1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Các nguyên nhân kinh tế giải thích cho sự hình thành của các mncs

11 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các nguyên nhân kinh tế giải thích cho sự hình thành của các mncs
Trường học University of Social Sciences and Humanities, Vietnam National University Hanoi
Chuyên ngành Kinh tế quốc tế
Thể loại Báo cáo đề tài
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 80,9 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài Các nguyên nhân kinh tế giải thích cho sự hình thành của các MNCs Bài làm 1 Tập đoàn đa quốc gia là gì? Công ty đa quốc gia, viết tắt là MNC ( Multinational corporation ) hoặc MNE ( Multination[.]

Trang 1

Đề tài: Các nguyên nhân kinh tế giải thích cho sự hình thành của các MNCs

Trang 2

Bài làm

1 Tập đoàn đa quốc gia là gì?

Công ty đa quốc gia, viết tắt là MNC ( Multinational corporation ) hoặc MNE ( Multinational enterprises )

- Công ty sản xuất hay cung cấp dịch vụ ở ít nhất 2 quốc gia

- Có ngân sách vượt cả ngân sách nhiều quốc gia

- Anh hưởng đến quan hệ quốc tế

2 Sơ lược về nguồn gốc và quá trình hình thành tập đoàn đa quốc gia

- Tiền thân của các công ty đa quốc gia là các công ty quốc gia

- Những năm 1980 cùng với xu thế hội nhập kinh tế và toàn cầu hóa các công ty quốc gia tiến hành sát nhập với nhau thành công ty đa quốc gia

- Cạnh tranh gay gắt thúc đẩy sự phát triển khoa học kỹ thuật , nhiều ngành

kỹ thuật mới ra đời như công nghệ sinh học , điện tử , người máy đòi hỏi nhiều vốn nhiều kĩ thuật cao cấp Công ty một quôc gia không thể đáp ứng dầy đủ cho nên sự ra đời của công ty đa quốc gia là cần thiết

- Cuối thế kỷ 19: Tập đoàn đa quốc gia đã xuất hiện với tư cách là các bộ phận quan trọng và bền vững của nền kinh tế thế giới

- Làn sóng đầu tiên của các doanh nghiệp đa quốc gia này có sự nổi trội của nước Anh, đất nước xuất khẩu tư bản lớn nhất trên thế giới trong thế

kỷ đó Các công ty của nước Anh đã đầu tư vào các nguồn tài nguyên thiên nhiên và các ngành sản xuất trong Đế quốc Anh, nước Mỹ, châu Mỹ

La tinh, và châu Á

- Vào năm 1914, các nhà đầu tư Anh đã kiểm soát gần một nửa tổng khối lượng đầu tư trực tiếp của nước ngoài trên toàn thế giới, và sản xuất đa

Trang 3

quốc gia lúc đó diễn ra trong nhiều ngành công nghiệp, bao gồm cả hóa chất, dược phẩm, công nghiệp điện, máy móc, ô tô, lốp, và lương thực chế biến

- Các công ty của Mỹ đã bắt đầu đầu tư ra nước ngoài vào cuối thế kỷ 19 Hãng máy khâu Singer đã trở thành công ty đầu tiên của Mỹ thiết lập một

cơ sở sản xuất lâu dài ở nước ngoài khi công ty này mua lại một nhà máy

ở Glasgow, Scotland, vào năm 1867 (Wilkins 1970, 41 – 42) Vào những năm 1920, nước Mỹ đã vượt qua nước Anh trở thành nguồn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài lớn nhất

Sự chi phối của các tập đoàn đa quốc gia Mỹ đã giảm dần kể từ năm 1960

- Mặc dù các tập đoàn đa quốc gia có tầm hoạt động trên toàn thế giới, hoạt động của tập đoàn đa quốc gia chủ yếu được tập trung tại các nước công nghiệp hóa tiên tiến

- Kể từ cuối những năm 1980, các tập đoàn đa quốc gia đang đầu tư mạnh hơn vào các nước đang phát triển Khối lượng vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài đổ vào các nước đang phát triển đã gia tăng từ ¼ lên đến gần ½ tổng

số vốn đầu tư trên toàn thế giới trong giai đoạn từ năm 1980 đến năm 1997

- Theo Liên hợp quốc, một phần tư trong tổng số các công ty mẹ của các tập đoàn đa quốc gia năm 2002 có trụ sở đặt tại các nước đang phát triển Tuy nhiên, một lần nữa thì bước phát triển này chỉ giới hạn trong một số lượng nhỏ các nước đang phát triển, ví dụ như Hồng Công, Trung quốc, Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan, Venezuela, Mê hi cô, và Braxin

 Mặc dù các tập đoàn đa quốc gia có trụ sở tại các nước đang phát triển có quy mô nhỏ, sự xuất hiện của các tập đoàn đa quốc gia này là một sự thay đổi to lớn trong nền kinh tế toàn cầu Sự xuất hiện đó chỉ ra rằng, lần đầu tiên trong lịch sử, một số nước đang phát triển đang thực sự dịch chuyển từ

Trang 4

vị trí chỉ là nơi tiếp nhận các chi nhánh của các tập đoàn đa quốc gia sang vị trí vừa là nơi đặt các chi nhánh của các tập đoàn đa quốc gia và vừa là nơi đặt trụ sở của các tập đoàn đa quốc gia trong nước

Trang 5

3 Nguyên nhân hình thành và hoạt động của các tập đoàn đa quốc gia

Các lợi thế về địa điểm

a Lợi thế về địa điểm khai thác tài nguyên thiên nhiên :

- Các lợi thế này xuất phát từ trữ lượng lớn của một loại tài nguyên thiên nhiên nhất định tại một đất nước khác Mong muốn có được lợi nhuận từ việc khai thác tài nguyên thiên nhiên đó là động lực đầu tiên để quốc tế hóa các hoạt động của một công ty

Ví dụ : các công ty khai thác đồng của Mỹ là Anaconda và Kennecott đã

thực hiện các khoản đầu tư trực tiếp lớn cho các hoạt động khai thác mỏ Chile nhằm tìm kiếm các nguồn nguyên liệu cho sản xuất tại Mỹ …

- Hiện nay , dầu mỏ và khai khoáng chiếm 2% trong số 100 tập đoàn đa quốc gia lớn nhất đang hoạt động Đây là nguồn tài nguyên thiên nhiên

vô cùng quan trọng mà các công ty đa quốc gia đang đầu tư

- Ngoài trữ lượng lớn về tài nguyên thiên nhiên , các công ty đa quốc gia còn xét về các tài sản phụ trợ như : cơ sở hạ tầng cần thiết để hỗ trợ khai thác tại nước tiếp nhận đầu tư ( hệ thống đường sắt hoặc đường biển có thuận lợi để các công ty vận chuyển nguyên liệu thô không ? ); các chi phí của dịch vụ tiện ích như nước và điện

b Lợi thế về đầu tư theo định hướng thị trường :

- Lợi thế này xuất hiện từ các thị trường được tiêu dùng lớn được kỳ vọng

sẽ tăng trưởng nhanh chóng theo thời gian Các loại lợi thế này được tạo

ra thông quan rào cản thuế quan và phi thuế quan khiến các công ty nước ngoài khó có thể xuất khẩu vào thị trường Bằng việc đầu tư vào trong nước các công ty sẽ cơ bản vượt qua được các rào cản đó để sản xuất và bán các sản phẩm của họ vào thị trường trong nước

- Mức độ cạnh tranh sản xuất trong nước được đầu tư cũng là một yếu tố quan trọng sức cạnh tranh của thị trường tại một nước khác càng thấp

Trang 6

hơn bao nhiêu thì sẽ càng dễ cho các tập đoàn đa quốc gia bán các sản phẩm của mình tại nước đó

- Các nước có thị trường rộng lớn và đang tăng nhanh chóng , với ít các công ty bản địa hoạt động trong ngành các công ty đa quốc gia muốn đầu

tư , được bảo hộ chống lại sự cạnh tranh quốc tế là cơ hội đầu tư hấp dẫn cho các tập đoàn đa quốc gia

c Các lợi thế đầu tư theo định hướng hiệu quả:

- Xuất hiện từ sự sẵn có ở mức chi phí thấp đối với các yếu tố sản xuất sử dụng nhiều trong việc sản xuất một sản phẩm cụ thể

- Các công ty mẹ phân bổ các công đoạn khác nhau đến các khu vực khác nhau trên thế giới, đáp ứng mức độ cần có về yếu tố của một công đoạn sản xuất này với sự sẵn có của yếu tố đó tại các quốc gia cụ thể

Ví dụ: Sản xuất máy tính, đồ điện tử: công đoạn thiết kế và chế tạo chíp

thực hiện tại quốc gia có nhiều vốn; công đoạn sản xuất lắp đặt sử dụng nhiều lao động hơn được thực hiện tại các quốc gia dồi dào về lao động

⇒ Lợi thế về địa điểm xuất phát từ sự sẵn có của một yếu tố sản xuất

- Khi khoản đầu tư dự định dựa nhiều vào công nghệ tiên tiến thì sự sẵn có

về đội ngũ các nhà khoa học có trình độ cao là điều quan trọng

- Khi khoản đầu tư được hướng vào sản xuất sử dụng nhiều lao động với ít

kỹ năng thì các nước có lực lượng lao động dồi dào có lợi thế so sánh hơn

Tóm lại: Lợi thế địa điểm tạo ra lý do về kinh tế đối với sự quyết định của một công ty trong việc quốc tế hóa trong các hoạt động của mình, tạo động cơ thúc đẩy một công ty đặt trụ sở tại một quốc gia tiến hành các giao dịch kinh tế với quốc gia khác, qua đó thu được lợi nhuận từ quốc tế hóa của mình

Điều này giúp giải thích tại sao một công ty lại lựa chọn việc tham gia giao dịch kinh tế với quốc gia này hơn quốc gia khác, vì một số nước đưa ra lợi ích tiềm

Trang 7

ẩn trong việc trao đổi xuyên biên giới, trong khi các nước khác lại không như vậy

Các khiếm khuyết của thị trường

a Liên kết theo trục ngang:

- Liên kết theo trục ngang diễn ra khi một công ty thành lập nhiều cơ sở mà mỗi cơ sở trong số đó sản xuất ra một hoặc nhiều loại hàng hóa giống nhau Trong nền kinh tế quốc tế, các tập đoàn đa quốc gia được liên kết theo trục ngang sản xuất ra cùng một loại sản phẩm cho thị trường của nhiều quốc gia

- Ví dụ: Các công ty sản xuất ô tô như Ford, General motors, Volkswagen

và các nhà sản xuất ô tô lớn ở Nhật Bản đều sản xuất các dòng xe giống nhau tại các nhà máy đặt tại Mỹ, Tây Âu và Nhật Bản

- Các công ty liên kết theo trục ngang khi có được lợi thế về chi phí thông qua việc đặt một số nhà máy dưới quyền kiểm soát hành chính chung Các lợi thế về chi phí đó thường xuất hiện nhiều nhất khi các tài sản vô hình là nguồn thu quan trọng nhất của một công ty

- Một tài sản vô hình là thứ mà giá trị của nó bắt nguồn từ tri thức hoặc từ

“một tập hợp các kỹ năng hoặc các cung cách làm việc do yếu tố đầu vào

là con người trong nguồn nhân lực của công ty nắm giữ” Tài sản vô hình

có thể dựa vào một quy trình sản xuất hoặc thiết kế được cấp bằng sáng chế hoặc có thể bắt nguồn từ “tri thức được người lao động trong một công ty chia sẻ”

- Ví dụ: Hãng Microsoft có thể chi phối được ngành công nghiệp phần mềm máy tính toàn cầu một phần là do các lập trình viên của hãng có một hiểu biết sâu sắc về hệ điều hành được sử dụng phần lớn trên các máy tính cá nhân

- Các tài sản vô hình thường làm gia tăng số lượng các công ty liên kết theo trục ngang bởi vì các tài sản đó khó có thể bán hoặc cấp phép được

Trang 8

cho các công ty khác với mức giá phản ánh chính xác giá trị thực của chúng

 Sự thất bại của thị trường xuất hiện bởi vì các chủ sở hữu các tài sản vô hình phải đối mặt với điều được gọi là “nghịch lý nền tảng của thông tin”:

“Giá trị của thông tin đối với người mua không được tiết lộ cho đến khi người mua có được thông tin nhưng sau đó, bên mua có được thông tin đó

mà không cần phải trả tiền” (Teece 1993,172)

- Nói một cách khác, để thuyết minh giá trị đầy đủ của một tài sản vô hình, chủ sở hữu cần phải tiết lộ nhiều thông tin tạo nên giá trị của tài sản đó đến mức mà bên mua tiềm năng không còn cần phải trả tiền để có được tài sản vô hình đó nữa, nếu chủ sở hữu không sẵn sàng tiết lộ thông tin

đó, các bên mua tiềm năng sẽ không biết chắc được giá trị thực sự của tài sản đó và do đó sẽ miễn cưỡng khi trả giá để mua tài sản đó

 Để người chủ sở hữu có thể kiếm được thêm thu nhập từ một tài sản vô hình nào đó thì cách duy nhất có thể làm được đó là lập ra thêm các địa điểm sản xuất - liên kết theo trục ngang và cho phép mỗi cơ sở sản xuất được sử dụng tài sản vô hình mà người đó sở hữu, từ đó có thể thực hiện đầy đủ giá trị của tài sản vô hình mà không cần phải bán ra thị trường

- Vì vậy, việc liên kết theo trục ngang sẽ nội bộ hóa các giao dịch kinh tế trong một công ty vì các tài sản vô hình

b Liên kết theo trục dọc:

- Dùng để chỉ các trường hợp trong đó các công ty nội bộ hóa các giao dịch của họ vì các hàng hóa trung gian Một hàng hóa trung gian là một sản phẩm đầu ra của một quy trình sản xuất phục vụ làm đầu vào cho một quy trình sản xuất khác

- Ví dụ: Công ty dầu mỏ Standard Oil, công ty thống trị ngành dầu mỏ của

Mỹ trong thế kỉ 19 sở hữu các giếng dầu, mạng lưới vận chuyển dầu thô,

từ giếng về nhà máy lọc dầu, các nhà máy lọc dầu và các cửa hàng bán lẻ

Trang 9

các sản phẩm xăng dầu Do đó, mỗi giai đoạn của quy trình sản xuất đều nằm bên trong một cơ cấu thống nhất

- Để lý giải việc nội bộ hóa các giao dịch bên trong một công ty được liên kết theo trục dọc, các nhà kinh tế học đã tập trung vào các vấn đề do các

tài sản hữu hình tạo ra Một tài sản hưu hình là một khoản đầu tư được

sử dụng chuyên biệt cho một mối quan hệ kinh tế dài hạn cụ thể

- Ví dụ: giả định về một chủ công ty vận tải đường biển và một tuyến đường sắt Người chủ công ty vận tải đường biển muốn ngành đường sắt vận chuyển các hàng hóa mà người đó chuyên chở đến các bến tàu ra thị trường Người đó liên hệ đến ngành đường sắt và đề nghị xây dựng một nhánh đường sắt từ trục đường chính đến bến tàu để bên công ty tàu biển

có thể đỡ hàng trực tiếp lên các toa tàu Nếu bên đường sắt đồng ý, thì tuyến đường nhánh này sẽ được sử dụng chuyên để vận chuyển các hàng hóa của người chủ công ty vận tải đường biển đó ra trục đường sắt chính Nói một cách khác, tuyến đường nhánh này là một tài sản - một khoản đầu tư sẽ tạo ra lợi nhuận

- Các tài sản hữu hình tạo ra các động cơ đối với việc liên kết theo trục dọc bởi vì :

 Việc lập và thực hiện các hợp đồng dài hạn là điều khó khăn

 Sự tồn tại của một tài sản hữu hình tạo ra các khả năng về hành vi

cơ hội khi khoản đầu tư đó đã được thực hiện:

 Một bên trong mối quan hệ dài hạn đó có thể lợi dụng tính chất cụ thể của tài sản đó để thu được nhiều giá trị hơn từ giao dịch giữa hai bên

- Vấn đề này sẽ không còn nữa nếu việc thực hiện hợp đồng ban đầu không

có phí tốn Thế nhưng, ngay cả khi hệ thống tư pháp thực thi các hợp đồng, các phí tốn pháp lý liên quan đến tranh chấp, có thể là một khoản tiền lớn

Trang 10

- Nhận thức rằng, tính chất cụ thể của tài sản tạo ra động cơ cho hành vi có tính chất cơ hội sau khi đầu tư đã được thực hiện có thể khiến các tác nhân kinh tế từ chối thực hiện các khoản đầu tư

 Do đó, bằng việc nội bộ hóa các giao dịch liên quan đến các tài sản cố định, việc liên kết theo trục dọc cho phép thực hiện các khoản đầu tư cải thiện phúc lợi, nếu không có hình thức tích hợp này thì sẽ không thể thực hiện được

4 Mối quan hệ tương tác giữa các lợi thế về địa điểm và các khiếm khuyết của thị trường đã định hình các loại hình công ty như thế nào (trang 343 -346)

Các tập đoàn đa quốc gia vẫn xuất hiện khi có các lợi thế về địa điểm hay ngay cả khi gặp các khiếm khuyết về thị trường Các lợi thế về địa điểm sẽ đem lại lợi nhuận cho các tập đoàn đa quốc gia, còn khiếm khuyết của thị trường lại biến thành cơ hội khi công ty biết vận dụng trong các giao dịch bên trong cơ cấu doanh nghiệp duy nhất

● Khi xuất hiện các lợi thế về địa điểm và các tài sản vô hình (tài sản vô hình xuất phát từ tri thức về quá trình sản xuất) thì các tập đoàn đa quốc gia được liên kết theo trục ngang Trường hợp này thường hiện diện trong

Trang 11

lĩnh vực chế tạo Tây Âu và Mỹ có những thị trường rộng lớn dành cho mặt hàng ô tô, sử dụng các hạn chế xuất khẩu tự nguyện để hạn chế nhập khẩu từ các nhà sản xuất ô tô tại các nước khác Sự kết hợp của các khiếm khuyết thị trường cùng với các lợi thế về địa điểm trong ngành sản xuất ô tô đã đưa vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài có quy mô đáng kể của tất cả các nhà sản xuất ô tô lớn vào thị trường châu Âu và Mỹ

● Khi xuất hiện các lợi thế về địa điểm và các tài sản hữu hình (tài nguyên thiên nhiên, chi phí sản xuất, ) thì các tập đoàn đa quốc gia được liên kết theo trục dọc Những rủi ro về nguồn cung dầu sẽ làm gián đoạn hoạt động của những nhà máy lọc dầu và các mạng lưới phân phối dầu của nhà máy Do đó, một nhà máy lọc dầu phải giao dịch với các công ty khoan thăm dò giếng dầu để giành được quyền tiếp cận chắc chắn đối với các tài nguyên thiên nhiên trong ngành công nghiệp dầu mỏ

● Khi xuất hiện các lợi thế về địa điểm nhưng không hiện diện các tài sản

vô hình hay hữu hình thì không có sự hoạt động đáng kể của các tập đoàn

đa quốc gia

● Bên cạnh đó, các tập đoàn đa quốc gia cũng không có sự hoạt động đáng

kể trong các ngành có những tồn tại về khiếm khuyết của thị trường và đồng thời thiếu vắng các lợi thế về địa điểm

Việc thành lập các tập đoàn đa quốc gia thường thấy nhiều nhất là kết quả của việc doanh nghiệp cân nhắc về lợi thế địa điểm và các khiếm khuyết của thị trường Khi các lợi thế về địa điểm và các khiếm khuyết của thị trường cũng hiện diện ta sẽ thấy sự xuất hiện của các tập đoàn đa quốc gia (các công ty thực hiện các giao dịch bên trong công ty với phạm vi xuyên quốc gia)

Ngày đăng: 25/02/2023, 10:19

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w