1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Phân tích bctc công ty cổ phần tập đoàn hoa sen

14 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích BCTC Công Ty Cổ Phần Tập Đoàn Hoa Sen
Người hướng dẫn Lê Hồng Hạnh
Trường học Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Tài Chính Doanh Nghiệp
Thể loại báo cáo phân tích tài chính
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 344,17 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tr­êng ®¹i häc thuû lîi z  ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT BÀI TẬP NHÓM Bộ môn Tài Chính Doanh Nghiệp Giảng viên Lê Hồng Hạnh BÀI TẬP NHÓM Học phần Tài chính doanh nghiệp Giảng viên Lê Hồng Hạn[.]

Trang 1

z



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT

BÀI TẬP NHÓM

Bộ môn: Tài Chính Doanh Nghiệp Giảng viên: Lê Hồng Hạnh

Trang 2

BÀI TẬP NHÓM

Học phần: Tài chính doanh nghiệp Giảng viên: Lê Hồng Hạnh

I Thông tin thành viên nhóm

II Giới thiệu chung

1 Tên công ty: Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoa Sen

2 Mã chứng khoán: HSG

3 Ngày thành lập: 08.08.2001

4 Ngày lên sàn chứng khoán: 05.12.2008

5 Loại hình kinh doanh (nhóm ngành/nghề): Nguyên vật liệu/ Sản xuất thép III Phân tích tình hình tài chính công ty trong 3 năm tài chính gần nhất (2018 –

2019 – 2020)

1 Nhóm chỉ số khả năng thanh khoản

lệch

2018-2019

Chênh lệch

2019-2020

1 Tỷ số thanh

khoản hiện

thời

0,855 0,839 1,003 -0,016 +0,164

2 Tỷ số thanh

khoản nhanh

0,332 0,239 0,389 -0,092 +0,15

Trang 3

Nhận xét:

-Đối với tỉ số thanh khoản hiện thời: Chỉ số này cho biết khả năng của công ty trong việc sử dụng các tài sản ngắn hạn để chi trả cho các khoản nợ ngắn hạn của mình

Năm 2018: là 0,855 Nó cho biết cứ 1 đồng nợ ngắn hạn thì có 0,855 đồng tài sản ngắn hạn có thể thanh toán

Năm 2019 là 0,839 Cho biết cứ 1 đồng nợ ngắn hạn thì có 0,839 đồng tài sản ngắn hạn có thể thanh toán Tỉ số này giảm đi 0,016 so với năm 2018

Năm 2020 là 1,003 Cho biết cứ 1 đồng nợ ngắn hạn thì có 1,003 đồng tài sản ngắn hạn có thể thanh toán Chỉ số này tăng lên 0,164 so với năm 2019 Điều này là do tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp lớn hơn nợ ngắn hạn của doanh nghiệp

Có thể thấy trong 2 năm 2018 và 2019 tỉ số này của doanh nghiệp đều nhỏ hơn

1, nó cho thấy những nguy cơ trong việc chi trả các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp Tuy vậy, tỉ số này không phải là quá thấp mà gần với 1 cho nên không được coi là có nguy cơ cao trong việc chi trả nợ ngắn hạn

Sang năm 2020, chỉ số này đã đạt lớn hơn 1 Đây là dấu hiệu tốt thể hiện khả năng cao trong việc sẵn sàng thanh toán các khoản vay ngắn hạn Chỉ số này cũng không lớn hơn 1 quá nhiều, thể hiện hiệu quả của doanh nghiệp trong việc

sử dụng tài sản lưu động, không lãng phí tài sản lưu động

-Đối với tỷ số thanh khoản hiện thời: Chỉ số này cho biết khả năng của công ty trong việc sử dụng các tài sản lưu động mà không cần bán đi hàng tồn kho để chi trả nợ ngắn hạn

Năm 2018 là 0,332 Cho biết cứ 1 đồng nợ ngắn hạn thì có 0,332 đồng tài sản ngắn hạn thanh khoản cao có thể chi trả

Năm 2019 là 0,239 Cho biết cứ 1 đồng nợ ngắn hạn thì có 0,239 đồng tài sản ngắn hạn thanh khoản cao dùng để thanh toán

Năm 2020 là 0,389 Cho biết cứ 1 đồng nợ ngắn hạn thì có 0,389 đồng tài sản ngắn hạn thanh khoản cao dùng để thanh toán

Ta thấy trong 3 năm, tỉ số này của doanh nghiệp đều khá thấp, dưới 0,5 Điều này phản ánh doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc chi trả các khoản vay ngắn hạn nếu chỉ dùng các tài sản ngắn hạn có tính thanh khoản cao Vậy nên trong trường hợp xấu, doanh nghiệp phải bán các tài sản với giá thấp để trả nợ

Trang 4

Năm 2020, tỉ số này có tăng lên một chút so với 2 năm trước thể hiện khả năng của doanh nghiệp trong việc chi trả có tăng lên một chút song vẫn tồn tại nhiều nguy cơ, rủi ro Tỉ số này so với tỷ số thanh khoản hiện thời nhỏ hơn hẳn bởi tỷ trọng hàng tồn kho trong khối tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp có tỷ trọng khá cao

2 Nhóm chỉ số hiệu quả hoạt động

lệch

2018-2019

Chênh lệch

2019-2020

1 Vòng quay

Hàng tồn kho

4,467 5,035 5,514 +0,568 +0,479

2 Số ngày tồn

kho

81,71 72,493 66,195 -9,217 -6,298

3 Vòng quay

phải thu

16,068 14,448 14,709 -1,62 +0,261

4 Kỳ thu tiền

bình quân

22,716 25,263 24,815 +2,547 -0,448

5 Vòng quay tài

sản cố định

4,645 3,349 3,420 -1,296 +0,71

6 Vòng quay tài

sản ngắn hạn

2,915 3,093 3,391 +0,178 +0,298

7 Vòng quay

tổng tài sản

1,614 1,459 1,587 -0,155 +0,128

Nhận xét:

-Về nhóm tỷ số hàng tồn kho: Vòng quay hàng tồn kho cho biết bình quân hàng tồn kho quay được bao nhiêu vòng trong kỳ để tạo ra doanh thu Số vòng ngày tồn kho cho biết bình quân tồn kho của doanh nghiệp mất bao nhiêu ngày

Năm 2018, số vòng quay hàng tồn kho là 4,467 vòng, mỗi vòng quay mất

81,710 ngày

Năm 2019, số vòng quay hàng tồn kho là 5,035 vòng, mỗi vòng quay mất 72,

493 ngày Số vòng quay hàng tồn kho tăng lên so với năm 2018 và số ngày tồn kho giảm so với năm 2018 Điều này là do doanh thu và bình quân hàng tồn kho đều giảm nhưng doanh thu có chiều hướng giảm mạnh hơn

Trang 5

Năm 2020, số vòng quay hàng tồn kho là 5,514 vòng, mỗi vòng quay mất

66,195 ngày Số vòng quay hàng tồn kho tăng lên và số ngày tồn kho giảm đi so với năm 2019 Điều này là do doanh thu và bình quân hàng tồn kho tiếp tục giảm nhưng bình quân hàng tồn kho giảm nhiều hơn

Có thể thấy, chỉ số vòng quay hàng tồn kho tăng dần qua các năm và chỉ số số ngày tồn kho giảm dần qua các năm Nó cho thấy doanh nghiệp ngày càng quản trị tốt hơn số hàng tồn kho của mình, không để ứ đọng hàng hóa, giúp thu hồi vốn để tiếp tục sản xuất Đây là tín hiệu tích cực khi mà doanh nghiệp vẫn bán được hàng

-Về nhóm tỉ số khoản phải thu: vòng quay khoản phải thu cho biết bình quân khoản phải thu quay được bao nhiêu vòng trong kỳ Kỳ thu tiền bình quân cho biết doanh nghiệp mất bao nhiêu ngày cho khoản phải thu

Năm 2018, vòng quay khoản phải thu là 16,608 vòng, kỳ thu tiền là 22,716 ngày

Năm 2019, vòng quay khoản phải thu là 14,448 vòng giảm so với năm 2018, kỳ thu tiền là 25,263 ngày tăng lên so với năm 2018 Điều này là do doanh thu của doanh nghiệp giảm khá nhiều, khoản phải thu tuy có giảm nhưng vẫn là quá ít

so với sự sụt giảm của doanh thu

Năm 2020, vòng quay khoản phải thu là 14,409 vòng tăng lên một chút so với năm 2019, kỳ thu tiền bình quân là 24,815 ngày giảm xuống so với năm 2019

Có thể thấy, tỉ số khoản phải thu có sự sụt giảm từ năm 2018 đến năm 2020, năm 2019 đến năm 2020 tuy có tăng trở lại một chút nhưng vẫn còn ít Kỳ thu tiền bình quân do đó tăng lên từ năm 2018 đến 2020, năm 2019 đến 2020 có giảm một chút Những điều này cho thấy khả năng thu hồi công nợ của doanh nghiệp đang gặp vấn đề, một phần nguồn vốn của doanh nghiệp bị chiếm dụng phải mất một khoảng thời gian khá lâu để thu hồi

-Vòng quay tài sản cố định:

Năm 2018: vòng quay tài sản cố định là 4,645 Cho biết 1 đồng tài sản cố định tạo ra 4,645 đồng

Năm 2019: vòng quay tài sản cố định là 3,349 giảm so với năm 2018 1 đồng tài sản cố định tạo ra 3,349 đồng doanh thu

Năm 2020: vòng quay tài sản cố định là 3,420 tăng lên một chút so với năm

2019

Qua trên, ta thấy hiệu quả sử dụng tài sản cố định năm 2018 của doanh nghiệp

là tốt nhất, tình hình kinh doanh khả quan nên khai thác tốt tiềm năng của tài sản

cố định Năm 2019 giảm xuống nhưng năm 2020 lại tăng lên so với năm 2019

Trang 6

thể hiện doanh nghiệp đang có những biện pháp đúng đắn để sử dụng hiệu quả tài sản cố định

-Vòng quay tài sản ngắn hạn:

Năm 2018: vòng quay tài sản ngắn hạn là 2,915 1 đồng tài sản ngắn hạn tạo ra 2,915 đồng doanh thu

Năm 2019: vòng quay tài sản ngắn hạn là 3,093 tăng so với năm trước 1 đồng tài sản ngắn hạn tạo ra 3,093 đồng doanh thu

Năm 2020: vòng quay tài sản ngắn hạn là 3,391 tăng so với năm 2019 1 đồng tài sản ngắn hạn tạo ra 3,391 đồng doanh thu

Ta thấy chỉ số này tăng qua từng năm, cho thấy doanh nghiệp sử dụng khá hiệu quả tài sản ngắn hạn để tạo ra doanh thu

-Vòng quay tổng tài sản:

Năm 2018: vòng quay tổng tài sản là 1,614 1 đồng tài sản tạo ra 1,614 đồng doanh thu

Năm 2019:1 đồng tại sản tạo ra 1,459 đồng doanh thu, giảm so với năm 2018 Năm 2020: 1 đồng tài sản tạo ra 1,587 đồng doanh thu, tăng so với năm 2019 Chỉ số này tốt nhất ở năm 2018 cho thấy đây là năm mà doanh nghiệp sử dụng hiệu quả nguồn vốn của mình trong hoạt động sản xuất kinh doanh để tạo ra doanh thu Chỉ số này giảm xuống qua năm 2019 nhưng có sự phục hồi trở lại trong năm 2020 cho thấy những bước đi đúng trong việc phục hồi lại việc sản xuất kinh doanh

3 Nhóm hệ số đòn bẩy tài chính

lệch

2018-2019

Chênh lệch

2019-2020

1 Tỷ số nợ trên

tổng tài sản

0,758 0,683 0,629 -0,075 -0,054

2 Tỷ số nợ trên

vốn chủ sở hữu

3,126 2,15 1,694 -0,976 -0,456

3 Tỷ số khả năng

trả lãi

1,652 1,619 3,456 -0,033 +1,837

Trang 7

-Đối với tỷ số nợ trên tổng tài sản ( Total-Debt-to-Total-Assets Ratio ), đây là chỉ số tài chính cho biết mức độ mà một công ty đã sử dụng nợ để tài trợ cho tài sản của mình

Năm 2018, tỷ số nợ trên tổng tài sản là 0,758 Cho biết các cổ đông đang nắm giữ 75,8% vốn của công ty, còn lại là vốn của chủ sở hữu

Năm 2019, tỷ số nợ trên tổng tài sản là 0,683 Cho biết các cổ đông đang nắm giữ 68,3% vốn của công ty, còn lại là vốn của chủ sở hữu

Năm 2020, tỷ số nợ trên tổng tài sản là 0,629 Cho biết các cổ đông đang nắm giữ 62,9% vốn của công ty, còn lại là vốn của chủ sở hữu

Như vậy trong 3 năm, tỷ số nợ trên tổng tài sản của công ty có xu hướng giảm, công ty đang dần chủ động hóa về tài sản của chủ sở hữu, khả năng tự chủ của công ty ngày càng cao Tuy nhiên, đây cũng là dấu hiệu công ty chưa tận dụng kênh huy động vốn bằng nợ, tức chưa khai thác tốt đòn bẩy tài chính Trong khi

đó tỷ số nợ trên tổng tài sản của toàn ngành là 0,019 Chứng tỏ công ty đang tận dụng rất tốt ưu điểm vay nợ qua đó những khoản nợ sẽ gánh được một phần lớn thuế thu nhập mà công ty phải trả

nợ D/E, Tỷ số D/E) là một tỷ số tài chính đo lường năng lực sử dụng và quản lý

nợ của doanh nghiệp

Năm 2018, tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu là 3,126 Những năm 2019, 2020 lần lượt là 2,15 và 1,694

Có thể thấy, nợ phải trả chiếm quá nhiều so với nguồn vốn chủ sở hữu có nghĩa

là công ty đi vay mượn nhiều hơn số vốn hiện có, nên công ty có thể gặp rủi ro trong việc trả nợ, đặc biệt là công ty càng gặp nhiều khó khăn hơn khi lãi suất ngân hàng ngày một càng cao Tuy nhiên trong 3 năm gần nhất, tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu của công ty có xu hướng giảm Đây là tín hiệu tốt cho thấy công

ty đang dần làm chủ nguồn tài chính nhưng trái lại họ không còn tận dụng được

ưu điểm vay nợ ( đó là chi phí lãi vay sẽ được trừ vào thuế thu nhập của doanh nghiệp ) Tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu toàn ngành là 0,02 chứng tỏ việc vay vốn so với toàn ngành khá hiệu quả, tuy nhiên đi kèm với nó là rủi ro tương đối trong việc trả nợ

Trang 8

-Đối với tỷ số khả năng trả lãi ( hay tỷ số trang trải lãi vay ) là một tỷ số tài

chính đo lường khả năng sử dụng lợi nhuận thu được từ quá trình kinh doanh để trả lãi các khoản mà công ty đã vay

Năm 2018, tỷ số khả năng trả lãi là 1,652 Cho biết thu nhập của doanh nghiệp cao gấp 1,652 lần chi phí sinh lãi

Năm 2019, tỷ số khả năng trả lãi là 1,619 Cho biết thu nhập của doanh nghiệp cao gấp 1,619 lần chi phí sinh lãi

Năm 2020, tỷ số khả năng trả lãi là 3,456 Cho biết thu nhập của doanh nghiệp cao gấp 3,456 lần chi phí sinh lãi

Dựa vào số liệu 3 năm (2018,2019,2020) tỷ số khả năng trả lãi của công ty khá biến động Từ năm 2019 tỷ số này giảm nhẹ so với năm 2018 nhưng lại tăng vượt trội trong năm 2020 Cũng có thể thấy được khả năng sinh lợi của tài sản công ty khá cao Chứng tỏ năng lực tài chính mà công ty có được đang đáp ứng nhu cầu thanh toán các khoản nợ cho các cá nhân, tổ chức có quan hệ cho công

ty vay hoặc nợ và tạo niềm tin tích cực cho những cổ đông có thể tiếp tục đầu

tư Theo nguồn thông tin được cập nhật gần nhất, tỷ số khả năng trả lãi toàn ngành là 1,4 nên nếu so sánh các dữ liệu với nhau và kết hợp cùng với 2 tỷ số trong bảng thống kê, ta có thể thấy việc rủi ro trong trả nợ là khá thấp; hay nói một cách khác việc công ty tận dụng được nguồn vốn từ việc đi vay mang chiều hướng rất tích cực

4 Nhóm hệ số khả năng sinh lời

lệch

2018-2019

Chênh lệch

2019-2020

1 Tỷ số lợi

nhuận trên

doanh thu

0,844 1,365 2,393 +0,521 +1,028

%

-Đối với tỷ suất sinh lợi nhuận trên doanh thu (Tỷ suất sinh lời trên doanh thu, Suất sinh lời của doanh thu, Hệ số lãi ròng) là một tỷ số tài chính dùng để theo

Trang 9

dõi tình hình sinh lợi của công ty cổ phần Nó phản ánh quan hệ giữa lợi nhuận ròng dành cho cổ đông và doanh thu của công ty

Năm 2018, lợi nhuận của công ty chiếm gần 0,84% trong doanh thu Tức là công ty kinh doanh có lãi

Tương tự, năm 2019 là 1,36% và năm 2020 là 2,39% công ty đều có tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu cao hơn so với năm kế trước và ngày càng gia tăng Giá trị của tỷ suất lợi nhuận càng lớn thì lợi nhuận công ty thu về càng cao Chứng tỏ công ty đang tăng trưởng tốt về mặt lợi nhuận Nhưng nhìn chung, giá trị này vẫn còn kém rất nhiều so với giá trị chung của toàn ngành kim loại công nghiệp

là 8,01% Như vậy công ty đang bán với giá thấp hơn so với các doanh nghiệp khác trong ngành Trong trường hợp này, doanh nghiệp có thể nâng giá bán của mình để tăng tỷ suất lợi nhuận

-Đối với chỉ số ROA: Tỷ số lợi nhuận trên tài sản (hay chỉ tiêu hoàn vốn tổng tài sản, Hệ số quay vòng của tài sản, Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản), thường viết tắt là ROA từ các chữ cái đầu của cụm từ tiếng Anh Return on Assets, là một tỷ

số tài chính dùng để đo lường khả năng sinh lợi trên mỗi đồng tài sản của doanh nghiệp

Năm 2018, chỉ số ROA là 3,11% Cho biết với 1 đồng tài sản đầu tư ban đầu, công ty có thể tạo ra được 0,03 đồng tài sản sau thuế

Năm 2019, chỉ số ROA là 4,46%% Cho biết với 1 đồng tài sản đầu tư ban đầu, công ty có thể tạo ra được 0,04 đồng tài sản sau thuế

Năm 2020, chỉ số ROA là 7,03% Cho biết với 1 đồng tài sản đầu tư ban đầu, công ty có thể tạo ra được 0,07 đồng tài sản sau thuế

Như vậy, trong 3 năm, chỉ số ROA của công ty ổn định trong 1 thời gian dài là dấu hiệu tích cực cho thấy công ty sử dụng tài sản ngày càng hiệu quả và tối ưu các nguồn lực sẵn có Nhìn vào quá khứ có thể thấy công ty quản trị tài sản hiệu quả, có xu hướng hoạt động tốt lên Trong khi trung bình ngành chỉ số ROA chỉ

là 3,71%, vượt trội so với mức trung bình ngành Chứng tỏ công ty đang phát triển và đầu tư đúng hướng

-Đối với chỉ số ROE: ROE là viết tắt của cụm từ tiếng Anh Return On Equity,

có nghĩa là lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu hay lợi nhuận trên vốn Như cái tên của nó, đây là một chỉ số đo lường khả năng sinh lời của một khoản đầu tư trên mỗi đồng vốn bỏ ra

Năm 2018, chỉ số ROE là 9,38% Cho biết với 1 đồng vốn cổ đông bỏ ra, công

ty có thể sinh lời cho họ 0,09 đồng lợi nhuận

Năm 2019, chỉ số ROE là 10,22% Cho biết với 1 đồng vốn cổ đông bỏ ra, công

ty có thể sinh lời cho họ 0,1 đồng lợi nhuận

Trang 10

Năm 2020, chỉ số ROE là 15,31% Cho biết với 1 đồng vốn cổ đông bỏ ra, công

ty có thể sinh lời cho họ 0,15 đồng lợi nhuận

Một công ty tuyệt vời không nhất thiết phải là công ty lớn nhất, mà đó là công

ty đem lại nhiều giá trị nhất cho cổ đông Trong 3 năm (2018, 2019, 2020) công

ty luôn đảm bảo cho cổ đông một khoản sinh lời trên đồng vốn giá trị dương, thậm chí cao hơn so với toàn ngành là 9,09% Mỗi năm, giá trị sinh lời đều cao hơn so với năm trước, chứng tỏ công ty đang sử dụng vốn cổ đông hiệu quả Như vậy giá trị cổ đông nhận được là rất lớn từ công ty

5 So sánh với công ty khác cùng ngành

So sánh chỉ số tài chính của HSG với HPG (Công ty CP Tập đoàn Hòa Phát) trong năm 2020

Tỷ số thanh khoản

Tỷ số thanh khoản hiện thời -0.089

Tỷ số thanh khoản nhanh -0,197

Tỷ số hiệu quả hoạt động

Kỳ thu tiền bình quân -1,081

Ngày đăng: 25/02/2023, 10:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w