1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Phân tích ảnh hưởng của covid 19 trong thị trường vĩ mô việt nam (thị trường hàng hóa, lao động và vốn)

10 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích ảnh hưởng của covid 19 trong thị trường vĩ mô Việt Nam (thị trường hàng hóa, lao động và vốn)
Tác giả Nguyễn Thị Thùy Linh
Người hướng dẫn Phạm Thanh Sơn
Trường học Đại học quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Kinh tế vĩ mô
Thể loại Báo cáo tốt nghiệp
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 498,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ Học phần Kinh tế vĩ mô Giảng viên hướng dẫn Phạm Thanh Sơn Sinh viên thực hiện Nguyễn Thị Thùy Linh Lớp 18J9 KT Mã sinh viên 18040948 Hà Nội, ngày 14 tháng 05[.]

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ

Học phần: Kinh tế vĩ mô

Giảng viên hướng dẫn : Phạm Thanh Sơn Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Thùy Linh Lớp : 18J9.KT

Mã sinh viên : 18040948

Hà Nội, ngày 14 tháng 05 năm 2021

Trang 2

1 Phân tích ảnh hưởng của covid 19 trong thị trường vĩ mô Việt Nam (thị trường hàng hóa, lao động và vốn)

a) Thị trường vốn – tiền tệ:

- Ngân hàng nhà nước hạ đồng loạt các loại lãi suất

điều hành từ 0,25 – 1 điểm phần trăm

- Quý I năm 2020, cung tiền M2 tăng 1,55%; huy

động tăng 0,51%; tín dụng tăng 0,68% (yoy), thấp

nhất trong vòng 3 năm

- Ngân hàng nhà nước đặt mục tiêu tăng trưởng tín

dụng 9-14% (~900 nghìn tỷ) Đây là mục tiêu khá

tham vọng trong bối cảnh kinh tế suy giảm

- 2 triệu tỷ đồng có nguy cơ rơi vào nợ xấu, kéo lùi

những thành quả cải thiện sức khỏe hệ thống ngân hàng trong những năm qua

- Vốn FDI thực hiện giảm 5%; vốn FDI đăng ký mới và điều chỉnh và góp vốn, mua

cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài giảm 23,6% so với cùng kỳ năm 2019 Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 8,3% (cùng kỳ tăng 9,3%); vận tải hành khách tăng 3,8% (cùng kỳ tăng 10,2%) Khách quốc tế tăng 4,8%, mức tăng thấp nhất của 2 tháng các năm 2016-2020 Chỉ số giá tiêu dùng tháng 2 và bình quân 2 tháng đầu năm 2020 so với cùng kỳ năm trước (tăng 5,4% và 5,91%); mức tăng cao nhất trong 7 năm qua

b) Thị trường hàng hóa:

Ở đây, ta sẽ phân ra thành 4 lĩnh vực chính gồm: nông sản, nguyên liệu công nghiệp, kim loại và năng lượng với chỉ số tại thị trường Việt Nam cùng xuất nhập khẩu:

- Nông sản: Đây là cơ hội và thách thức đối với Việt Nam trong bối cảnh dịch bệnh bùng phát

+ Một số mặt hàng chịu thiệt hại hàng loạt do ảnh hưởng dịch covid 19:

 Xuất khẩu cá tra đánh dấu năm thứ 2 giảm liên tiếp

 Hồ tiêu chịu thiệt hại kép

 Nhu cầu tiêu thụ café giảm

+Với kinh tế thị trường, khủng hoảng thừa trong sản xuất, kinh doanh là chuyện bình thường Tuy nhiên, một số sản phẩm năm nào đến mùa thu hoạch cũng lâm vào khủng hoảng thừa như dưa hấu, thanh long, caphe…rồi lại phải hô hào cộng đồng “giải cứu”,

Trang 3

còn nông dân thì lặp đi lặp lại chu trình “chặt - trồng”, “trồng - chặt” như ở nước ta thì

đó lại là điều bất thường

Tình trạng này không chỉ làm cho nông dân điêu đứng, nhiều người bị phá sản mà còn làm cho đất nước mất đi một khối lượng sản phẩm lớn, ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành nông nghiệp và cả nền kinh tế quốc gia

+ COVID-19 đã làm đứt gãy nhiều chuỗi cung ứng nông sản, giá lương thực tăng, trong đó có giá gạo Ở một số nước như giá cả lương thực tăng mạnh như Ác-hen-ti-na tăng 39%, Myanmar tăng 30% đây là thiệt thòi lớn cho các quốc gia này nhưng lại là

cơ hội cho các nước xuất khẩu lương thực, nông sản như Việt Nam

Việc đứt gãy các chuỗi cung ứng lương thực trên thế giới, đặc biệt là gián đoạn các hoạt động trồng trọt, logistic trong bối cảnh dịch COVID-19 khiến Trung Quốc không còn là thị trường xuất khẩu nông sản lớn nhất của Việt Nam Ngành nông sản Việt Nam đã tiếp cận nhanh với các thị trường giàu tiềm năng và có yêu cầu cao như

Mỹ, EU, Nhật Bản đây là cơ hội lớn của Việt Nam, đồng thời cũng yêu cầu Việt Nam tiếp tục nâng cao chất lượng nông sản, an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc

+ Ngay cả khi chịu tác động bởi dịch COVID-19 nhưng nhiều ngành vẫn ghi nhận tăng trưởng dương trong năm 2020

 5 tháng liên tiếp kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ đạt trên 1 tỉ USD 1 tháng

 Gạo là điểm sang của xuất khẩu nông sản

 Xuất khẩu tôm dự kiến tăng hơn 12% trong năm 2020

+ Kết quả: Kết thúc năm 2020, kim ngạch thương mại hai chiều cả nước đạt khoảng

541 tỷ USD, ngành Nông nghiệp đóng góp xuất khẩu tới 41,2 tỷ USD và được đánh giá là 1 trong 5 quốc gia trên thế giới có dòng thương mại mạnh nhất

- Nguyên liệu công nghiệp: (hạt tiêu, cà phê, bông…)

Bảng bên phải là đồ họa thể hiện kim ngạch xuất khẩu của một số mặt hàng nông sản chính của Đồng Nai trong 10 tháng của năm 2020 và

mức tăng trưởng so với cùng kỳ năm ngoái Nguồn:

Cục Thống kê Đồng Nai (Thông tin: Bình Nguyên - Đồ

họa: Hải Quân)

Tính riêng 1 tỉnh chuyên các sản phẩm nông nghiệp, đó

là theo Cục Thống kê Đồng Nai, trong 10 tháng của năm

2020, một số mặt hàng nông sản xuất khẩu chính của

Trang 4

Đồng Nai như: tiêu, điều, cà phê, cao su vẫn giữ được mức tăng trưởng dù thị trường xuất khẩu chung bị ảnh hưởng nặng nề bởi dịch Covid-19 Cụ thể, xuất khẩu cà phê đạt gần 378 triệu USD, tăng gần 16,6% so cùng kỳ năm ngoái; hạt tiêu đạt hơn 33,4 triệu USD, tăng gần 6,3%; cao su đạt hơn 54,6 triệu USD, tăng gần 6%

- Kim loại: Một trong những ngành chịu ảnh hưởng lớn trong bối cảnh dịch bệnh covid 19 bùng phát chính là ngành thép

Năm 2019, tăng trưởng về sản phẩm và tiêu thụ lần lượt chỉ đạt 4,4% và 6,4%, thấp hơn nhiều so mức tăng trưởng hai con số là 14,9% và 20,9% vào năm 2018

Đồng thời, tình hình xuất khẩu sắt thép gặp không ít khó khăn do thị trường xuất khẩu đang dần bị thu hẹp, áp lực cạnh tranh về giá ngày càng gay gắt ngay ở khu vực Đông Nam Á Năm 2019, xuất khẩu sắt thép đạt hơn 6,6 triệu tấn, kim ngạch đạt hơn 4,2 tỷ USD, tăng 6,6% về lượng, nhưng giảm 7,4% về kim ngạch và 13,2% về giá so cùng

kỳ năm 2018

Ngay từ đầu năm 2020, VSA đã dự báo xu hướng khó khăn, thách thức với ngành thép

sẽ còn tiếp tục gia tăng bởi xu thế bảo hộ trên thị trường quốc tế, thị trường bất động sản, xây dựng trong nước chưa có tín hiệu khởi sắc Đặc biệt, ngay từ đầu năm, dịch Covid-19 đã tác động mạnh đến ngành thép trong nước cả ở sản xuất và tiêu thụ sản phẩm

Cụ thể, tiêu thụ sản phẩm thép xây dựng trong 2 tháng đầu năm 2020 chỉ đạt khoảng 65% so với cùng kỳ năm trước, xuất khẩu bằng 80% Với mặt hàng tôn mạ kim loại và sơn phủ màu tiêu thụ trong nước đạt gần 70%, xuất khẩu bằng 60%; thép cán nguội bằng 87% và xuất khẩu 43,7% so với cùng kỳ năm 2019

Về nhập khẩu, do ảnh hưởng của chuỗi cung ứng, khi các thị trường trên thế giới đều nằm trong tình trạng kiểm soát bệnh dịch, khiến nguồn nguyên liệu phục vụ cho sản xuất của ngành thép bị gián đoạn, đặc biệt là các thị trường Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản

Qua đây, ta có thể thấy trước đây các mặt hàng nguyên liệu, vật tư, trang thiết bị của công ty nước ta chủ yếu nhập từ Trung Quốc thì hiện nay đã bị ngừng trệ, tồn kho than cốc hiện rất thấp, không đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất, tiêu thụ quặng sắt trong nước Xuất khẩu phôi thép của công ty cũng bị ngưng trệ, thời gian tới sẽ vẫn gặp nhiều khó khăn

- Năng lượng: Một vấn đề nhức nhối nổi lên trong thời gian dịch bệnh

bùng phát trên toàn thế giới đó là giá dầu giảm Ở đây, tôi sẽ phân tích về

việc giá dầu thô trên thế giới giảm sẽ ảnh hưởng tới Việt Nam như thế

nào Do Việt Nam là nước xuất khẩu dầu thô và nhập khẩu xăng dầu

Trang 5

thành phẩm, giá dầu sụt giảm sẽ ảnh hưởng không nhỏ, bao gồm cả khía

cạnh tích cực và tiêu cực

+ Tích cực: Giá dầu thô giảm tác động tích cực đối với hoạt động của doanh nghiệp, giúp làm giảm chi phí đầu vào đối với sản xuất trong nước, hạ chi phí vận tải cho doanh nghiệp Nhóm vận tải được hưởng lợi lớn nhất do xăng dầu chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu chi phí vận tải Việc giảm chi phí vận chuyển này giúp tăng tính cạnh tranh cho hàng hóa Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh chúng ta đang ngày càng mở cửa hơn với khu vực và thế giới qua việc ký kết một loạt các hiệp định thương mại đa phương và song phương gần đây Ngoài ra, giá dầu thô giảm giúp số đông người dân

có thể tiết kiệm được chi phí đi lại, từ đó tăng sức mua, kích thích tiêu dùng, tạo cơ hội thúc đầy nền kinh tế Thêm vào đó, lạm phát được kiểm soát ở mức thấp, giúp ổn định nền kinh tế vĩ mô và hấp dẫn các hoạt động đầu tư Giá dầu thô giảm mạnh cũng làm giảm việc chi ngoại tệ cho nhập khẩu xăng dầu, gas và các sản phẩm khác từ hóa dầu, góp phần tăng dự trữ ngoại tệ của Ngân hàng Nhà nước

+ Về tác động tiêu cực, giá dầu thế giới giảm khiến nguồn thu từ xuất khẩu dầu thô của Việt Nam giảm Cũng phải nói rằng, những năm gần đây, sản lượng xuất khẩu dầu thô của nước ta vốn cũng đang có chiều hướng giảm mạnh, dẫn đến tỷ trọng đóng góp của nguồn thu từ dầu thô cho ngân sách nhà nước đã đang trên đà đi xuống mạnh (Đồ thị dưới đây) Vì vậy, tác động tiêu cực này có lẽ cũng không quá đáng kể Thị trường chứng khoán cũng sẽ bị ảnh hưởng do nhóm cổ phiếu doanh nghiệp ngành dầu khí có thể đi xuống (hoạt động thu hút đầu tư cho nhóm ngành này sẽ giảm đi)

c) Thị trường lao động:

- Cả nước có 32,1 triệu người từ 15 tuổi trở lên bị ảnh hưởng tiêu cực bởi dịch

Covid-19

Tính đến tháng 12 năm 2020, cả nước có 32,1 triệu người từ 15 tuổi trở lên bị ảnh hưởng tiêu cực bởi dịch Covid-19 bao gồm người bị mất việc làm, phải nghỉ giãn việc/nghỉ luân phiên, giảm giờ làm, giảm thu nhập,… Trong đó, 69,2% người bị giảm

Trang 6

thu nhập, 39,9% phải giảm giờ làm/nghỉ giãn việc/nghỉ luân phiên và khoảng 14,0% buộc phải tạm nghỉ hoặc tạm ngừng hoạt động sản xuất kinh doanh

Khu vực dịch vụ chịu ảnh hưởng nặng nề nhất bởi dịch Covid-19 với 71,6% lao động

bị ảnh hưởng, tiếp đến là khu vực công nghiệp và xây dựng với 64,7% lao động bị ảnh hưởng; tỷ lệ lao động bị ảnh hưởng trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản là 26,4%

- Lực lượng lao động tiếp tục tăng theo đà hồi phục của quý III năm 2020 nhưng vẫn chưa thể trở về trạng thái ban đầu khi chưa có dịch

Tính chung năm 2020, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên đạt 54,6 triệu người, giảm 1,2 triệu người so với năm 2019 Trong giai đoạn 2016-2019, trung bình mỗi năm lực lượng lao động tăng 0,8% Nếu lực lượng lao động năm 2020 duy trì tốc độ tăng như giai đoạn 2016-2019 và không có dịch Covid-19, nền kinh tế Việt Nam sẽ có thêm 1,6 triệu lao động Nói cách khác, dịch Covid-19 có thể đã tước đi cơ hội tham gia thị trường lao động của 1,6 triệu người

- Dịch Covid-19 đã đẩy nhiều lao động vào tình trạng không có việc làm đồng thời khiến cho nhiều người trong số họ buộc phải trở thành lao động có việc làm phi chính thức

- Hiện nay vẫn còn một bộ phận không nhỏ lực lượng lao động tiềm năng chưa được khai thác, đặc biệt là nhóm lao động trẻ; việc tận dụng nhóm lao động này trở nên hạn chế hơn trong bối cảnh dịch Covid-19

- Kết luận:

+ Đại dịch Covid-19 khiến thị trường lao động Việt Nam gặp nhiều sóng gió với hàng triệu người lao động bị ảnh hưởng tiêu cực do mất việc làm, phải nghỉ giãn việc/nghỉ luân phiên, giảm giờ làm, giảm thu nhập,… Lần đầu tiên trong 10 năm qua, nền kinh

tế Việt Nam chứng kiến sự sụt giảm nghiêm trọng về số người tham gia thị trường lao động và số người có việc làm Thu nhập bình quân của người lao động cũng theo đó bị thâm hụt Các chỉ tiêu về tỷ lệ thất nghiệp, tỷ lệ thiếu việc làm và tỷ lệ lao động có việc làm phi chính thức đều tăng cao trái ngược hẳn với xu thế giảm trong các năm gần đây Tuy nhiên, với quyết tâm của Chính phủ và sự đồng lòng gắng sức của nhân dân, tình hình lao động việc làm trong những tháng cuối năm 2020 đã được cải thiện đáng kể Kết quả này góp phần vừa thực hiện mục tiêu phòng chống dịch vừa đảm bảo tăng trưởng kinh tế và phát triển đất nước

+ Kết quả Điều tra lao động việc làm các quý năm 2020 cho thấy dịch Covid-19 đã tác động tiêu cực đến người lao động trong việc tham gia thị trường lao động và tạo thu nhập từ việc làm Với diễn biến phức tạp của dịch Covid-19, đặc biệt là biến thể mới

Trang 7

của vi rút gây mức độ lây lan nhanh chóng như hiện nay, dự báo ảnh hưởng của dịch tới đời sống và sản xuất sẽ rất khó lường trong thời gian tới Điều này cần sự can thiệp chủ động kịp thời với các giải pháp của chính phủ

2 Chính phủ Việt Nam đã có những chính sách kinh tế vĩ mô gì để đối phó với những ảnh hưởng này (tập trung vào chính sách tiền tệ và tài khóa)

Trong bối cảnh đại dịch gây ra sự dừng lại đột ngột trong sản xuất, tiêu dùng và dịch

vụ, chính sách tiền tệ có thể có tác dụng rất ít để bù đắp ngay Tuy nhiên, do đại dịch kéo dài và quy mô tác động lớn hơn nhiều so với dự kiến đã dẫn đến sự kéo dài về thời gian và quy mô của các gói hỗ trợ, sự phối hợp lẫn nhau và việc đồng thời phải triển khai các gói hỗ trợ của các cơ quan hoạch định chính sách tài khóa và tiền tệ đã làm cho "sự khác biệt giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa trở nên mờ nhạt" Thực hiện chỉ đạo của Trung ương, Quốc hội và Chính phủ về phát triển kinh tế - xã hội, Bộ Tài chính đã và đang tích cực đồng bộ triển khai các giải pháp tài khoá để ứng phó với đại dịch COVID-19:

- Theo đại diện cơ quan thuế, thời gian qua có loạt cơ chế, chính sách được Bộ Tài chính chủ động tham mưu trình Chính phủ như: Nghị định 41/2020/NĐ-CP về gia hạn thời hạn nộp thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân

và tiền thuê đất cho các doanh nghiệp và hộ kinh doanh; nâng mức giảm trừ gia cảnh thuế thu nhập cá nhân; miễn thuế nhập khẩu đối với vật tư, thiết bị y tế phục vụ phòng chống dịch COVID-19; giảm 30% mức thuế bảo vệ môi trường đối với nhiên liệu bay; giảm 50% lệ phí trước bạ, giãn thuế tiêu thụ đặc biệt đối với ô tô sản xuất hoặc lắp ráp trong nước tới hết năm 2020…

- Về mặt xây dựng thể chế, cơ quan thuế trình Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Quốc hội khóa XIV xem xét, ban hành chính sách thuế giá trị gia tăng mới đối với mặt hàng phân bón để tạo thêm nguồn lực hỗ trợ, phát triển doanh nghiệp sản xuất phân bón Từ ngày 1/7/2020, Luật Quản lý thuế chính thức đi vào cuộc sống, với những đổi mới, cải cách tạo bước tiến quan trọng, quy định thống nhất chính sách quản lý thu, nâng cao tính minh bạch, tạo thuận lợi cho người nộp thuế, thay đổi căn bản phương thức quản lý thuế…

- Với mục tiêu cải cách hành chính và xây dựng Chính phủ điện tử, tạo thuận lợi cho

DN, Bộ Tài chính đã tiếp tục đẩy mạnh triển khai các ứng dụng quản lý thuế hiện đại, tạo thuận lợi cho người nộp thuế: Đã cung cấp 194 dịch vụ công trực tuyến (DVCTT) mức độ 3, 4 trên trang thông tin điện tử của Tổng cục Thuế và 63 Cục Thuế, trong đó

đã tích hợp 150 thủ tục hành chính (TTHC) qua Cổng dịch vụ công quốc gia với số hồ

sơ đã đồng bộ trạng thái lên Cổng quốc gia là hơn 10,6 triệu hồ sơ; hệ thống khai thuế

Trang 8

điện tử đã được triển khai tại 63/63 Cục Thuế, 100% Chi cục Thuế trực thuộc và đã có hơn 794.000 doanh nghiệp tham gia sử dụng dịch vụ khai thuế điện tử (chiếm khoảng 99,32% doanh nghiệp đang hoạt động) với số lượng hồ sơ đã tiếp nhận là hơn 11,28 triệu hồ sơ

Ngành thuế đã kết nối dữ liệu thành công với 7 Ngân hàng thương mại để cung cấp dịch vụ nộp thuế điện tử cho cá nhân thông qua các kênh thanh toán Internet Banking, Mobile Banking với số tài khoản giao dịch thuế điện tử đã cấp là hơn 208.600 tài khoản, số tờ khai đã gửi đến cơ quan thuế là 110.200 tờ khai; hỗ trợ các doanh nghiệp tham gia thí điểm hóa đơn điện tử có mã xác thực của cơ quan thuế tại Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và Đà Nẵng; đã triển khai lệ phí trước bạ điện tử đối với ô tô, xe máy tại 2 Cục Thuế TP Hà Nội và TPHCM

Để tháo gỡ những khó khăn về thuế liên quan đến hàng hóa xuất nhập khẩu do ảnh hưởng của dịch bệnh COVID-19, Tổng cục Hải quan đã chủ động rà soát, xây dựng và tham mưu các cấp có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo hướng tạo thuận lợi cho doanh nghiệp

Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ Tổng cục Hải quan đã khẩn trương phối hợp trình Bộ Tài chính danh mục các mặt hàng được miễn thuế nhập khẩu phục vụ phòng, chống dịch viêm đường hô hấp cấp do dịch COVID-19; trình Chính phủ ban hành Nghị quyết số 169/NQ-CP ngày 11/11/2020 liên quan đến chính sách thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp khi tài trợ máy thở để phòng, chống đại dịch COVID-19

Hiện Tổng cục Hải quan đang tiếp tục phối hợp với các đơn vị liên quan trình Bộ Tài chính ban hành danh mục linh kiện nhập khẩu để sản xuất máy thở phục vụ phòng, chống dịch Ngành hải quan sẽ không ngừng đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính theo hướng đơn giản, rõ ràng, minh bạch, công khai, thuận tiện và thống nhất, phù hợp với các chuẩn mực quốc tế về hải quan, tạo thuận lợi hơn nữa cho hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh hàng hoá, phương tiện vận tải; giảm chi phí, thời gian của người dân và doanh nghiệp trong việc thực hiện thủ tục hải quan; Tiếp tục mở rộng việc ký kết nộp thuế điện tử với các ngân hàng thương mại theo Đề án nộp thuế 24/7 Hải quan sẽ rút ngắn hơn nữa thời gian thông quan, giải phóng hàng hóa Cụ thể, tăng cường trang bị máy móc, thiết bị hỗ trợ công chức hải quan trong quá trình kiểm tra thực tế hàng hóa, giám sát việc vận chuyển hàng hóa, như: máy soi container; cắt giảm các trường hợp phải lấy mẫu để phân tích, giám định, phân loại hàng hóa; rút ngắn thời gian trả mẫu, nâng tỉ lệ thông báo kết quả phân tích, phân loại trước hạn và đúng hạn

Trang 9

- Dưới góc độ đơn vị phối hợp, các ngân hàng như Vietinbank, Vietcombank đã hợp tác với Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế, Kho bạc Nhà nước để triển khai dịch vụ nộp thuế điện tử Với dịch vụ này, người nộp thuế có thể thực hiện nộp thuế mọi lúc, mọi nơi và theo dõi được tình hình nộp NSNN qua tài khoản và được sử dụng các dịch vụ gia tăng ưu đãi của ngân hàng Qua đó, dịch vụ nộp thuế điện tử sẽ góp phần thực hiện mục tiêu cải cách hành chính ngành Thuế và có ý nghĩa lớn trong việc đẩy mạnh phát triển xã hội điện tử và Chính phủ điện tử của Việt Nam

Đại diện Bộ Tài chính cho biết, trong thời gian tới, Bộ Tài chính sẽ tiếp tục hoàn thiện thể chế, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, nỗ lực tháo gỡ khó khăn cho sản xuất - kinh doanh, các giải pháp tài khóa, thuế, phí được tích cực nghiên cứu, rà soát để trình cấp có thẩm quyền quyết định nhằm tạo thuận lợi tối đa cho doanh nghiệp tiết giảm chi phí, vượt qua những khó khăn do đại dịch COVID-19 gây ra

Để tiếp tục hỗ trợ doanh nghiệp, người dân và thúc đẩy sản xuất kinh doanh, trên cơ sở đánh giá, tổng kết quá trình thực hiện các giải pháp đã ban hành, Bộ Tài chính đang tiếp tục theo dõi sát tình hình thực tế để nghiên cứu việc xây dựng và triển khai các giải pháp hỗ trợ tiếp theo, theo hướng kéo dài thêm thời gian áp dụng đối với một số giải pháp hỗ trợ chủ yếu đã thực hiện như: tiếp tục giảm thuế bảo vệ môi trường đối với nhiên liệu bay trong năm 2021 để hỗ trợ ngành hàng không; rà soát cắt giảm phí,

lệ phí nhằm giảm chi phí cho doanh nghiệp, người dân; bên cạnh đó, Bộ Tài chính cũng đang tổng kết, đánh giá việc thực hiện các giải pháp đã ban hành để đề xuất các giải pháp phù hợp với diễn biến thực tế

Bộ Tài chính cũng sẽ tiếp tục hoàn thiện thể chế, đẩy mạnh công tác cải cách thủ tục hành chính trên mọi lĩnh vực của ngành, đặc biệt là các lĩnh vực thuế, hải quan, chú trọng hiện đại hoá công tác quản lý thu thuế, tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, minh bạch, tạo thuận lợi trong việc thực hiện các nghĩa vụ thuế với ngân sách nhà nước

3 Trình bày cơ chế ảnh hưởng của các chính sách can thiệp của chính phủ, đánh giá tác dụng phụ có thể có trong ngắn hạn và dài hạn

Tác dụng phụ có thể có trong ngắn hạn và dài hạn:

- Việt Nam có rất ít dư địa tiền tệ và tài khóa Các chính sách hỗ trợ lợi nhuận hoặc hàng hóa xa xỉ là chưa phù hợp, cần được thiết kế lại Các chính sách hỗ trợ thông qua giảm mức thu các loại phí, lệ phí nếu dàn trải sẽ ảnh hưởng đến ngân sách, cần thu hẹp đối tượng thụ hưởng dựa trên mức độ chịu tác động bởi đại dịch

Liên quan đến các công cụ của chính sách tiền tệ, các nỗ lực chính sách nên tập trung vào việc cắt giảm lãi suất cho vay hơn là lãi suất huy động Số doanh nghiệp tiếp cận

Trang 10

và được hỗ trợ tiền tệ còn hạn chế so với mục tiêu đặt ra Do vậy, các chính sách hỗ trợ cần rõ ràng, minh bạch và các rào cản không cần thiết cần được rà soát gỡ bỏ Bên cạnh đó, do dịch diễn biến khó lường, các các gói an sinh xã hội cho các đối tượng bị ảnh hưởng cần được tiếp tục duy trì và tháo gỡ, đẩy nhanh tiến độ giải ngân các gói hỗ trợ

Song hành với những chính sách mang tính ngắn hạn đang thực hiện nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực của COVID-19, Việt Nam nên kiên trì với những cải cách dài hơi hơn để cải thiện nền tảng vĩ mô và giảm thiểu rủi ro trong tương lai Những giải pháp mang tính dài hạn để chuyển đổi căn bản mô hình tăng trưởng, gia tăng chất lượng tăng trưởng cần được kiên quyết thực hiện với quyết tâm chính trị cao nhất Theo đó, nền kinh tế mới có thể duy trì sản xuất trong đại dịch, hồi phục nhanh chóng sau đại dịch và tiến tới phát triển bền vững

Cần đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng dựa vào công nghệ - đổi mới sáng tạo,

có tư duy chấp nhận rủi ro và khuyến khích tinh thần khởi nghiệp

Tận dụng và khai thác lợi thế của người đi sau, tăng cường sử dụng công nghệ cao thông qua trực tiếp nhập khẩu, mua bán bản quyền, thuê bao sản phẩm từ nước ngoài, tăng cường khởi nghiệp sáng tạo và chuyển giao công nghệ từ các doanh nghiệp FDI Các chuyên gia cũng khuyến nghị khẩn trương hoàn thiện thể chế, xây dựng Nhà nước kiến tạo, phát triển, liêm chính và hành động Tôn trọng và bảo vệ sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, phát triển kinh tế tư nhân, tăng cường liên kết DN

Kinh tế trưởng của WB Jacques Morisset cho rằng, vấn đề của Việt Nam hiện nay không hẳn là làm bao nhiêu mà là “phải làm hiệu quả hơn” Doanh nghiệp kỳ vọng các chính sách hỗ trợ cần minh bạch, dễ tiếp cận hơn, đồng thời kiểm soát tốt, chống lại tham nhũng, trục lợi chính sách

Chuyên gia WB cũng khuyến nghị để thúc đẩy tăng trưởng trong bối cảnh đại dịch, Việt Nam cần hết sức chú ý đến yếu tố “xanh”, chống ô nhiễm môi trường, đặc biệt là vấn đề không khí, phát tiển năng lượng tái tạo, để phát triển bền vững

Trong việc thực hiện thành công mục tiêu kép vừa qua, có thể thấy rõ sự hiện diện của chuyển đổi số.Về cơ hội chuyển mình của nền kinh tế, muốn làm tốt kinh tế số trước tiên phải có cơ sở dữ liệu tốt, trong khi việc xây dựng cơ sở dữ liệu khá chậm so với yêu cầu Dù đã thành công bước đầu, bắt nhịp dần với xu thế chung nhưng Việt Nam vẫn cần hoàn thiện khuôn khổ pháp lý hơn nữa cho kinh tế số.Đảng và Nhà nước đưa

ra định hướng về các quá trình chuyển đổi số Chuyển đổi số không chỉ cần công nghệ, thị trường, thể chế mà để thành công cần có sự tham gia hiệu quả của người dân và được thụ hưởng

Ngày đăng: 25/02/2023, 10:16

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w