có chậm hay không so với thời hạn đã ấn định Bên được đề nghị có thể chấp nhận toàn bộ nội dung đề nghị, cũng có thể chỉ chấp nhận một phần trong nội dung đó hoặc có thể chỉ chấp nhận giao kết hợp đồng nhưng không đồng ý với nội dung mà bên đề nghị đưa ra Nghĩa là trong những trường hợp này, bên được đề nghị muốn sửa đổi hoặc thay đổi nội dung mà bên đề nghị đưa ra Vì vậy,
họ sẽ trở thành bên đề nghị mới và bên đã đề nghị trước đó lại trở thành bên được đề nghị
Trang 77
Bên đề nghị mới cũng chịu sự ràng buộc của mình về những nội dung đã đề nghị Sự hoán
vị này có thể xảy ra nhiều lần cho đến khi nào các bên thống nhất thỏa thuận được với nhau toàn bộ nội dung của hợp đồng thì sẽ đi đến giao kết hợp đồng tín dụng
Để thực hiện hoạt động cấp tín dụng, tổ chức tín dụng phải giao kết và tiến hành ký kết hợp đồng nhằm xác lập quyền và nghĩa vụ giữa các bên Trong giao kết hợp đồng tín dụng,
tổ chức tín dụng luôn tham gia với tư cách là chủ thể cấp tín dụng nhằm phân phối lại nguồn vốn đã huy động từ tổ chức và cá nhân khác trong xã hội Với tư cách là chủ thể cấp tín dụng, tổ chức tín dụng phải thẩm định được phương án vay vốn, tính hiệu quả của việc
sử dụng vốn.điều này vô cùng cần thiết vì nó có khả năng hoàn trả nợ vay cho bên vay Việc đề nghị giao kết hợp đồng tín dụng được thực hiện bằng những hình thức khác nhau: văn bản viết, lời nói hoặc phương tiện khác Việc trả lời do hai bên thỏa thuận: trả lời ngay hoặc một thời hạn do hai bên ấn định Khi bên đề nghị giao kết có thời hạn ấn định trả lời thì việc chấp nhận giao kết hợp đồng chỉ có giá trị khi được thực hiện trong thời hạn đó Nếu sự chấp nhận diễn ra sau thời hạn đó thì được xem như là một đề nghị giao kết hợp đồng mới Bên đề nghị giao kết có thể thay đổi hoặc rút lại đề nghị trong trường hợp: khi bên được đề nghị giao kết chưa nhận được lời đề nghị hoặc bên đề nghị giao kết nêu
rõ điều kiện được thay đổi hoặc rút lại lời đề nghị
Thứ ba là việc thẩm định hồ sơ tín dụng Thẩm định hồ sơ tín dụng là tất cả những hành vi mang tính nghiệp vụ-pháp lí do tổ chức tín dụng thực hiện nhằm xác định mức độ thoả mãn các điều kiện vay vốn đốì với bên vay, trên cơ sở đó mà quyết định cho vay hay không Trong thực tế giao dịch ngân hàng, việc thẩm định hồ sơ tín dụng thường do các nhân viên chuyên trách của tổ chức tín dụng thực hiện và kết thúc bằng việc lập báo cáo thẩm định
hồ sơ tín dụng Báo cáo này được trình lên cho người quản lí có thẩm quyền của tổ chức tín dụng quyết định về việc có cho vay hay không Do tính đặc biệt quan trọng của giai đoạn này trong cả quá trình từ cho vay đến thu nợ nên pháp luật đòi hỏi bên cho vay là tổ chức tín dụng phải triệt để tuân thủ nguyên tắc đảm bảo tính độc lập, phân định rõ ràng trách nhiệm cá nhân và trách nhiệm liên đới giữa khâu thẩm định và khâu quyết định cho vay Sau khi đã thẩm định hồ sơ tín dụng của khách hàng, bên cho vay có toàn quyền quyết định việc chấp nhận hoặc từ chối cho vay, dựa vào kết quả thẩm định, phân tích và điều tra tín dụng đối với khách hàng Trong trường hợp từ chối cho vay, tổ chức tín dung phải thông
Trang 88
báo cho khách hàng bằng văn bản và phải nêu rõ lí do từ chối cho vay Việc từ chối cho vay không có căn cứ xác đáng có thể là lí do để khách hàng thực hiện hành vi đối kháng với tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật
- Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng tín dụng: Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng tín dụng là hành vi pháp lí do bên nhận đề nghị (thông thường là tổ chức tín dụng) thực hiện dưới hình thức văn bản chính thức gửi cho bên kia (bên gửi đề nghị hợp đồng) với nội dung thể hiện sự đồng ý giao kết hợp đồng tín dụng Trên phương diện lí thuyết, việc một bên chấp nhận vô điều kiện văn bản đề nghị hợp đồng của bên kia có thể làm phát sinh hợp đồng giữa họ với nhau, nếu trong văn bản đề nghị đã hội đủ các điều khoản cốt yếu của chủng loại hợp đồng mà họ mong muốn kí kết Tuy nhiên, do hợp đồng tín dụng vốn có ảnh hưởng sâu sắc và mang tính dây chuyền đối với hệ thống tín dụng và cả đối với nền kinh tế trong một quốc gia nên các luật gia cho rằng việc giao kết hợp đồng tín dụng cần phải được thực hiện hết sức cẩn trọng và có suy xét, cân nhắc, tính toán một cách kĩ lưỡng
và thấu đáo
- Đàm phán các điều khoản của hợp đồng tín dụng: Đây là giai đoạn cuối cùng, cũng là giai đoạn trọng tâm của quá trình giao kết họp đồng tín dụng Trong giai đoạn này, các bên gặp nhau để đàm phán các điều khoản của hợp đồng tín dụng Giai đoạn này được coi là kết thúc khi đại diện của các bên đã chính thức kí tên vào văn bản họp đồng tín dụng Thứ tư, các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng tín dụng Dựa trên các quy định chung về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự tại Điều 117 Bộ luật dân sự năm 2015, hợp đồng tín dụng với tư cách là loại hình giao dịch dân sự đặc thù chỉ có hiệu lực khi thoả mãn đẩy
đủ các điều kiện sau đây:
- Chủ thể tham gia hợp đồng tín dụng phải có đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự: Đối với chủ thể của hợp đồng tín dụng là tổ chức thì người đại diện cho tổ chức đó cũng phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự
- Có sự đồng thuận ý chí giữa các bên cam kết trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng và tự
do ý chí: Một họp đồng tín dụng được coi là không có sự đồng thuận và tự do ý chí khi sự thoả thuận đó giữa các bên bị các khiếm khuyết như sự nhầm lẫn; sự lừa dối, lường gạt hoặc sự ép buộc, cưỡng bức trong khi giao kết hợp đồng Trên nguyên tắc, không phải mọi
Trang 99
sự nhầm lẫn, lừa dối, lường gạt hoặc cưỡng bức, ép buộc của một bên đối với bên kia đều dẫn đến hậu quả làm cho họp đồng tín dụng vô hiệu mà các khuyết tật này phải có ảnh hưởng mang tính quyết định đến ý chí giao kết hợp đồng của các bên thì mới được coi là
sự kiện pháp lí làm cho họp đồng tín dụng vô hiệu
- Mục đích và nội dung của hợp đồng tín dụng không trái pháp luật và đạo đức xã hội: Tính hợp pháp về mục đích tham gia giao dịch thể hiện ở chỗ, mục đích cho vay và mục đích đi vay của các bên chủ thể hợp đồng nhất thiết phải được thể hiện rõ ràng trong nội dung của hợp đồng và các mục đích này không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội Tính hợp pháp về nội dung của hợp đồng tín dụng thể hiện ở chỗ, các điều khoản của hợp đồng tín dụng không vi phạm điêu cấm của pháp luật và không trái với đạo đức xã hội
Riêng đối với hình thức của hợp đồng tín dụng, việc kí kết hợp đồng phải theo hình thức
mà pháp luật ngân hàng quy định Đối với hợp đồng tín dụng, do tính chất rủi ro cao cho quyền lợi của các bên trong quá trình thực hiện hợp đồng này nên pháp luật ngân hàng đòi hỏi hình thức của hợp đồng tín dụng phải được xem là một trong những điều kiện có hiệu lực của hợp đồng Tính hợp pháp về hình thức của hợp đồng tín dụng thể hiện ở chỗ hợp đồng tín dụng phải được kí kết bằng văn bản hay tài liệu giao dịch hợp thức và có giá trị chứng cứ chứng minh nội dung cam kết của các bên
Thứ năm, thời điểm có hiệu lực và hết hiệu lực của hợp đồng tín dụng
Một, thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng tín dụng: Thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng tín dụng là điểm mốc thời gian mà kể từ lúc đó quyền và nghĩa vụ pháp lí của các bên tham gia hợp đồng tín dụng bắt đầu phát sinh Ở Việt Nam, do nhà làm luật quan niệm hợp đồng tín dụng thuộc loại hợp đồng ưng thuận nên pháp luật quy định thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng tín dụng chính là thời điểm các bên đã thoả thuận xong các điều khoản của hợp đồng và bên sau cùng đã kí tên, đóng dấu (nếu có) vào văn bản hợp đồng tín dụng Theo quy định này, việc chuyển giao tiền vay (giải ngân) là nghĩa vụ họp đồng của bên cho vay và nếu họ không thực hiện đúng nghĩa vụ này mà lại gây thiệt hại tính được thành tiền cho bên vay thì họ sẽ phải chịu trách nhiệm nộp phạt vi phạm hợp đồng và chịu cả trách nhiệm bồi thường thiệt hại
Trang 1010
Hai, sự vô hiệu của hợp đồng tín dụng Hợp đồng tín dụng bị coi là vô hiệu tương đối khi chủ thể tham gia họp đồng không có năng lực hành vi dân sự hoặc hợp đồng được kí kết không có sự tự nguyện và đồng thuận giữa các bên kí kết hoặc hình thức của hợp đồng tuy không phù hợp với quy định của pháp luật nhưng hợp đồng đã được các bên thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng Đối với trường hợp này, do việc kí kết hợp đồng tín dụng chỉ phương hại đến lợi ích riêng của các bên kí kết chứ không vi phạm các điều cấm của pháp luật hoặc không phương hại đến trật tự công, lợi ích công nên Nhà nước cần phải tôn trọng quyền tự định đoạt của các bên, bằng cách chỉ tuyên bố vô hiệu đối với hợp đồng khi nhận được yêu cầu của các bên hoặc của một bên có quyền lợi bị phương hại hoặc tạo cơ hội cho các bên tự khắc phục các vi phạm dẫn đến nguy cơ hợp đồng bị vô hiệu Với trường hợp này, chi khi nào đã hết thời hạn cho phép để khắc phục các vi phạm đó nhưng các bên không thể khắc phục được thì khi đó, theo yêu cầu của bên
có quyền lợi bị phương hại, Toà án mới chính thức tuyên bố hợp đồng tín dụng bị vô hiệu,
về nguyên tắc, bên có lỗi trong việc tạo ra nguy cơ vô hiệu của hợp đồng tín dụng sẽ không
có quyền đưa ra yêu cầu tuyên bố vô hiệu hợp đồng tín dụng Quy định này nhằm tránh nguy cơ “trục lợi” của một bên từ việc kí kết và thực hiện hợp đồng tín dụng Điều này có nghĩa là chỉ bên không có lỗi hoặc bên có quyền lợi bị vi phạm mới có quyền đưa ra yêu cầu toà án tuyên bố hợp đồng tín dụng vô hiệu Theo quy định hiện hành, thời hạn thực hiện quyền yêu cầu đối với trường hợp vô hiệu tương đối của giao dịch dân sự là hai năm,
kể từ ngày giao dịch được xác lập Sau khi toà án đã tuyên bố hợp đồng tín dụng bị vô hiệu theo yêu cầu của các bên, hậu quả pháp lí xảy ra cũng giống như đối với hợp đồng tín dụng
bị vô hiệu tuyệt đối, nghĩa là việc kí kết hợp đồng không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ pháp lí cho các bên và chính các bên sẽ phải tự thu xếp hoàn trả lại cho nhau tất cả những
gì đã nhận, đúng như tình trạng lúc ban đầu khi hợp đồng tín dụng chưa được kí kết
Ngoài ra, trong quá trình cầm giữ tài sản nếu người cầm giữ có hành vi gầy thiệt hại cho tài sản của bên kia với lỗi xác định thì họ phải có trách nhiệm bồi thường toàn bộ các thiệt hại vật chất đã xảy ra cho bên bị thiệt hại Trong trường hợp hợp đồng tín dụng bị vô hiệu
mà những thiệt hại xảy ra cho mỗi bên là do lỗi của người đó thì chính họ sẽ phải tự gánh chịu các hậu quả thiệt hại đó chứ không thể yêu cầu bên kia bồi thường